Bản án số 164/2026/DS-PT ngày 09/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 164/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 164/2026/DS-PT ngày 09/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 164/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà X mua giấy tay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH ĐNG NAI
Bn án s: 164/2026/DS-PT
Ngày 09 - 3 2026
V/v tranh chp hợp đồng chuyn
nhượng quyn s dụng đất và yêu cu
thc hiện nghĩa vụ do người chết để
li
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh Phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán Ch ta phiên tòa:
Các Thm phán:
Bà Đinh Thị Quý Chi
Ông Phạm Thành Dương
Đỗ Th Nhung
- Thư phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư Tòa án nhân dân tnh
Đồng Nai.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà:
Ông Nguyn Thanh Mến - Kim sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2026, ti tr s Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét
x công khai v án dân s phúc thm th s 797/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng
12 năm 2025 về Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất yêu
cu thc hiện nghĩa vụ do người chết để lại”. Do Bn án dân s thẩm s
64/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vc 9 - Đồng
Nai b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thm s 26/2025/QĐXXPT-DS
ngày 09 tháng 01 năm 2026, giữa các đương s:
- Nguyên đơn: Ngô Th X, sinh năm 1960; trú ti: T B, khu ph P,
Phường B, tỉnh Đng Nai. (vng mt)
Đại din theo y quyn ca X: Ông Ngô Quc C, sinh năm 1974 và bà
Đoàn Thị Minh K, sinh năm 1988; cùng trú tại: T B, KP P, phường B, tỉnh Đồng
Nai. (có mt)
- B đơn: Nông Th V, sinh năm 1962; trú tại: Ấp A, Đ, tỉnh Đồng
Nai. (có mt)
Người kế tha quyền và nghĩa vụ ca ông Hoàng Qunh B:
1. Ông Hoàng Qunh D, sinh năm 1985 (có mặt)
2
2. Ông Hoàng Qunh T, sinh năm 1988 (có mặt)
3. Bà Hoàng Th N, sinh năm 1987 (có mặt)
4. Ông Hoàng Qunh V1, sinh năm 1987 (đã chết)
Cùng trú ti: p A, xã Đ, tỉnh Đồng Nai.
5. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1955 (chết trong quá trình gii quyết v án).
Trú ti: T B, KP P, Phường B, tỉnh Đng Nai.
Người kế tha quyền nghĩa vụ t tng ca ông Lê Văn T1:
+ Bà Ngô Th X, sinh năm 1960.
+ Ông Lê Văn G, sinh năm 1985 (có mt).
+ Ông Lê Trng T2, sinh năm 1983
+ Bà Đoàn Thị Minh K, sinh năm 1988 (có mặt).
Cùng trú ti: T B, KP P, Phường B, tỉnh Đồng Nai.
Ông G, ông T2 y quyn cho bà Đoàn Th Minh K.
+ Ông Văn D1, sinh năm 1988 (người giám h ca ông D1 ông
Văn G); trú ti: T B, Khu ph P, Phường B, tỉnh Đồng Nai (có mt).
- Người kháng cáo: B đơn bà Nông Thị Vân
- Người kháng ngh: Viện trưởng Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
NI DUNG V ÁN:
Tại đơn khởi kin, quá trình làm vic và tại phiên tòa nguyên đơn Ngô Th
X người đại din theo y quyn ông Ngô Quc C, Đoàn Th Minh K thng
nht trình bày:
Vào ngày 07/12/2012, bà Ngô Th X nhn chuyển nhượng ca ông
Hoàng Qunh B diện tích đt 3.500m
2
01 con đường đi rng 03m t đưng
thôn vào diện tích đất trên để làm đường đi cùng nhà cửa và chung tri nuôi heo,
cây trng vi s tin tha thuận là 180.000.000 đồng, đất đã có giy chng nhn
quyn s dụng đất (CNQSĐ) đứng tên h ông Hoàng Qunh B. Bà X đã trả tin
cho ông B ông T ký vào giy nhn tiền, đã trả tng s tin chuyển nhượng
238.000.000 đồng, do ông B nói Giấy CNQSDĐ đang thế chp vay Ngân hàng
nên chưa lấy v được do đó chưa sang tên cho X đưc. X đã quản lý, xây
dng thêm nhà và chung heo trên đất t năm 2012 cho đến năm 2018 khi
ông B chết thì xy ra tranh chp vi V nên bà X đã dọn đi nơi khác . Quá
trình qun s dng X nhiu ln yêu cu V hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ nhưng bà V c tình trn tránh không ký Hp đồng chuyển nhượng QSDĐ
cho bà X. Bà X đã khiếu nại đến UBND xã Đ nhưng hòa giải không thành.
Nay, bà X khi kin yêu cu Tòa án công nhn giy sang nhượng đất viết
tay lp ngày 07/12/2012 công nhn quyn s dụng đt din tích nhn chuyn
nhưng ca ông B theo đo đạc là 4.641,5m2 và căn nhà cp 4 và chung trại chăn
3
nuôi heo, cây trồng trên đt là ca bà X. Nếu trường hp Tòa án tuyên hợp đồng
chuyển nhượng QSĐ hiu thì yêu cu gii quyết hu qu pháp lý ca hợp đng
vô hiệu để bo v quyn li ích hp pháp cho bà X.
- Ti bn t khai, biên bn ly li khai và ti phiên tòa b đơn Nông
Th V trình bày:
V không chuyển nhượng diện tích đt 4.641,5m
2
cho X; ông B
chuyển nhượng cho bà X như thế nào thì bà V không biết. Tài sn là ca bà V và
ông B nhưng ông B t chuyển nhượng đất đường đi cho X nhưng không
thông qua ý kiến ca V không đúng, V cũng không biết ông B chuyn
nhưng, ch nghe ông B nói cho X thuê mướn đ nuôi heo, V không thy
tin ông B chuyển nhượng như thế nào c, thời điểm tháng 12 năm 2012 bà V v
quê Xóm B, Đ, huyện T, tnh Cao Bng để thăm bà Nông Th Đ m rut
ca X thi gian 01 tháng. V không nhn trong giy t mua bán vi
bà X. Nay bà X khi kin yêu cu công nhn diện tích đất tranh chp và nhà ca,
cây trồng trên đất cho X tV không đông ý. V yêu cu Tòa án không
chp nhận đơn khởi kin ca bà X.
- Người quyn li, nghĩa v liên quan: Ông Hoàng Qunh D trình
bày:
Ông D không có chuyển nhượng đt cho bà X. Tài sn này ca ông B
và bà V còn ông không có liên quan gì c. Ông D không biết vic ông B chuyn
nhưng cho bà X và ông B không nói cho ông D biết vic chuyển nhượng đất mà
ch nói là cho bà X thuê đất. Nay bà X khi kin yêu cu buc bà V tiếp tc thc
hin hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất din tích 3.500m
2
con đường
đi đã mua 03m x 175m
2
theo giấy sang nhượng ngày 07/12/2012 thì ông D không
có ý kiến g ctài sn này là ca ông B bà V do đó quyền quyết định là ca b
m ông D, ông D không có ý kiến hay yêu cu gì v quyn li ca mình c. Ông
D đề ngh Tòa án gii quyết theo quy đnh ca pháp lut. Ngòai ra không ý
kiến gì na c.
- Người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Qunh T trình
bày:
Ông T không có ký chuyn nhượng đất cho bà X. Tài sn nàyca ông B
V, ông T không liên quan c. Ông T không biết vic ông B chuyn
nhưng cho bà X và ông B không nói cho anh T biết vic chuyển nhượng đất mà
ch nói là cho bà X thuê đất và ý nhn tiền cho thuê đất. Tài sn này là ca ông
B V do đó quyền quyết định là ca b m ông T. Ông T không có ý kiến hay
yêu cu v quyn li ca mình c. Ông T đ ngh Tòa án gii quyết theo quy
định ca pháp lut. Ngoài ra không có ý kiến gì na c.
- Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Th N trình bày:
N không biết vic chuyển nhượng đất, do đã ly chng tách khu
riêng t khoảng năm 2005, không còn liên quan trong h khu vi ông B, bà V.
Tài sn này ca ông B V do đó quyn quyết đnh ca b m N, N
4
không ý kiến yêu cu gì v quyn li ca mình c. Ngoài ra không ý kiến
na c.
- Người kế tha quyền, nghĩa v t tng ca ông Văn T1: Ông
Văn G, Trng T2 - đại din theo y quyn Đoàn Thị Minh K trình bày:
Diện tích đt 4.461,5m
2
do cha m ch K mua ca ông B vào năm 2012 đã
tr tiền đủ nhận đất qun s dng, xây dng thêm nhà, xây dng chung
heo, qun lý cây trng, nay yêu cu Tòa án công nhn quyn s dụng đt din tích
4.641,5m
2
và tài sản trên đất nhà, chung trại chăn nuôi heo, cây trồng ca
X. Ngoài ra không có ý kiến gì na c.
- Người giám h cho ông Lê Văn D1- ông Lê Văn G ti phiên tòa trình
bày: Thng nht vi ý kiến yêu cu ca bà X, ngoài ra không có ý kiến gì c.
Ti Bn án dân s thẩm s 64/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025
ca Tòa án nhân dân khu vc 9 - Đồng Nai đã quyết định:
Không chp nhn yêu cu công nhn hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ (giấy
sang nhượng đất viết tay 07/12/2012) gia ông Hoàng Qunh B vi Ngô Th
X có hiu lc pháp lut và diện tích đất 4.641,5m
2
và tài sản trên đất là ca bà X.
Chp nhn mt phn yêu cu khi kin của nguyên đơn NTh X.
Tuyên giấy sang nhượng đất viết tay ngày 17/12/012 gia ông Hoàng Qunh B
vi bà Ngô Th X vô hiu.
Buc Nông Th V phi tr li cho Ngô Th X s tin ông Hoàng
Qunh B đã nhận 238.000.000 đồng và phi bồi thường cho bà X s tin
712.985.000 đng. Tng cng Nông Th V phi tr li bồi thường cho
Ngô Th X tng s tiền 950.985.000 đng trong phn di sn do ông Hoàng
Qunh B để li.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chu chi pt tng, án phí
quyn kháng cáo của các đương s.
Ngày 24/9/2025, b đơn ng Th V đơn kháng cáo toàn b Bn án
sơ thẩm.
Ngày 23/10/2025, Viện trường Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ban
hành Quyết định kháng ngh phúc thm s 149/QĐ-VKS-DS đề ngh Tòa án cp
phúc thm hy toàn b Bản án thẩm, giao h v án v cho Tòa án cấp
thm gii quyết li theo th tc chung vì các lý do:
- Về quan hệ pháp luật: ông Hoàng Quỳnh B người thực hiện giao kết
sang nhượng đất với Ngô Thị X bằng giấy sang nhương đất viết tay lập ngày
07/12/2012 đến ngày 08/01/2017 ông B chết, ngày 16/10//2020 X khởi kiện
Nông Thị V (vợ ông B) yêu cầu buộc hộ bà V tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất do X và ông B đã viết giấy tay sang nhượng trước
đây. Phía bị đơn (bà V) không đồng ý, không thừa nhận ông B sang nhượng đất
cho X chỉ cho X thuê đất. Theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Bộ luật
dân sự (BLDS) năm 2015 tquyền nghĩa vụ của ông B bị chấm dứt từ thời
điểm chết, theo Điều 615 BLDS thì quyền và nghĩa vụ của ông B phát sinh từ các
5
giao dịch do ông B giao kết khi còn sống sẽ do những người thừa kế của ông thực
hiện. Do đó, bản chất của quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên là: Tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do
người chết để lại”. Việc Tòa cấp sơ thẩm chỉ xác định 01 mối quan hệ pháp luật
Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để giải quyết là thiếu
sót, không đúng với bản chất của vụ án.
-Về xác định cách tham gia tố tụng của đương sự: Như đã phân tích nêu
trên, Tòa cấp sơ thẩm xác định không đầy đủ quan hệ pháp luật cần giải quyết,
không đúng bản chất của nội dung tranh chấp (thiếu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
do người chết để lại) nên xác định các con của ông B, V gồm: Hoàng Quỳnh
D, Hoàng Quỳnh T và Hoàng Thị N với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa v
tố tụng của ông B không đúng phải xác định người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan trong vụ án vì ông B đã chết trước khi bà X khởi kiện, ông B không
phải là đương sự trong vụ án này.
Anh G người nhược điểm về thể chất, dấu hiệu thể hiện năng lực
hành vi bị hạn chế nhưng tòa sơ thẩm không làm rõ tình trạng pháp lý của anh G
để yêu đương slàm đơn yêu cầu tòa án xác định, tuyên bố anh G bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự, chỉ định người giám hộ người trợ giúp pháp để bảo vệ
quyền lợi cho anh G vẫn tiếp tục thụ giải quyết không đúng quy định
Điều 23 BLDS, vi phạm nghiêm trọng điều 69 BLTTDS, Điều 214 BLTTDS. Do
đó, bản tự khai đánh máy sẳn của anh G không đảm bảo tính hợp pháp, không
được sử dụng làm chứng cứ để giải quyết vụ án.
- Về thu thập tài liệu chứng cứ: Nguyên đơn khởi kiện cho rằng, thời điểm
ông B chuyển nhượng QSDĐ cho mình thì QSDĐ đang thế chấp ngân hàng để
vay tiền bản án thẩm mục [4] nhận định: “thời điểm các bên chuyển nhượng
QSDĐ thì giấy CNQSDĐ đang thế chấp tại Ngân hàng để vay tiền”. Nhưng quá
trình giải quyết, tòa thẩm không yêu cầu X cung cấp chứng cứ tòa
thẩm cũng không thu thập chứng cứ chứng minh thời điểm này ông B thế chấp
ngân hàng nào? thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Trong khi đó, trang 4 của
GCNQScủa ông B (BL107-108) không thông tin đăng giao dịch đảm
bảo nhưng bản án sơ thẩm lại nhận định chủ quan, phiến diện một chiều cho rằng
QSDĐ đang thế chấp ngân hàng vi phạm quy định Điều 108 Bộ luật tố tụng dân
sự (BLTTDS) 2015.
HĐCN QSDĐ được xác lập vào ngày 07/12/2012, thời điểm Bộ luật dân
sự năm 2005 đang hiệu lực nhưng bản án thẩm lại áp dụng quy định Bộ luật
dân sự năm 2015 để giải quyết là không đúng.
Về nội dung:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận HĐCN QSDĐ lập ngày
07/12/2012. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn cung cấp bản gốc
“giấy sang nhượng đất ngày 07/12/2012” (BL11), nội dung ông B có nhận tiền
cọc 100.000.000 đồng để đảm bảo chuyển nhượng cho X diện tích 3.500m
2
với giá 180.000.000 đồng, chứ không phải nội dung thỏa thuận chuyển nhượng
QSDĐ. Bị đơn cũng không thừa nhận cùng tham gia chuyển nhượng hoặc biết
6
việc chuyển nhượng không nhận tiền. Mục [4] Bản án thẩm cũng nhận định:
“xét giấy sang nhượng đất ngày 07/12/2012 chỉ một mình ông B ký, nội dung là
giao nhận tiền không phải hợp đồng chuyển nhượng QS mục [7] bản
án sơ thẩm nhận định: “xét thấy việc chuyển nhượng QSDĐ và nhận tiền là chưa
rõ ràng”. Do đó, không đủ căn cứ xác định bản chất giao dịch giữa bà X với ông
B hợp đồng đặt cọc hay hợp đồng thuê hay hợp đồng chuyển nhượng. Tuy
nhiên, bản án thẩm vẫn xác định các bên xác lập HĐCNQSDĐ ngày
07/12/2012 và tuyên HĐCNQSDĐ này vô hiệu, giải quyết hậu quả hợp đồng
hiệu là mâu thuẩn, không có căn cứ.
Quá trình giải quyết thẩm, nguyên đơn cho rằng đã thanh toán đtiền
chuyển nhượng 238.000.000 đồng cho ông B, trong khi “Giấy sang nhượng đất
ngày 07/12/2012” (BL11) “Giấy nhận tiền sang nhượng đất ngày 26/9/2012”
(BL28) chỉ thể hiện việc chuyển nhượng (mua bán) 3,5 sào đất giá 180.000.000
đồng bán 3m đất với giá 18.000.000 đồng (chưa trả) thì cũng chỉ
198.000.000 đồng mâu thuẫn nhưng chưa được làm rõ. Nguyên đơn không cung
cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa nguyên đơn ông B giao kết HĐCN
QSDĐ với giá 238.000.000 đồng, cũng không chứng minh được ông B nhận đủ
238.000.000 đồng nhưng vẫn nhận định ông B đã nhận đủ tiền của X
238.000.000 đồngđánh giá chứng cứ không khách quan, làm ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, càng không căn cứ để xác định
thiệt hại chênh lệch gdo HĐCN vô hiệu vấn đề này cấp phúc thẩm ng
không thể khắc phục.
Quá trình giải quyết thẩm, bị đơn những người con của bị đơn đều
thống nhất cho rằng chỉ nghe ông B nói cho X thuê trang trại chứ không chuyển
nhượng. Mục [1] bản án thẩm cũng nhận định: ông B X khi chuyển
nhượng chỉ lập giấy sang nhượng đất viết tay ngày 07/12/2012 chỉ ông B ký,
không có chữ của người nhận chuyển nhượng là X, không được công chứng
theo đúng quy địnhtrước khi tòa án ththì ông B chết nên theo quy định
tại Điều 6, Điều 91 BLTTDS thì nguyên đơn phải nghĩa vụ chứng minh chữ
viết, chữ ký trong hợp đồng này của ông B HĐCN hiệu thì mới buộc
những người đồng thừa kế của ông B thực hiện nghĩa vụ hoàn trả thay cho ông B
nếu yêu cầu. Tuy nhiên, tòa thẩm không thực hiện thu thập chứng cứ chưa
đầy đủ.
Đồng thời, nguyên đơn không chứng minh được V cùng ông B chuyển
nhượng cho X hoặc chứng minh được bà V biết nhận được tiền chuyển
nhượng từ X và mục [6] bản án sơ thẩm cũng khẳng định việc chuyển nhượng
đất cho X chỉ một mình ông B thực hiện”, phù hợp giấy sang nhượng đất ngày
07/12/2012” (BL11) lời trình bày của bị đơn V các con của bị đơn rằng
không biết ông B chuyển nhượng cho X, chỉ biết là ông B cho thuê. Do đó, nếu
thực sự là HĐCN và hợp đồng này bị vô hiệu thì chỉ có thể buộc bà V và các con
của ông B, bà V với tư cách người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông B để thực
hiện nghĩa vụ (nếu yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận). Tuy nhiên, quá trình
giải quyết thẩm, nguyên đơn cũng không yêu cầu tòa án buộc những người
thừa kế của ông B thực vụ nghĩa vụ hoàn trả, trong khi giao dịch với nguyên đơn
7
thì chỉ ông B thực hiện nhận tiền nhưng mục [11] bản án thẩm lại cho
rằng tài sản của ông B và Vnên buộc bà V mà không phải những người
đồng thừa kế thực hiện nghĩa vụ bồi thường sai lầm nghiêm trọng trong nhận
thức áp dụng pháp luật. Không những vậy, mà tòa án còn tuyên buộc bị đơn
thực hiện nghĩa vcủa người chết, mà lại còn buộc trả 100% là càng không đúng.
Nguyên đơn cho rằng mua đất, quản lý, sử dụng đất từ năm 2012 cho đến
khi ông B chết (2017) thì xảy ra tranh chấp. Tuy nhiên, theo Biên bản xét tại chỗ
(BL180-181) biên bản đánh giá (BL187-188) thì trên QSDĐ này 50 cây
điều trong năm 2022, tức không phải do nguyên đơn trồng. Tuy nhiên, tòa thẩm
vẫn tính vào giá trị tăng lên để xác định thiệt hại và buộc bị đơn phải bồi thường
là không phù hợp quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị và phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán Hội đồng xét xử, kể từ khi
thụ vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định
tại khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần yêu
cầu kháng cáo của bị đơn Nông Thị V; chấp nhận kháng nghị, hủy Bản án
thẩm, giao hồ ván về cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liu, chng c trong h vụ án và quan điểm của đại
din Vin kiểm sát đã được tranh tng ti phiên tòa; xét kháng cáo ca b đơn bà
Nông Th V Kháng ngh ca Viện trưởng Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng
Nai, Hội đồng xét x nhận định:
V t tng:
[1] Đơn kháng cáo của Nông Th V Quyết định kháng ngh s 149/QĐ-
VKS-DS ca Viện trường Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (sau đây viết tt
là: Kháng ngh) đưc thc hin trong hn, có ni dung và hình thc phù hp vi
quy định tại các điều 271, 272, 273, 278, 279, 280 ca B lut t tng dân s năm
2015 nên đủ điu kiện đểt x theo th tc phúc thm.
[2] - Về quan hệ pháp luật của vụ án: Nguyên đơn bà Ngô Th X khi kin
cho rng khi còn sng ông Hoàng Qunh B đã ký giấy đồng ý sang nhượng cho
v chng diện tích đất theo đo đạc thc tế4.641,5m
2
. Để chng minh cho
yêu cu khi kiện, nguyên đơn cung cp bn gc Giấy sang nhượng lp ngày
07/12/2012 Giy biên nhn tin lp ngày 26/9/2012 trong đó ghi c nội
dung biên nhn v vic nhn tin gia các bên. C th: tại Giấy sang nhượng
đất” ngày 07/12/2012, nội dung: “Ông Hoàng Qunh B …có sang cho Ngô
Th Xuân V2 ao chung vi diện tích 3 xào rưỡi bng s 3500 MV vi giá tin
8
180.000.000 bng ch một trăm tám mươi triệu đồng chẵn nay trên đất sn
một căn nhà 10 ô chuồng heo nay tôi sang nhưng cho ông Văn T1
và bà Ngô Th Xuân V2 ao chung vi din tích 13.000m
2
bằng 1,3 ha trong đó
có 100 10 ô chung heo ca nhà và chuồng đầy đủ, có 1 giếng đào. Nay X
cùng ông B đã thỏa thun xong chng cc 100.000.000 bng ch một trăm
triệu đồng chn còn li ch khi sang tên tr hết. Giao kèo ai sai người đó phải
bồi thường gấp đôi” (BL 202); ti “Giấy nhn tiền sang nhượng đất” lập ngày
26/9/2012 ông B ghi: Tôi tên Hoàng Qunh B nay tôi sang nhượng cho
ông Văn T1 Ngô Th Xuân V2 ao chung vi din tích 13.000m
2
bng
1,3 ha trong đó có 100 và 10 ô chuồng heo và 1 nhà có ca ông Hoàng Qunh
B đã nhận ca Ngô Th X s tiền 100.000.000đ trong đó ao chung nhà vi
giá tin 180.000.000 bằng 3 sào rưỡi còn đt ry còn li vi giá 350.000.000
mt ha, nay s QSDĐ ông Hoàng Qunh B đã đem thế chp. Nay bà Ngô Th X
đã cầm 480 triệu đ chuc s v để làm giấy sang nhượng đt cho ông Văn
T1 và bà Ngô Th X. Khi làm giấy sang nhượng ông Hoàng Qunh B và v cùng
các con ông Hoàng qunh B không làm khó thêm…. Ghi chú. Tôi B đã nhận
vi ch X s tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng chẵn). Còn 480.000.00
chưa nhận khi nào xong s ra mi nhn s tiền trên” (BL 203, 204); sau ni
dung trên là đoạn biên nhận: “Tôi Hoàng Qunh B đã nhận đủ s tiền bán vưn
ao chung diện tích 3.500m² (ba sào rưỡi) s tin là 180.000.000 và 18.000.000
tiền 3m dài 170m đường đi. Còn đoạn đường còn li 2 gia đình đi chung. Không
đưc ly ra. Ngày 05/4/2013(BL 204). X đã nhận đất s dng t năm
2012 đến năm 2018. Do ông B đã chết nên bà X khi kin (BL 44) yêu cu Tòa
án công nhn hiu lc ca giấy sang nhượng đt gia ông B yêu cu
đưc công nhn quyn s dng diện tích đất trên. Tuy nhiên, ông B chết trước
khi nguyên đơn khi kin nên không th thc hiện nghĩa vụ hoàn tr do HĐCN
hiu, vic thc hin này phải do người nhn di sn ca ông B thc hin. Do
đó, Tòa án cấp thẩm đã xác định quan h pháp lut ca v án tranh chp
hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất cũng chưa phù hp nên cn b
sung quan h pháp lut này vào cho phù hp.
[3] - Về xác định cách tham gia tố tụng của đương s: xét thy, ngày
08/01/2017 ông B chết, ngày 11/9/2020 bà X Đơn khởi kiện, như vậy ông B
chết trước thời điểm X khi kin, ông B chưa bao giờ đương sự tham gia
t tng trong v án. Do vy, vic Tòa án cấp sơ thẩm xác định các con ca ông
B, V gm các anh ch Hoàng Qunh D, Hoàng Qunh T và Hoàng Th N
những người kế tha quyền nghĩa vụ t tng ca ông B không đúng mà
phải xác định người có quyn lợi và nghĩa v liên quan trong v án. Nên, Kháng
ngh v phần này là có căn cứ.
[4] - Đối với Kháng nghị cho rằng Tòa thẩm cn thu thp chng c chng
minh thời điểm ông B chuyển nhượng đt cho X thì ông B đang thế chp
ngân hàng như li bà X trình bày không, nếu có thì khi đó ông B đang thế chp
ngân hàng nào để vay tin thu thp chng c chưa đầy đ. Xét thy, mc
ngoài li trình bày X không cung cấp được chng c nào chng minh thi
điểm hai bên sang nhượng thì ông B đang thế chp tại ngân hàng nhưng căn cứ
9
vào nhng ni dung biên nhn ông B đã viết: “….hin nay s QSDĐ ông
Hoàng Qunh B đã đem thế chp. Nay bà Ngô Th X đã cầm 480 triệu để chuc
s v để làm giấy sang nhượng…ghi chú. Tôi B đã nhận vi ch X s tin
100.000.000đ (một trăm triệu đống chn). Còn 480.000.000đ chưa nhận khi nào
xong s ra mi nhn s tin trên(BL 203) thì mặc trong biên nhn không
nói đất đang thế chp cho ngân hàng hay cho t chức, cá nhân nào nhưng
hin ông B đã chết và vic không thu thp chng c chng minh thời đim này
đất phải đang được thế chấp cho ngân hàng hay không cũng không làm nh
ởng đến vic gii quyết v án. Tuy nhiên, dù không thu thập được nhưng bản
án thẩm vn khẳng định thời đim này ông B đang thế chp ngân hàng
không đúng với tình tiết khách quan ca v án nên Tòa án cấp thẩm cn rút
kinh nghim.
[5] - V áp dng pháp lut: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ được xác lp
vào ngày 07/12/2012, thời điểm B lut dân s năm 2005 đang hiu lực nhưng
Bản án sơ thẩm li áp dụng quy đnh B lut dân s năm 2015 đ gii quyết
không phù hp nên Kháng ngh v nội dung này là có căn cứ.
Về nội dung tranh chấp:
[6] Xét yêu cu ca nguyên đơn v yêu cầu được công nhn Hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ lập ngày 07/12/2012: xét, mc V các con cho
rng bà V cùng các con không chuyển nhượng đất cho v chng bà X và không
biết vic chuyển nhượng đất gia ông B và bà X ông T1 nhưng tại Biên bn hòa
gii ti UBND Đ vào ngày 14/10/2020 V trình bày: Khi ông Hoàng Qunh
B còn sống bán đất cho X nhưng lúc đó tôi đi Bắc (tnh Cao Bằng)” (BL
07); bên cạnh đó, trong suốt thi gian X s dụng đất t năm 2012 đến năm
2018 thì gia đình bà V vn sinh sng ti khu vực đất tranh chp, phần đất tranh
chp nm ngay phía sau giáp ranh căn nhà V , thời điểm này gia đình V
đều biết chng kiến vic s dụng đt ca X; mt khác, các anh T, D, V1
cũng những người đu xác nhn ti Giy nhn tiền sang nhượng lp ngày
26/9/2012. Nên, sở xác định vic ông B khi còn sng có tha thun chuyn
nợng đất cho v chng bà X như X trình bày tht. V các con
cho rng ch nghe ông B nói là cho bà X thuê đất nên để bà X s dụng nhưng lại
không chứng minh được vic mình c nhn nhn tin trong giy biên nhn
tiền sang nhượng đt là tin thuê ch không phi tin chuyển nhượng cũng như
không chứng minh được có việc cho thuê đất (như vic thu tiền thuê đất, không
biết giá cho thuê, thi hạn cho thuê …) nên sở khẳng định ông B đã chuyển
nhưng diện tích đất tranh chp cho bà X, bà V và các con đều biết vic chuyn
nhưng này.
[7] Tuy nhiên, xét vic chuyn nng các bên ch lp bng giy tay, trong
đó chỉ ghi chung chung din tích chuyển nhượng là 3.500m
2
đất và con đường đi
3m x 170m mà không lập thành văn bản có công chng, chng thc của cơ quan
thm quyền ng như không ghi v trí t cn, v trí ta lạc, đt thuc tha
nào, t bản đồ s mấy, đã đưc cp giy chng nhn quyn s dụng hay chưa,
không trích lc bản đồ địa chính; đất được cp cho h gia đình nhưng trong hợp
10
đồng không được đầy đủ các thành viên ca h gia đình trong đóV đồng
s hu tài sn ký xác nhn nên hợp đồng này trái quy đnh tại các điều 109, 689
B lut dân s năm 2005 quy đnh, thuc trường hp hiu c v ni dung
hình thc ngay t thời đim giao kết. Vic Tòa án cấp thẩm tuyên Giy sang
nhượng đất lp ngày 07/12/2012 gia X ông B hiệu căn cứ. Yêu
cu công nhn hiu lc ca giấy sang nhượng đất viết tay ngày 07/12/2012 gia
X và ông B, yêu cầu được công nhn quyn s dng diện tích đất tranh chp
ca bà X không được chp nhn.
[8] Tuy nhiên, phía nguyên đơn không chứng minh được ngoài ni dung
vào ngày 05/4/2013 ông B xác nhn “đã nhận đủ s tiền bán vườn ao chung
din tích 3.500m
2
(Ba sào rưỡi) s tin 180.000.000 đồng 18.000.000 đồng
3m dài 170m đường đi” thì ông B còn nhn thêm ca bà X khon tin nào khác
nên ch có cơ sở xác định ông B nhn ca X tng cộng 198.000.000 đồng ch
không phải 238.000.000 đồng như lời X trình bày. Vic Tòa án cấp sơ thẩm
xác định ông B đã nhận ca X 238.000.000 đồng ch da trên li trình bày ca
bà X là không có căn cứ.
[9] Theo quy định tại Điều 137 B lut dân s 2005 thì:
1. Giao dch dân s hiệu không làm phát sinh, thay đi, chm dt quyn,
nghĩa vụ dân s ca các bên k t thời điểm xác lp.
2. Khi giao dch dân s hiu thì các bên khôi phc li tình trng ban
đầu, hoàn tr cho nhau những gì đã nhận... Bên có li gây thit hi phi bi
thường”.
[10] Xét, khi gii quyết hu qu ca hợp đồng hiu, Tòa án cấp thẩm
sai sót. C th: theo Biên bn xem xét, thẩm định ti ch ngày 07/8/2025
(BL180-181) Biên bản định giá ngày 09/9/2025 (BL187-188) thì 4.641,5m
2
có tr giá 928.300.000 đồng; trên đt tranh chp có các tài sn: 02 cây du trng
năm 2010 trị giá 2.880.000 đồng, 02 cây điu trồng năm 2010 Tòa án cấp
thm thiếu sót không định giá nhưng tại Tòa án cấp sơ thẩm các đương sự t tha
thun tr giá 1.000.000 đồng (500.000 đồng/cây); 05 cây điu trng 2012
tr giá 3.500.000 đồng; 50 cây điu trng 2022 tr giá 30.000.000 đng; 01 nhà
cp 4 không chát din tích 63m
2
xây năm 2012 trị giá 100.800.000 đồng; 01
nhà xưởng xây m 2012 diện tích 174m2 tr g191.400.000 đồng, giếng đào
và giếng khoan (giếng các bên không yêu cầu định giá). Trong khi, nguyên đơn
cho rng sau khi nhận đất nguyên đơn bà X đã xây thêm chung heo, làm li nhà,
trồng cây, đào giếng, kéo điện vi tng s tiền 460.000.000 đồng nhưng Tòa án
cấp sơ thẩm không xác minh làm rõ có vic bà X to dng nhng tài sản như bà
trình bày không. Đồng thời, trên đất cũng 50 cây điều nhưng Tòa án cấp
thm li tính tr giá 50 cây điều này vào tng gtr tăng lên để xác định thit hi,
làm sở buc b đơn phải bồi thường không phù hp. Tuy nhiên, xét do
nguyên đơn không kháng cáo để yêu cu xem xét quyn lợi đối vi nhng tài sn
nguyên đơn cho rằng mình đã đầu tư thêm gồm: chi phí kéo điện, làm nhà ,
nhà xưởng, đào thêm giếng nên Hội đồng xét x không xem xét lại đối vi nhng
tài sản này. Song, đối với 50 cây điều do b đơn V trồng năm 2022 thì cần tr
11
tr giá ra, không tính vào tr giá tài sản để tính thit hại. Do đó, trị giá tài sn tranh
chp phần đất và tài sản trên đt sau khi tr tr giá 50 cây điều trng năm 2022
là: 928.300.000 đồng + 2.880.000 đồng + 1.000.000 đồng + 3.500.000 đồng +
100.800.000 đồng + 191.400.000 đồng = 1.227.580.000 đồng.
[11] Giá tr thit hi ca tài sn tranh chp (sau khi tr tr giá tài sản tăng
lên cho giá tr chuyển nhượng) như sau: 1.227.580.000 đồng - 198.000.000 đồng
= 1.029.580.000 đồng.
[12] Xét v li: xét thy, c ông B X khi chuyển nhượng đều biết đt
ca h gia đình ông B nhưng lại không thc hiện đúng đầy đủ quy định ca
pháp lut v giao kết hợp đồng, nhưng sau khi chuyển nhượng gia đình ông B đã
không hp tác tiếp tc thc hin hợp đồng nên gia đình ông B có li nhiều hơn.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông B li nhiều hơn tương ng vi 70% thit
hi, bà X lỗi ít hơn tương ng vi 30% thit hi phù hp nên cn gi nguyên
Bản án sơ thẩm v phn này.
[13] Do bà V hiện là người đang quản lý, s dụng đất nên không buc bà
X phải nghĩa v tr đất cho V. Hin nay toàn b diện tích đất tranh chp sau
khi ông B chết đã được gia đình bà V làm th tc phân chia di sn tha kế, trong
đó thành viên hộ gia đình đã đồng ý tng cho V toàn b di sn ca ông B để
lại, đến ngày 03/6/2021 V được điều chnh biến động sang tên trên Gy chng
nhn quyn s dụng đt, quyn s hu nhà tài sn khác gn lin với đất s
BD838064, s vào s cp giy (CH) 0014961 UBND huyện Đ đã cp cho
ông Hoàng Qunh B, bà Nông Th V vào ngày 31/7/2012 (BL108). Vì vy, bà V
với tư cách người nhn tha kế di sn phải nghĩa vụ hoàn tr cho bà X s tin
198.000.000 đồng, X phi t chu 30% thit hại tương ng vi s tin
1.029.580.000 đồng x 30% = 308.874.000 đồng V nghĩa vụ phi bi
thưng cho bà X 70% thit hại tương ng vi s tiền 720.706.000 đng. Tng s
tin V phi thanh toán cho X là 198.000.000 đồng + 720.706.000 đồng =
918.706.000 đồng. Tòa án cấp thẩm buc bà V phi hoàn tr cho X
238.000.000 đồng phi bồi thường cho X s tiền 712.985.000 đồng chưa
chính xác.
[14] T nhng phân tích trên, thy rng kháng cáo ca bà V Kháng ngh
ca Vin kiểm sát được chp nhn mt phn.
[15] Chi phí t tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định và đnh giá tài sn nguyên
đơn tự nguyn chu.
[16] Án phí dân s thẩm: Căn cứ Ngh quyết 326/2016/NQ-UBNVQH14
ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hội quy đnh v mc thu, min,
gim, thu np, qun s dng án phí l phí Tòa án, đương sự phi chu
theo quy định. Tuy nhiên do nguyên đơnX, b đơn V là người cao tui
và có yêu cầu được miễn nên được min.
[17] Án phí dân s phúc thẩm: do kháng cáo được chp nhn mt phn nên
bà V không phi chu.
12
[18] Quan điểm và đề ngh của đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng
Nai tại phiên tòa được chp nhn mt phn.
[19] Các phn khác ca Bn án thẩm không kháng cáo, kháng ngh
có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 ca B lut t tng dân s;
Chp nhn mt phn kháng cáo ca b đơn bà Nông Th V;
Chp nhn mt phn Quyết định kháng ngh s 149/QĐ-VKS-DS ngày
23/10/2025 ca Viện trưởng Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Sa mt phn Bn án s dân s sơ thẩm s 64/2025/DS-ST ngày 23 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vc 9 - Đồng Nai.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 147, 217 ca B lut t tng dân sự; các điều
122, 124, 127, 134, 137, 234, 389, 697, 698 B lut dân s năm 2005; Điều 188
Luật đất đai năm 2013; các điều 26, 29 ca Ngh quyết s 326/2016/NQ-
UBNVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hội quy định v mc
thu, min, gim, thu np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án,
Không chp nhn yêu cu khi kin ca Ngô Th X đi vi yêu cầu được
công nhn hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đt (thông qua Giy sang
nhượng đất viết tay 07/12/2012) gia ông Hoàng Qunh B vi bà Ngô Th X có
hiu lc pháp lut yêu cầu được công nhn quyn s dng diện tích đt
4.641,5m
2
cùng tài sản trên đất là ca bà Ngô Th X.
Tuyên b Giấy sang nhượng đất viết tay ngày 17/12/012 gia ông Hoàng
Qunh B vi bà Ngô Th X vô hiu.
Buc Nông Th V phi tr li cho Ngô Th X s tin ông Hoàng
Qunh B đã nhận 198.000.000 (Một trăm chín mươi tám triệu) đồng.
Buc Nông Th V phi bồi thường cho X s tin 720.706.000 (by
trăm hai mươi triệu bảy trăm linh sáu nghìn) đồng.
Tng cng Nông Th V phi tr li bồi thường cho Ngô Th X tng
s tiền 918.706.000 (chín trăm mười tám triu bảy trăm linh sáu nghìn) đồng trong
phm vi di sn do ông Hoàng Qunh B để li.
K t ngày bn án có hiu lc pháp lut hoc k t ngày có đơn yêu cu thi
hành án của người được thi hành án, bên phi thi hành án chm thi hành án thì
ngoài s tin phi tr còn phi chu tin lãi trên s tin chm thi hành theo mc
lãi sut quy định ti khoản 2 Điu 468 B lut dân s năm 2015 tương ứng vi s
tin và thi gian chm thi hành án.
Trường hp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut thi hành án
dân s thì người được thi hành án, người phi thi hành án dân s quyn tha
thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b ng
13
chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, 7, 9 Lut thi hành án dân s, thi
hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định tại Điều 30 Lut thi hành dân s.
Đình chỉ yêu cu gii quyết đường dây điện do nguyên đơn t nguyn rút
yêu cu.
Chi phí t tụng: Chi phí đo đc, xác minh, thẩm định định giá tài sn
nguyên đơn bà Xuân C1, nguyên đơn đã thực hin xong.
Án phí dân s thẩm: Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết
326/2016/NQ-UBNVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hi quy
định v mc thu, min, gim, thu np, qun s dng án phí và l phí Tòa án,
nguyên đơn X, b đơn V người cao tui và yêu cầu được min nên
đưc min án phí.
Án phí dân s phúc thm: Bà V không phi chu.
Các phn quyết định khác ca Bn án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND khu vực 9 - Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 9- Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ vụ án, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Quý Chi
Tải về
Bản án số 164/2026/DS-PT Bản án số 164/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 164/2026/DS-PT Bản án số 164/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất