Bản án số 22/2021/DS-ST ngày 12/07/2021 của TAND huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 22/2021/DS-ST ngày 12/07/2021 của TAND huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Hòa Bình (TAND tỉnh Bạc Liêu)
Số hiệu: 22/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/07/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: công nhận thỏa thuận
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HB
TỈNH BẠC LIÊU
Bản án số: 23/2021/DS-DS
Ngày: 12-7-2021
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.
CỘNG A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIT NAM
Độc lập - T do - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HB, TỈNH BẠC LIÊU
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tài Em
2. Ông Dương Văn Hậu
- Thư phiên tòa: Phan Thị Mỹ Ghết, Thư a án nhân dân huyện
HB.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên
toà: Ông Văn Hữu Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc
Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2020/TLST - DS ngày 08 tháng
5 năm 2020 về Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 6 năm
2021 giữa các đương S:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1967
Địa chỉ: Tổ 6, khu phố PT, phường PTh, xã BL, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Cao Thị Túy G, sinh năm 1982
Địa chỉ: Ấp Số 74C đường CM, khóm 7, phường 1, Thành phố BL, tỉnh Bạc
Liêu;
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn S, sinh năm 1973
Địa chỉ: Ấp 15, xã VHA, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1972
+ Anh Nguyễn Trí K, sinh năm 1995
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Trí K: Ông Nguyễn Văn P.
Địa chỉ: Ấp 15, xã VHA, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu;
+ Bà Vũ Thị C, sinh năm 1977
+ Chị Nguyễn Hồng Thảo V
Địa chỉ: Ấp 15, xã VHA, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu;
2
+ UBND xã VHA
Địa chỉ: Ấp 12, xã VHA, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu.
+ UBND huyện HB
Địa chỉ: Ấp TTA, thị trấn HB, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn P: Luật
Trịnh Thanh N Văn phòng luật sư TTM, thuộc đoàn luật sư tỉnh Bạc Liêu.
(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, ông Đỗ Văn S, ông Nguyễn Văn P,
bà Vũ Thị C, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn P, đại diện UBND xã
VHA, đại diện UBND huyện HB có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Nguyễn Hồng Thảo V vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/3/2020, bản tự khai tại phiên tòa đại diện
cho nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 20/11/2001 ông T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của
ông Đỗ Văn S, không tại thửa nào và tờ bản đồ số mấy. Tại thời điểm nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông S chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Khi nhận chuyển nhượng không tiến hành đo đạc thực tế, ông S
chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất của ông cho ông T và ông Phạm Ngọc Đ (mỗi
người ½ trong toàn bộ diện tích đất của ông S) nên ông T ông Đ tự phân chia.
Ông S chỉ vị tđất của ông ông T cùng ông Đ tiến hành nhận đất chứ không
tiến hành đo đạc giao đất, có mời những hộ giáp ranh chứng kiến nhưng không nhớ
họ tên. Sau khi nhận quyền sử dụng đất của ông S thì UBND VHA giao
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S cho ông T. Tuy nhiên, ông T chưa
tiến hành thủ tục sang tên. Sau đó ông T có thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn chi nhánh Hiệp T để vay stiền 48.000.000 đồng, đồng
thời thế chấp quyền sử dụng đất do ông S đứng tên (ông S làm văn bản cho
mượn sổ đỏ để vay vốn ông S đứng tên quyền sử dụng). Sau khi vay thì ông T
thanh toán tiền lãi được 02 năm, do làm ăn thất bại nên sau đó không đóng lãi
cũng như chưa trả vốn. Khoảng năm 2014 ông T liên hệ để thanh toán tiền nợ
cho Ngân hàng thì được biết ông S đã trả tiền lấy lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Khi ông T đi trích lục hồ thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông S đã chuyển tên cho Nguyễn Trí K, tại ấp 15, VHA, huyện HB, tỉnh Bạc
Liêu. Nay ông T yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.812,5m
2
tại thửa
225 (79 cũ) tờ bản đồ số 17 (14 cũ) 289,4m
2
(đất bờ kênh 7) vì diện tích đất này
ông Đỗn S đã chuyển nhượng cho ông T (hiện nay ông Nguyễn Văn P đang quản
lý, sử dụng); yêu cầu ông P trả đất yêu cầu ông P trả stiền 160.000.000 đồng
tiền sử dụng đất; đồng ý trông P số tiền nợ 20.000.000 đồng đồng ý trả số tiền
ông P đã trả cho Nn hàng thay cho ông T. Đồng thời yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cp cho Nguyễn Trí K đối với phần diệnch đất tranh chấp.
Bị đơn ông Đỗ Văn S trình bày: Ông đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho ông T ông Đ đúng như lời trình bày của ông Đ ông T. Ông không
chuyển nhượng quyền sdụng đất cho anh Nguyễn Trí K hay ông Nguyễn Văn P
cũng không tên vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất cho anh
3
K. Ông đã giao đất cho ông T ông Đ kể từ khi chuyển nhượng (mỗi người ½).
Ông tên cho ông T vay vốn tại Ngân hàng, sau đó ông P đưa tiền cho ông Đ
ông Đ giao cho ông để trả cho Ngân hàng. Nhưng ông không nhận lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tNgân hàng. Ông chỉ trả tiền cho Ngân hàng thay
cho ông T như trên. Ông không ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông T,
đồng ý công nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất ông đã chuyển
nhượng cho ông T yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Ngày 22/6/2021 ông Nguyễn Trung T đơn xin rút một phần yêu cầu khởi
kiện đối với số tiền 160.000.000 đồng. Rút lại s tự nguyện trả ông P số tiền nợ
20.000.000 đồng. Chỉ đồng ý trả ông P số tiền ông P đã trả cho Ngân hàng thay
ông. Đồng thời, giữ nguyên yêu cầu công nhận quyền sdụng đất cho ông đối với
diện tích đất tranh chấp đo đạc thực tế là 7.812,5m
2
thuộc một phần thửa 225 t
bản đồ số 17289,4m
2
đất bkênh 7. Giữ nguyên yêu cầu hủy một phần giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Trí K đối với diện tích đất nêu
trên.
Ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của ông T
ông S về nguồn gốc đất tranh chấp là do ông S chuyn nhượng cho ông T ông Đ
mỗi người ½ quyền sử dụng đất do ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Đối với phần diện tích đất của ông T thì do ông T nợ tiền thức ăn nuôi tôm khi
làm ăn chung với ông nên ông đã lấy đất của ông T để trừ nợ. Sau đó ông nhận
chuyn nhượng phần đất của ông Đ nên cho con ông là Nguyn Trí K đứng tên toàn
bộ diện tích đất của ông T ông Đ. Việc chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho Nguyn Trí K do ông Đ tiến hành làm hết tất cả các thủ tục. Ông
không trực tiếp đi làm các thủ tục chuyn tên và không biết ông S đi làm thủ tục
chuyn tên cho K hay không. Nay ông đồng ý trả lại cho ông Nguyễn Trung T diện
tích đất 7.812,5m
2
tại thửa 225 (thữa số 79 cũ) tờ bản đồ số 17 (tờ bản đồ số 14 cũ)
289,4m
2
(đất bờ kênh số 7), đất tọa lạc tại ấp 15, VHA, huyện HB, tỉnh Bạc
Liêu. Đồng thời xin rút lại toàn bộ yêu cầu độc lập đối với ông Nguyn Trung T
ngày 23/4/2021, bao gồm tiền thức ăn tiền ông đã trả Ngân hàng. Đối với ý kiến
ông T đồng ý trả cho ông số tiền mà ông đã trả ngân hàng 134.450.000.000
đồng trả tiền nợ 20.000.000 đồng thì ông không đồng ý nhận bất cứ số tiền nào
của ông T. Ngoài ra ông không có yêu cầu khác đối với ông T.
Thị C, UBND VHA, UBND huyện HB đơn xin xét xử vắng
mặt và không có ý kiến gì. Chị Nguyễn Hồng Thảo V vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn P trình bày:
Yêu cầu ghi nhận S tự nguyện của ông Nguyễn Văn P, đồng thời yêu cầu Tòa án
giải quyết vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn c định nguyên đơn
tự nguyện chịu mọi chi phí tố tụng và án phí dân S sơ thẩm.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:
4
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, thư đã thực hiện đúng, đầy đcác quy định của pháp
luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực
hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39
Điều 165 Bộ luật tố tụng dân S năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí tòa
án;
- Công nhận quyn sử dụng đất diện tích 7.812,5m
2
+ 289,4m
2
(đất bờ kênh
7) tại thửa 225 (thửa 79 cũ), tờ bản đồ số 17 (bản đồ số 14 cũ), đất tọa lạc tại ấp 15,
VHA, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu cho ông Nguyn Trung T.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 03 ngày
08/01/2015 giữa ông Đỗ Văn S với anh Nguyễn Trí K hiệu. Hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 03 ngày 08/01/2015 giữa ông Đỗ Văn S với
anh Nguyễn Trí K.
Ông Nguyễn Trung T có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều
chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Trung T đối với ông Nguyễn Văn P về
số tiền 160.000.000đ.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn P đối với ông Nguyễn
Trung T về số tiền 116.511.000đ.
- Chi pxem xét thẩm định, chi phi định giá tài sản án phí dân S
thẩm: Ghi nhận S tự nguyện của ông Nguyễn Trung T. Buộc ông T phải chịu chi
phí tố tụng và án phí dân s sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Ông Nguyễn Trung T yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Đỗ Văn S ttại ấp 15, xã VHA,
huyện HB, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản
1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân s thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện HB.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: các bên đương s không yêu cầu áp dụng thời
hiệu khởi kiện để giải quyết vụ án.
5
[3] Về nội dung: Ông Nguyễn Trung T yêu cầu công nhận quyền sử dụng
đất do ông Đỗ Văn S đã chuyển nhượng cho ông tại hợp đồng chuyển nhượng
quyền sdụng đất lập ngày 20/11/2001. Mặc về hình thức hợp đồng chưa tuân
thủ quy định pháp luật nhưng các bên đã thực hiện xong việc giao nhận quyền sử
dụng đất thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán. Mặt khác, cả ông T ông S đều
thừa nhận và thống nhất việc chuyển nhượng nêu trên. Đã hết thời hiệu mà các bên
vẫn không yêu cầu tuyên bố giao dịch dân s hiệu. Do đó, hợp đồng chuyển
nhượng giữa ông T và ông S đã hoàn thành và đã phát sinh hiệu lực.
Căn cứ s thừa nhận của ông Nguyễn Văn P, hiện nay ông P đang quản lý,
sử dụng toàn bộ diện tích đất ông T nhận chuyển nhượng từ ông S, qua đo đạc thực
tế phần đất có diện tích 289,4m
2
đất bờ kênh số 7, có vị trí, tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất tranh chấp có số đo 28,5m;
- Hướng tây giáp kênh số 7 có số đo 28,5m;
- Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Văn P có số đo 10,16m;
- Hướng Bắc giáp đất ông Phạm Văn Xứng có số đo 10,19m.
diện tích đất 7.812,5m
2
thuộc thửa 225 (79 cũ) tbản đồ số 17 (14 cũ),
có vị trí, tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất ông Nguyễn Văn P nhận chuyển nhượng của
ông Phạm văn Đoan có số đo 28,5m;
- Hướng tây giáp đất bờ kênh số 7 có số đo 28,5m;
- Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Văn P có số đo 274,3m;
- Hướng Bắc giáp đất ông Phạm Văn Xứng có số đo 274,7m.
Trên phần đất tranh chấp không có tài sản hay kiến trúc nào khác, hiện trạng
đất nuôi trồng thủy sản.
Xét lời trình bày của ông Nguyễn Văn P thì tổng diện tích đất tranh chấp do
ông tự lấy đất trừ số tiền ông T đã nợ của ông. Tuy nhiên, không thông qua hợp
đồng hay văn bản nào thể hiện ý kiến của ông T về việc giao đất cho ông để trừ nợ.
Ông P xác định, việc con ông là Nguyễn TK đứng tên là do ông nhờ ông Đ đăng
chuyển tên từ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S sang tên Nguyễn
Trí K. Thực tế, ông mới người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này. Ông
Phạm Văn Đ cho rằng ông không có làm bất kỳ thủ tục sang n nào thay cho ông
P. Ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P nhưng chỉ là thỏa thuận
miệng. Đối với phần đất ông T thì ông không biết. Như vậy, tất cả các đương s
đều cho rằng không trực tiếp làm thủ tục chuyển nhượng thay cho ông S và anh K.
Ông Đỗ Văn S thừa nhận chỉ chuyển nhượng cho ông T chứ không chuyển nhượng
cho ông P hay cho anh K. Mặc khác, ông Nguyễn Văn P tự nguyện trả cho ông
Nguyễn Trung T toàn bộ diện tích đất tranh chấp nêu trên. Không đồng ý nhận bất
kỳ khoản tiền nào từ ông Nguyễn Trung T. Đây là s tự nguyện của ông Nguyễn
Văn P nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tuy nhiên, đối với phần đất bờ kênh số 7 không nằm trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của ông Đỗ Văn S, do đó, ông T quyền đến quan có thẩm
6
quyền tiến hành thủ tục khai đăng nếu thuộc trường hợp được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Hội đồng xét xử chỉ công nhận cho ông Nguyễn
Trung T quyền sử dụng diện tích đất 7.812,5m
2
thuộc một phần thửa 225 (79 cũ) tờ
bản đồ số 17 (14 cũ), đồng thời tạm giao diện tích đất bờ kênh 289,4m
2
cho ông
Nguyễn Trung T quản lý, sử dụng.
[4] Ông Nguyễn Trung T rút lại yêu cầu buộc ông P trả số tiền 160.000.000
đồng. Hội đồng xét xử đình chỉ phần yêu cầu này của ông Nguyễn Trung T.
[5] Ông Nguyễn Văn P rút lại yêu cầu độc lập đòi ông Nguyễn Trung T số
tiền nợ thức ăn nuôi tôm 116.511.000 đồng. Hội đồng xét xử đình chỉ đối với
yêu cầu này của ông P.
[6] Ông Nguyễn Trung T đồng ý trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền ông
P đã trả cho Ngân hàng thay cho ông T, tuy nhiên, ông P không đồng ý nhận nên
Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về chi phí thẩm định, xem xét tại chỗ, đo đạc định giá 4.232.200
đồng, ông Nguyễn Trung T tự nguyện chịu, đã dự nộp chi hết nên không hoàn
lại.
[8] Về án phí: ông Nguyễn Trung T tự nguyện chịu án phí dân s thẩm,
Hội đồng xét xử ghi nhận s tự nguyện này của ông Nguyễn Trung T.
[9] Những phân tích, nhận định đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng
xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều
147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân S;
Áp dụng: Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí.
Tuyên xử:
1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn
S và ông Nguyễn Trung T. Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông Đỗ Văn S và anh Nguyễn Trí K lập ngày 08/01/2015.
2. Công nhận cho ông Nguyễn Trung T quyền sử dụng diện tích đất
7.812,5m
2
tại một phần thửa 225 (thửa 79 cũ) tờ bản đồ số 17 (tờ bản đồ 14 cũ),
tọa lạc tại ấp 15, xã VHA, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu, có vị trí và tứ cận như sau:
7
- Hướng Đông giáp phần đất ông Nguyễn Văn P nhận chuyển nhượng của
ông Phạm Ngọc Đoan có số đo 28,5m;
- Hướng Tây giáp đất bờ kênh số 7 có số đo 28,5m;
- Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Văn P có số đo 274,3m;
- Hướng Bắc giáp đất ông Phạm Văn Xứng có số đo 274,7m.
3. Tạm giao cho ông Nguyễn Trung T diện tích đất bờ kênh 7 289,4m
2
,
có vị trí tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất tranh chấp có số đo 28,5m;
- Hướng Tây giáp kênh số 7 có số đo 28,5m;
- Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Văn P có số đo 10,16m;
- Hướng Bắc giáp đất ông Phạm Văn Xứng có số đo 10,19m.
4. Kiến nghị quan Tài nguyên môi trường Văn phòng đăng đất đai
tỉnh Bạc Liêu điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn
Trí K đối với diện tích đất còn lại.
5. Ông Nguyễn Trung T quyền đến quan thẩm quyền khai đăng
ký đối với diện tích đất được công nhận.
6. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Nguyễn Trung T đòi ông
Nguyễn Văn P trả số tiền 160.000.000đ.
7. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn P đòi
ông Nguyn Trung T trả số tiền 116.511.000đ.
8. Về chi phí thẩm định, xem xét tại chỗ, đo đạc và định giá 4.232.200 đồng,
ông Nguyễn Trung T tự nguyện chịu, đã dự nộp và chi hết nên không hoàn lại.
9. Về án phí: Án phí dân s sơ thẩm 300.000 đồng, ông Nguyễn Trung T tự
nguyện nộp. ông T đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền ngày 0006151
ngày 08/5/2020 4.000.000 đồng tại biên lai số 0010490 ngày 23/02/2021
chuyển thu án phí. Hoàn lại cho ông T 4.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân
s huyện HB.
Ông Nguyễn Văn P không phải chịu án phí. Ông P đã dự nộp 3.386.000
đồng tại biên lai số 0002555 ngày 28/4/2021 tại chi cục thi hành án dân s huyện
HB được hoàn lại đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của luật thi hành
án dân thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án
dân sự; Thời hiệu thi hành án dân s được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật
thi hành án dân s.
Đương s có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương s vắng mặt tại tại phiên tòa có quyền kháng
8
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án
được niêm yết.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương s; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện HB;
- Cơ quan THA huyện HB;
- Lưu: HS; VT-TA.
Đỗ Ngọc Diễm
Tải về
Bản án số 22/2021/DS-ST Bản án số 22/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất