Bản án số 179/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 179/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 179/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 179/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 179/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 179/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | , ông T khởi kiện yêu cầu |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 179 /2026/DS-PT
Ngày 05 – 3– 2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Trương Thanh Dũng
Ông Ninh Quang Thế
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Thị Diễm Thuý – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 760/2025/TLPT-DS ngày 25 tháng 12
năm 2025 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 65/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 85/2026/QĐ-PT ngày
15 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Diệp Trung T, sinh năm 1982 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số: 095082009965 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội Cấp ngày: 10/05/2021;
Địa chỉ cư trú: Số A, đường T, khóm E, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc
Liêu. Nay là phường B, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của ông Diệp Trung T: Ông Nguyễn
Văn T1, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Khóm G, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc
Liêu. Nay là phường B, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Tăng Thị Thu T2, sinh năm 1958 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số: 09518004555 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về
trật tự xã hội Cấp ngày: 02/07/2021;
2. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1952 (Vắng mặt);
2
Căn cước công dân số: 095052003291 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội Cấp ngày: 10/05/2021;
Cùng địa chỉ cư trú: Số H, đường C, khóm C, phường E, thành phố B, tỉnh
Bạc Liêu. Nay là phường V, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Bạc Liêu.
Địa chỉ: Đường N, phường B, tỉnh Cà Mau
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Tuyết T3, chức vụ:
Giám đốc Chi nhánh (Vắng mặt).
2. Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Số E, đường H, phường T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Huỳnh Hoàng K, chức vụ:
Trưởng Thi hành án (Vắng mặt).
3. Ông Trần Minh T4, là Chấp hành viên Thi hành án dân sự tỉnh C (Vắng
mặt).
Địa chỉ: Đường N, phường B, tỉnh Cà Mau.
4. Phòng C1 – Cà Mau (Vắng mặt);
Địa chỉ: Đường N, phường B, tỉnh Cà Mau.
5. Bà Giang Thị C, sinh năm 1968 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Số B, đường B, khóm B, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc
Liêu. Nay là phường B, tỉnh Cà Mau.
6. Chị Nguyễn Việt T5, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Số H, khóm C, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Nay là
phường V, tỉnh Cà Mau.
7. Anh Nguyễn Việt T6, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Số H, khóm C, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Nay là
phường V, tỉnh Cà Mau. (Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam số 2 – Công
an tỉnh C).
8. Ông Tăng Thành T7, sinh năm 1965 (Vắng mặt).
9. Bà Võ Thị T8, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Tổ G, khóm C, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Nay là Tổ G, khóm E, phường C, tỉnh Vĩnh Long.
10. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1962 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Số A đường V, khóm B, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc
Liêu. Nay là phường B, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Diệp Trung T, là nguyên đơn.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của ông Diệp Trung T và trong quá trình giải quyết vụ
án người đại diện của ông Diệp Trung T trình bày:
Vào ngày 22/6/2022, ông Diệp Trung T có ký Hợp đồng đặt cọc với bà Tăng
Thị Thu T2 để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Tăng Thị Thu T2
thửa đất số 114, tờ bản đồ số 03 (nay là thửa đất số 324, tờ bản đồ số 13), diện tích
287,6 m
2
, toạ lạc tại khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm
B, phường B, tỉnh Cà Mau) với giá chuyển nhượng là 600.000.000 đồng. Ông T đã
đã đặt cọc trước với số tiền là 420.000.000 đồng.
Ngày 25/11/2022, ông T và hộ bà T2 ký kết “Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất không có tài sản gắn liền với đất” tại Phòng C2, tỉnh Bạc Liêu,
số công chứng 1837, quyền số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Sau đó ông T nộp hồ
sơ tại Trung tâm hành chính công thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để làm thủ tục
chuyển tên quyền sử dụng thửa đất. Đến ngày 30/11/2022, Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai thành phố B ban hành thông báo số 924/TB-CNVPĐKĐĐ về việc
hoàn trả hồ sơ của hộ bà Tăng Thị Thu T2 gửi cho ông T và hộ bà Tăng Thị Thu
T2, nội dung thông báo cho biết là thửa đất số 114 , tờ bản đồ số 03 (nay là thửa
đất số 324, tờ bản đồ số 13), toạ lạc tại khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc
Liêu hiện đang bị bà Giang Thị C, thường trú: Số B, đường B, khóm B, phường H,
thành phố B, tỉnh Bạc Liêu làm đơn yêu cầu ngăn chặn việc chuyển nhượng tại Chi
cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Sau thời gian dài chờ đợi sự giải quyết nợ của vợ chồng bà Tăng Thị Thu T2
và ông Nguyễn Văn B đối với bà Giang Thị C dứt điểm để ông T làm thủ tục đứng
tên quyền sử dụng đất thửa đất nói trên nhưng không có kết quả, làm ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông T. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu:
Huỷ thông báo số 924/TB-CNVPĐKĐĐ, ngày 30/11/2022 của Chỉ nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ khu vực
Bạc Liêu) về việc hoàn trả hồ sơ của bà Tăng Thị Thu T2.
Huỷ đề nghị số 588/ ĐN-CCTHADS, ngày 04/11/2022 của Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố Bạc Liêu (nay là Thi hành án dân sự tỉnh C) về việc cung cấp
thông tin, ngăn chặn việc chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn B, bà Tăng Thị
Thu T2.
Huỷ thông báo số 754/TB-THADS, ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Bạc Liêu (nay là Thi hành án dân sự tỉnh C) về việc xác định
quyền sở hữu tài sản để thi hành án.
Huỷ Quyết định số 14/QĐ-CCTHADS, ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Bạc Liêu (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau) về
việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Yêu cầu công nhận “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có
tài sản gắn liền với đất” tại Phòng C2 tỉnh Bạc Liêu (nay là phòng C1 – Cà Mau),
Số công chứng 1837, quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD có hiệu lực và yêu
cầu công nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 114 , tờ bản đồ số 03 (nay là thửa đất
4
số 324, tờ bản đồ số 13) với diện tích 287,6 m
2
toạ lạc tại khóm E, phường B,
thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau) cho ông T
được quyền sử dụng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của ông T rút lại một phần
yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tuyên hủy bỏ các văn bản gồm Thông báo số
924/TB-CNVPĐKĐĐ, ngày 30/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
thành phố B; Đề nghị số 588/ ĐN-CCTHADS, ngày 04/11/2022, Thông báo số
754/TB-THADS, ngày 04/7/2024 và Quyết định số 14/QĐ-CCTHADS, ngày
04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu.
- Theo bà Tăng Thị Thu T2 trình bày:
Trước đây, bà Tăng Thị Thu T2 có nhờ cháu bà là chị Khương Thị Tú T9
đứng ra vay tiền Ngân hàng Q1 dùm, khi vay thì bà T2 nhận tiền, tài sản thế chấp
là của bà T2. Do nợ đã đến hạn ngân hàng yêu cầu chị T9 thanh toán, do số tiền
vay cho bà T2 nên bà T2 và ngân hàng thống nhất bán tài sản thế chấp để trả nợ
gốc, ông Diệp Trung T mới đứng ra mua diện tích quyền sử dụng đất tại thửa đất
số 114 (cũ), tờ bản đồ số 03 (cũ) nay là thửa đất số 324, tờ bản đồ số 13, với diện
tích 287,6m
2
thửa đất toạ lạc tại khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
(nay là khóm B, phường B) để thanh toán khoản vay, Ngân hàng Q1 cũng đồng ý.
Giá chuyển nhượng phần đất là 500.000.000 đồng, ông T là người trả tiền cho
Ngân hàng Q1, sau khi trả tiền xong thì ngân hàng trả sổ cho bà T2. Để thực hiện
tiếp thỏa thuận, giữa gia đình bà T2 và ông T tiến hành ký kết hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại văn phòng C3 tỉnh Bạc Liêu.
Bà T2 thống nhất tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất với ông Diệp Trung T, đồng ý giao tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số
114 (cũ), tờ bản đồ số 03 (cũ), nay là thửa đất số 324, tờ bản đồ số 13 cho ông T.
- Theo anh Nguyễn Việt T6 trình bày:
Thống nhất các ý kiến trình bày của bà T2 và không có ý kiến khác.
- Theo ông Tăng Thành T7 và bà Võ Thị T8 trình bày:
Không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án
giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- Theo bà Giang Thị C trình bày:
Bà C không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Trung T, đề nghị Tòa
án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 65/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Trung T đối với bà Tăng
Thị Thu T2, ông Nguyễn Văn B về việc yêu cầu công nhận “Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất không có tài sản gắn liền với đất” tại Phòng C2 tỉnh
Bạc Liêu (nay là phòng C1 – Cà Mau), số công chứng: 1837, quyền số 04/2022
TP/CC-SCC/HĐGD có hiệu lực.
5
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Trung T về việc công
nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 114, tờ bản đồ số 03 (nay là thửa đất số
324, tờ bản đồ số 13), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số DH 901724 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp
ngày 20/9/2022 cho hộ bà Tăng Thị Thu T2, diện tích 287,6 m
2
thửa đất toạ lạc tại
khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường B, tỉnh Cà
Mau) cho ông T.
Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Trung T về
việc tuyên bố hủy các văn bản gồm: Thông báo số 924/TB-CNVPĐKĐĐ, ngày
30/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B (nay là Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực Bạc Liêu); Đề nghị số 588/ ĐN-
CCTHADS, ngày 04/11/2022, Thông báo số 754/TB-THADS, ngày 04/7/2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu và Quyết định số 14/QĐ-
CCTHADS, ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu
(nay là Thi hành án dân sự tỉnh C).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 17/9/2025, ông Diệp Trung T có đơn kháng cáo, yêu cầu huỷ bản án
sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của ông Diệp Trung T thay đổi
kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu khởi kiện của ông Diệp
Trung T.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông T1 phát biểu: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T
với gia đình bà T2 là hợp pháp, đúng quy định pháp luật. Khi bà T2 được cấp đổi
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tăng thêm diện tích đất trồng cây lâu
năm 135m
2
, thì các bên có thoả thuận chuyển nhượng phần đất này với giá
45.000.000 đồng, có làm giấy tay. Ông T đã thanh toán cho phía bà T2 số tiền
chuyển nhượng tổng cộng là 645.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu Hội đồng xét xử
chấp nhận kháng cáo của ông T, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Diệp Trung T, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Diệp Trung T, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Nguyên đơn ông Diệp Trung T khởi kiện yêu cầu công nhận “Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có tài sản gắn liền với đất” ký kết ngày
6
25/11/2022 giữa ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Thu T10, anh Nguyễn Việt T6,
chị Nguyễn Việt T5 đối với thửa đất số 114, tờ bản đồ số 03 (nay là thửa đất số
324, tờ bản đồ số 13), diện tích 287,6 m
2
, toạ lạc tại khóm E, phường B, thành phố
B, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau) có hiệu lực và yêu cầu
công nhận phần đất nêu trên cho ông Diệp Trung T. Phía bị đơn bà Tăng Thị Thu
T2 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Trung T, đồng ý tiếp tục thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chuyển tên quyền sử dụng đất
cho ông T. Đối với bà Giang Thị C, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (là
người được thi hành án đối với bà T2) không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T.
[2] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có tài sản gắn
liền với đất được ký kết ngày 25/11/2022 giữa ông B, bà T2, anh T6, chị T5 với
ông T là có thực tế xảy ra, được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức hợp đồng
thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, khi ký kết hợp đồng chuyển
nhượng thì trước đó bà T2 đã phát sinh nghĩa vụ về tài sản, cụ thể là nghĩa vụ trả
nợ cho bà Giang Thị C số tiền 1.400.000.000 đồng theo Quyết định công nhận sự
thoả thuận của các đương sự số 74/2019/QĐST-DS ngày 30/9/2019 của Toà án
nhân dân thành phố Bạc Liêu (nay là Toà án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau). Bà C
đã có đơn yêu cầu thi hành án đối với bà T2 và đươc Chi cục thi hành án dân sự
thành phố Bạc Liêu ra Quyết định thi hành án số 46/QĐ-CCTHADS ngày
15/11/2019 buộc bà T2 thi hành trả cho bà C số tiền 1.400.000.000 đồng; đồng
thời, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu cũng ban hành văn bản đề
nghị số 588/ĐN-CCTHADS ngày 01/11/2022 gửi Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai thành phố B, đề nghị ngăn chặn việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của
ông B và bà T2. Như vậy, khi các bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 25/11/2022 đối với thửa đất nêu trên thì thửa đất thuộc trường hợp
không được giao dịch, nên ông B, bà T2, chị T5, anh T6 không được quyền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho ông T, đã vi phạm điều kiện chuyển nhượng.
[3] Phía ông T xác định việc ông T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
từ hộ bà T2 thông qua việc thanh toán nợ vay từ Ngân hàng Thương mại cổ phần
Q1 ngày 22/6/2022, nội dung thỏa thuận ông T chuyển tiền để bà T2 xóa thế chấp
tài sản bảo đảm tại thửa đất số 324, tờ bản đồ số 13 nêu trên. Tuy nhiên, ông T
không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh, nên không có cơ sở để chấp
nhận.
[4] Hơn nữa, theo hợp đồng đặt cọc ký ngày 22/6/2022 giữa bà Tăng Thị
Thu T2 với ông Diệp Trung T có nội dung bà T2 đồng ý bán cho ông T nhà – đất,
thửa đất 114 (cũ), tờ bản đồ số 03 (cũ), diện tích 153,6m
2
(theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là đất ở) với giá 600.000.000 đồng; ông T đặt cọc trước số tiền
420.000.000 đồng; thời hạn đặt cọc 30 ngày, kể từ ngày 22/6/2022 đến hết ngày
22/7/2022. Đến ngày 20/9/2022 bà T2 được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, diện tích đất được tăng thêm, bao gồm đất ở 152,6m
2
và đất trồng cây lâu
năm 135m
2
, tổng diện tích là 287,6m
2
, thửa đất số 324, tờ bản đồ số 13. Đến ngày
25/11/2022, bà T2 và ông B cùng các con là anh Nguyễn Việt T6, chị Nguyễn Việt
T5 ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông T toàn bộ diện tích đất 287,6m
2
thuộc
thửa đất số 324, tờ bản đồ số 13 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày
7
20/9/2022 cho bà T2 đứng tên với giá chuyển nhượng là 600.000.000 đồng (theo
giá thoả thuận tại hợp đồng đặt cọc ngày 22/6/2022, nhưng giá ghi trong hợp đồng
là 500.000.000 đồng). Mặt khác, tại thời điểm chuyển nhượng trên đất có tài sản là
nhà của gia đình bà T2 gắn liền với đất, nhưng các bên chỉ ký kết hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất không có tài sản gắn liền với đất mà không ký kết hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (tức là chỉ
chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không chuyển nhượng tài sản là căn nhà gắn
liền với đất). Khi xem xét hợp đồng chuyển nhượng rõ ràng có những vấn đề bất
hợp lý, cụ thể:
[4.1] Thứ nhất, theo hợp đồng đặt cọc ngày 22/6/2022 giữa bà T2 với ông T
thoả thuận chuyển nhượng diện tích đất 153,6m
2
(đất ở) với giá là 600.000.000
đồng, nhưng theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 25/11/2022 diện tích 287,6m
2
(có
tăng thêm diện tích đất trồng cây lâu năm là 135m
2
, nhưng giá chuyển nhượng
không thay đổi (không tăng) so với giá thoả thuận tại hợp đồng đặt cọc ngày
22/6/2022.
[4.2] Thứ hai, khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì
trên đất có tài sản là nhà của gia đình bà T2 gắn liền với đất, nhưng các bên chỉ
chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không chuyển nhượng tài sản gắn liền với
đất; như vậy sẽ không đảm bảo cho việc quản lý sử dụng đất đối với ông T và việc
quản lý sử dụng tài sản trên đất đối với gia đình bà T2 và ông B.
[4.3] Từ đó, có cơ sở xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
không có tài sản gắn liền với đất được ký kết ngày 25/11/2022 giữa ông B, bà T2
anh T6, anh T5 với ông T là giả tạo, nhằm để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài
sản với người khác.
[5] Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có tài sản gắn
liền với đất được ký kết ngày 25/11/2022 giữa ông B, bà T2, anh T6, anh T5 với
ông T vi phạm về điều kiện được chuyển nhượng và đồn thời là giả tạo nên bị vô
hiệu ngay từ thời điểm xác lập. Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông T là có căn cứ.
[6] Về xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu, do các bên đương sự không đặt
ra yêu cầu, cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết nên cấp phúc thẩm không đặt ra
xem xét. Trường hợp các đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
[ 7] Từ nhận định trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo ông Diệp
Trung T, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm ông Diệp Trung T phải chịu 300.000 đồng, đã
dự nộp được chuyển thu.
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
8
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo ông Diệp Trung T.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 65/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận khởi kiện của ông Diệp Trung T về việc yêu cầu công
nhận “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có tài sản gắn liền với
đất” được ký kết giữa ông Nguyễn Văn B, bà Tăng Thị Thu T2, anh Nguyễn Việt
T6, chị Nguyễn Việt T5 với ông Diệp Trung T đối với thửa đất số 324, tờ bản đồ
số 13, diện tích 287,6 m
2
toạ lạc tại khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
(nay là khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau) được công chứng tại Phòng C2 tỉnh Bạc
Liêu (nay là phòng C1 – Cà Mau) ngày 25/11/2022 có hiệu lực và yêu cầu công
nhận phần đất chuyển nhượng nêu trên cho ông Diệp Trung T.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Trung T về việc
yêu cầu: Huỷ Thông báo số 924/TB-CNVPĐKĐĐ, ngày 30/11/2022 của Chỉ
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ khu
vực Bạc Liêu) về việc hoàn trả hồ sơ của bà Tăng Thị Thu T2; Văn bản đề nghị số
588/ ĐN-CCTHADS, ngày 04/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Bạc Liêu về việc cung cấp thông tin, ngăn chặn việc chuyển nhượng của ông
Nguyễn Văn B, bà Tăng Thị Thu T2; Thông báo số 754/TB-THADS, ngày
04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu về việc xác định
quyền sở hữu tài sản để thi hành án; Quyết định số 14/QĐ-CCTHADS, ngày
04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu về việc cưỡng chế
kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 600.000 đồng, buộc ông Diệp Trung T
phải chịu, ông T đã nộp xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Diệp Trung T phải chịu 300.000 đồng. Ông T
đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lại thu tiền số 0000370 ngày 23/4/2025 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu và 300.000 đồng theo biên lai thu tiền
số 0013113 ngày 01/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, đối trừ ông T
được nhận lại 300.000 đồng. Ông Nguyễn Văn B, bà Tăng Thị Thu T2 không phải
chịu án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Diệp Trung T phải chịu 300.000 đồng.
Ngày 17/09/2025, ông T đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số
0000341 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
9
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 6- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 6- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm