Bản án số 131/2026/DSPT ngày 06/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 131/2026/DSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 131/2026/DSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 131/2026/DSPT
| Tên Bản án: | Bản án số 131/2026/DSPT ngày 06/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 131/2026/DSPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | D cho V vay 420.000.000đ giao GCN QSD đất và ủy quyeèn định đoạt làm bảo đảm cho hợp đồng vay,đang trong kỳ hạn vay ông D bán nhà ông V không biết. ông V kiện hủy bỏ hợp đồng ủy quyền và tuyên các hợp đồng chuyển nhượng theo ủy quyền vô hiệu. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
Bản án số: 131/2026/DS-PT
Ngày: 06 - 3 – 2026.
V/v: “Hủy hợp đồng ủy quyền; Tranh chấp
quyền sử dụng đất; Tuyên hợp đồng chuyn
nhượng quyền sử dụng đất vô hiu, giải quyết
hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiu;
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Triết
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Ông Y Phi Kbuôr
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Vấn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần
Thị Xuân Linh Byă - Kim sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 626/2025/DS-PT ngày 17
tháng 12 năm 2025, về vic “Hủy hợp đồng ủy quyền, Tranh chấp quyền sử dụng đất,
Tuyên bố hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất vô hiu, Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 62/2026/QĐ-PT, ngày
13/01/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2026/QĐ-PT ngày 10 tháng 02 năm
2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trịnh Xuân V, sinh năm 1998;
Địa chỉ: Số A Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Số A Đ, phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk) – Vắng mặt.
- Người đại din theo ủy quyền: Ông Đặng Ngọc H, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số B T, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Số B T, phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk) – Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Chu Anh D, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Số A L, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Số A L, phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt;
- Ông Lê Trần Quốc B, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn G, xã H, tỉnh Đắk Lắk
(Địa chỉ cũ: Thôn G, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) – Vắng mặt.
2
- Bà Hồ Trần Kim C, sinh năm 1979 – Có mặt.
- Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1972 – Có mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn L, xã D, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Thôn L, xã D, huyn C,
tỉnh Đắk Lắk).
Người đại din theo ủy quyền của bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T là:
Ông Lê Thành N, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số D L, phường E, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng C1; Địa chỉ: Số C N, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Số C N,
phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk).
- Người đại din theo ủy quyền: Bà Đỗ Thị Hằng N1; Địa chỉ: Số B Y, phường
B, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Số B Y, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) – Vắng mặt.
- Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh khu vực Buôn M - (Tên cũ: Chỉ
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B).
Người đại din: Ông Nguyễn Văn M - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh khu vực
Buôn M - Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số C T, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Số C T, phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk) – Vắng mặt.
- Sở Nông nghip và Môi trường tỉnh Đ
Địa chỉ: Số D N, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Số D N, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk).
+ Người đại din theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn M - Chức vụ: Giám đốc Chỉ
nhánh khu vực Buôn Ma T1 - Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ (Tên cũ: Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B).
Địa chỉ: Số C T, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Số C T, phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk) – Vắng mặt.
5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời khai trong quá trình giải quyết
và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đặng Ngọc H
trình bày:
Trong quá trình làm ăn do cần tiền nên ngày 10/11/2020 ông Trịnh Xuân V gặp
ông Chu Anh D là người chuyên cho vay tiền. Đ được vay tiền ông D đề nghị ông V
phải có tài sản đ thế chấp, nên ông V đưa bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V đối
với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) cho ông D xem, kim tra thông
3
tin. Sau khi kim tra xong ông D đồng ý cho ông V vay số tiền là 50.000.000 đồng.
Sau đó, ngày 12/11/2020 ông D yêu cầu ông V mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trên đến phòng C2 đ làm hợp đồng ủy quyền cho ông D sử dụng thửa đất trên đ
đảm bảo cho khoản vay. Hai bên làm Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền Trịnh
Xuân V, bên được ủy quyền Chu Anh D có nội dung: Ông Trịnh Xuân V ủy quyền
cho ông D được toàn quyền sử dụng, chuyn nhượng, tặng cho, cho thuê, cho mượn,
thế chấp, vay vốn … đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa
chỉ đất tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V; được
Văn phòng C1 công chứng ngày 12/11/2020, số công chứng 16337, quyn số
11TP/CC-SCC/HĐGD. Sau đó ông V đi TP . làm vic, đến ngày 19/11/2020 ông D
đã chuyn khoản cho ông V số tiền 50.0000.000 đồng. Từ ngày 19/11/2020 đến ngày
10/12/2020 ông V chuyn trả lại tiền vay cho ông D đủ số tiền vay 50.0000.000 đồng
(gồm tiền gốc vay, lãi). Sau khi thanh toán đủ tiền vay ông V chưa lấy lại Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV
747892 đã thế chấp cho ông D do thời đim đó dịch bnh diễn ra phức tạp không đi
lại được. Đến ngày 15/12/2020 ông V liên h với ông D đ vay số tiền 100.000.000
đồng, sau đó ông D chuyn khoản cho ông V số tiền 75.000.000 đồng và đưa tiền mặt
25.000.000 đồng. Đến ngày 09/02/2021 ông V chuyn khoản 85.000.000 đồng và tiền
mặt 15.000.000 đồng trả nợ cho ông D. Như vậy, cả hai khoản vay trên ông V đã
thanh toán đủ cho ông D, nên ông D trả lại cho Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892 cho ông V nhưng
hai bên không tiến hành hủy bỏ Hợp đồng ủy quyền ngày 12/11/2020.
Đến ngày 09/3/2021 ông V tiếp tục vay tiền của ông D và vẫn như lần trước ông
D yêu cầu ông V thế chấp đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892 cho ông D, không phải viết giấy tờ
đối với khoản vay mà đ chuyn khoản, cụ th ông Chu Anh D đã chuyn tiền bằng
tài khoản cho ông Trịnh Xuân V (số tài khoản 7997988 tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Á) là 5 lần với tổng số tiền 420.000.000 đồng, cụ th như sau:
+ Lần 1: Ngày 09/3/2021 số tiền 150.000.000đ, nội dung giao dịch: VY MUON
200 TRIEU NGAY 9 3 2021. Số tiền 50.000.000đ, nội dung giao dịch: ANH DUY
CHUYEN;
+ Lần 2: Ngày 11/3/2021 số tiền 100.000.000đ, nội dung giao dịch: A DUY
CHO VY MUON THEM 100 TRIEU NGAY 11 3 2021;
+ Lần 3: Ngày 07/9/2021 số tiền 50.000.000đ, nội dung giao dịch: VY MUON
THEM 385 TRIEU EM NHE;
+ Lần 4: Ngày 23/10/2021 số tiền 15.000.000đ, nội dung giao dịch: CHU ANH
DUY CHUYEN TIEN TOI TRINH XUAN VY – 7997988;
4
+ Lần 5: Ngày 21/02/2022 chuyn 55.000.000đ, nội dung giao dịch: CHU ANH
DUY CHUYEN TIEN TOI TRINH XUAN VY – 7997988.
Về lãi suất của khoản vay là 3000 đồng/ngày/1 triu, tổng cộng ông D cho ông
V vay số tiền 420.000.000 đồng. Do làm ăn thua lỗ mà tiền lãi quá lớn nên ông V
chưa có tiền trả, nên đã liên h với ông D đ xin gia hạn thêm thời gian trả nợ gốc, lãi
và ông D đã đồng ý.
Thời gian sau ông V có tiền nên liên h với ông D đ trả nợ thì phát hin ông D
đã tự ý mang tài sản của ông V là thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2,
địa chỉ đất tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892 của ông
V đ chuyn nhượng cho ông Lê Trần Quốc B theo Hợp đồng chuyn nhượng quyền
sử dụng đất giữa bên chuyn nhượng ông Trịnh Xuân V, bên nhận chuyn nhượng
ông Lê Trần Quốc B, được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 22/3/2021, số công
chứng 004076, quyn số 03TP/CC-SCC/HĐGD. Ông V gặp ông D đ hỏi thì ông D
cho rằng không nhận được bất kỳ số tiền trả nợ nào và ông V không có khả năng trả
nợ nên ông chuyn nhượng đất cho người khác là đúng. Như vậy, ông D cố tình lấy
tài sản của ông V, vì vic ký Hợp đồng ủy quyền ngày 12/11/2020 đối với thửa đất
trên giữa ông V và ông D chỉ đ hợp thức hóa, làm tin cho vic vay tiền, đã thỏa thuận
sau khi ông V trả tiền vay thì hợp đồng ủy quyền sẽ chấm dứt hiu lực nhưng ông D
lại dùng Hợp đồng ủy quyền đ chuyn nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê Trần
Quốc B là trái với thỏa thuận của hai bên và quy định của pháp luật, gây thit hại lớn
cho ông V.
Sau đó, ông B thực hin thủ tục đăng ký biến động được Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai thành phố B xác nhận ngày 29/3/2021. Đến ngày 08/4/2022 ông B
chuyn nhượng quyền sử dụng đất trên cho bà C và ông T theo Hợp đồng chuyn
nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn nhượng Lê Trần Quốc B với bên nhận
chuyn nhượng bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T, được công chứng tại Văn
phòng C1 ngày 08/4/2022, số công chứng 08582, quyn số 04TP/CC-SCC/HĐGD.
Ông T và bà C làm thủ tục và được cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 181383, số vào sổ cấp
GCN CS-17394 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 21/4/2022 mang
tên ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C, đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7,
din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Qua tìm hiu
thì ông V được biết giữa ông D, ông B, bà C có quen biết nhau từ trước, họ câu kết
thông đồng với nhau đ chiếm đoạt lô đất của ông V. Bà C nhiều lần đề nghị ông V
ký vào Giấy thuê nhà, vì đ giữ lô đất trên nên ông V đã ký vào Giấy thuê nhà. Hin
nay bà C dựa vào Giấy thuê nhà này khởi kin ông V đ buộc trả lại nhà đất trên. Vì
nhẹ dạ cả tin ông V vay tiền và ký hợp đồng ủy quyền cho ông D, tài sản này giá trị
5
hơn 3 tỷ đồng, tuy nhiên chỉ vì khoản nợ 420.000.000 đồng mà họ đã lấy tài sản của
ông Trịnh Xuân V.
- Tại phiên toà, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kin, xin rút một phần yêu cầu
khởi kin về vic: Buộc ông Trịnh Xuân V phải trả lại cho ông Chu Anh D số tiền
420.000.000 đồng; Buộc ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C phải giao lại Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số DĐ 181383, số vào sổ cấp GCN CS-17394 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Đ cấp ngày 21/4/2022 cho ông Trịnh Xuân V; Xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng
vô hiu đối với các yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa
bên chuyn nhượng ông Trịnh Xuân V, bên nhận chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc
B đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường
T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào sổ cấp CS-19483 do Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V,
được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 22/3/2021, số công chứng 004076, quyn
số 03TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiu và yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyn nhượng
quyền sử dụng đất giữa bên chuyn nhượng Lê Trần Quốc B với bên nhận chuyn
nhượng bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ
số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CV 747892, số vào sổ cấp CS-19483 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ
cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V; Nội dung thay đổi: Chuyn nhượng
cho ông Lê Trần Quốc B, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B
xác nhận ngày 29/3/2021; Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1 ngày
08/4/2022, số công chứng 08582, quyn số 04TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiu.
Nay ông Trịnh Xuân V chỉ yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết như sau:
+ Hủy Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền ông Trịnh Xuân V với bên được
ủy quyền ông Chu Anh D, được Văn phòng C1 công chứng ngày 12/11/2020, số công
chứng 16337, quyn số 11TP/CC-SCC/HĐGD.
+ Tuyên Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn nhượng
ông Trịnh Xuân V, bên nhận chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B đối với thửa đất số
261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường T, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào sổ cấp CS-19483 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V, được công
chứng tại Văn phòng C1 ngày 22/3/2021, số công chứng 004076, quyn số 03TP/CC-
SCC/HĐGD là vô hiu.
+ Tuyên Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn nhượng
Lê Trần Quốc B với bên nhận chuyn nhượng bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức
6
T đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường
T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào sổ cấp CS-19483 do Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V;
Nội dung thay đổi: Chuyn nhượng cho ông Lê Trần Quốc B, được Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố B xác nhận ngày 29/3/2021; Hợp đồng được công
chứng tại Văn phòng C1 ngày 08/4/2022, số công chứng 08582, quyn số 04TP/CC-
SCC/HĐGD là vô hiu. Ngoài ra không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
2. Bị đơn trình bày:
2.1. Tại lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn ông Lê
Trần Quốc B trình bày:
Tôi có quan h bạn bè với ông Chu Anh D, ông D có nhờ tôi đứng tên một mảnh
đất, tôi không nắm rõ thông tin mảnh đất đó. Tuy nhiên, vì mối quan h bạn bè nên
tôi đã tin tưởng và giúp đỡ (thỏa thuận bằng ming không có giấy tờ gì). Sau đó, ông
D dẫn tôi lên công chứng và làm hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa
bên chuyn nhượng ông Trịnh Xuân V (ông Chu Anh D là người đại din cho bên
chuyn nhượng ký hợp đồng), bên nhận chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B đối với
thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường T, TP ., tỉnh
Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào sổ cấp CS-19483 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V, được công
chứng tại Văn phòng C1 ngày 22/3/2021, số công chứng 004076, quyn số 03TP/CC-
SCC/HĐGD (do ông Chu Anh D là người đại din cho bên chuyn nhượng theo Hợp
đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền Trịnh Xuân V, bên được ủy quyền Chu Anh D
được Văn phòng C1 công chứng ngày 12/11/2020, số công chứng 16337, quyn số
11 TP/CC-SCC/HĐGD). Tôi làm thủ tục, thay đổi nội dung: Chuyn nhượng cho ông
Lê Trần Quốc B được chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận ngày 29/3/2021.
Sau đó, ông D lại nhờ tôi chuyn nhượng thửa đất trên cho người khác cụ th
như sau: Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn nhượng Lê
Trần Quốc B với bên nhận chuyn nhượng bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T
đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường T,
TP ., tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào sổ cấp CS-19483 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V; Nội dung
thay đổi: Chuyn nhượng cho ông Lê Trần Quốc B, được chi nhánh Văn phòng Đ xác
nhận ngày 29/3/2021; Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 08/4/2022,
số công chứng 08582, quyn số 04TP/CC-SCC/HĐGD.
Tất cả các thỏa thuận giữa tôi và ông D thì đều thỏa thuận bằng ming không
làm giấy tờ gì. Đối với vic chuyn nhượng như trên thì tôi được ông D nhờ đứng tên
7
và ký các thủ tục chuyn nhượng về thủ tục giấy tờ. Đối với thỏa thuận mua bán
chuyn nhượng, giao tiền, giao đất và các thủ tục có liên quan đến vic chuyn nhượng
thì tôi không biết, không tham gia gì, tôi chỉ đến văn phòng C1 ký các giấy tờ, thủ tục
chuyn nhượng dùm ông D, sau đó các thủ tục nộp hồ sơ chuyn nhượng, đăng ký
biến động ... thì tôi không biết và không tham gia mà do ông D làm. Đối với vic
chuyn nhượng đất, nhận tiền, bàn giao đất giữa các bên trong các giấy tờ nêu trên
hoặc ai khác thì do ông Duy thực H1. Còn tôi không biết, không tham gia gì, tôi cũng
không biết thửa đất do ông D nhờ tôi đứng tên và chuyn nhượng ở đâu. Tôi không
nhận bất cứ khoản tiền nào từ ông D hay từ một người nào khác. Khi ký hợp đồng
chuyn nhượng cho ông T, bà C thì ông D và công chứng đưa ký hợp đồng chuyn
nhượng, còn bên nhận chuyn nhượng bà C và ông T có mặt hay không thì tôi không
biết, cũng chưa gặp mặt ông T, bà C lần nào. Giữa tôi, ông D, bà C và ông T không
giao cho nhau số tiền nào, không giao giấy tờ gì và tôi không biết thửa đất ông D nhờ
đứng tên là của ai và địa chỉ nhà đất, đặc đim như thế nào. Tôi không có nhận bất cứ
khoản tiền nào của bà C, ông T và không có bàn giao nhà, đất cho ông T và bà C. Lý
do vì ông D chỉ nhờ ông đứng tên làm các thủ tục giúp ông D về mặt giấy tờ tại Văn
phòng công chứng, còn cụ th vic chuyn nhượng, mua bán như thế nào thì ông
không tham gia, không biết gì.
- Nay nguyên đơn khởi kin thì ý kiến của tôi như sau: Tôi nhận thấy vic tôi
đứng tên giùm cho ông D và chuyn nhượng quyền sử dụng đất như trên là không
đúng thực tế, mục đích nội dung của hợp đồng không đúng, tôi không biết thửa đất
chuyn nhượng ở đâu, không nhận bất cứ khoản tiền nào và không có bàn giao nhà,
đất cho cho ai. Trên thực tế không có vic chuyn nhượng đất, vic tôi làm là không
đúng quy định của pháp luật. Nên nguyn vọng của tôi là đồng ý theo yêu cầu khởi
kin của nguyên đơn, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn
ông Trịnh Xuân V. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
2.2. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Hồ Trần Kim C và ông
Nguyễn Đức T là ông Lê Thành N trình bày:
Tôi thống nhất và đồng ý với ý kiến của bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức
T đã trình bày tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án có nội dung cụ th như
sau:
Bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T có quen biết ông Lê Trần Quốc B qua
vic nhận chuyn nhượng đất của ông Lê Trần Quốc B; Bà Hồ Trần Kim C và ông
Nguyễn Đức T có quen biết ông Trịnh Xuân V qua vic cho ông Trịnh Xuân V thuê
nhà của bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T; Còn ông Chu Anh D không có
quen biết gì. Vào ngày 08/4/2022 bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T có nhận
chuyn nhượng của ông Lê Trần Quốc B đối với quyền sử dụng đất và nhà trên đất
cụ th như sau:
8
Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn nhượng Lê Trần
Quốc B với bên nhận chuyn nhượng bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T đối
với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số
vào sổ cấp CS-19483 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020
mang tên ông Trịnh Xuân V; Nội dung thay đổi: Chuyn nhượng cho ông Lê Trần
Quốc B, được Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận ngày 29/3/2021; Hợp đồng được
công chứng tại Văn phòng C1 ngày 08/4/2022, số công chứng 08582, quyn số
04TP/CC-SCC/HĐGD. Trên đất có 01 căn nhà xây cấp 4 có din tích khoảng 50m2.
Với giá chuyn nhượng ghi trên hợp đồng chuyn nhượng 300.000.000 đồng. Giá
chuyn nhượng thực tế là 2.400.000.000 đồng, lý do ghi giá trên hợp đồng thấp hơn
so với giá thực tế đ giảm tiền thuế thu nhập cá nhân, khi giao tiền thì giao trực tiếp
cho ông Lê Trần Quốc B bằng tiền mặt không có làm giấy tờ giao nhận tiền, tài liu
chứng cứ gì.
Bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T đã giao đủ tiền cho ông Lê Trần Quốc
B và ông Lê Trần Quốc B đã giao đủ din tích nhà + đất đã chuyn nhượng cho bà
Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T vào ngày 08/4/2022 (không có làm giấy tờ
giao nhận tiền, tài liu chứng cứ gì) và bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T đã
quản lý nhưng không vào ở căn nhà đất trên mà đóng cửa. Đến ngày 13/4/2022 bà Hồ
Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T cho ông Trịnh Xuân V thuê căn nhà đất trên với
thời gian thuê là 02 tháng, với số tiền 3.000.000 đồng/tháng, có làm hợp đồng thuê
nhà. Sau đó gia hạn bằng ming không làm hợp đồng đến 13/12/2023 với số tiền
5.000.000 đồng/tháng, sau đó ông Trịnh Xuân V thuê cho đến nay.
Về giấy tờ nhà đất bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T đã làm thủ tục
chuyn nhượng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 181383, số vào sổ cấp GCN: CS-17394 do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 21/4/2022 mang tên ông Nguyễn Đức
T, bà Hồ Trần Kim C đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, địa chỉ thửa đất phường
T, TP ., tỉnh Đắk Lắk, din tích 116,3m2.
Nay nguyên đơn khởi kin thì ý kiến của bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức
T như sau: Bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T không đồng ý với yêu cầu khởi
kin của nguyên đơn, đề nghị Toà án không chấp nhận đơn khởi kin của nguyên đơn.
Vì bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T là người quản lý hợp pháp nhà đất trên,
ông Trịnh Xuân V chỉ là người thuê nhà của bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức
T. Còn vic giao dịch, hợp đồng giữa ông Trịnh Xuân V, ông Chu Anh D, ông Lê
Trần Quốc B như thế nào thì bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T không biết
không có liên quan gì.
Ngoài ra tôi không còn yêu cầu, ý kiến gì khác.
9
- Đối với bị đơn ông Chu Anh D đã được Tòa án triu tập hợp l nhiều lần nhưng
ông Chu Anh D vắng mặt không tham gia tố tụng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
3.1. Văn phòng C1 - Người đại diện theo ủy quyền bà Đỗ Thị Hằng N1 trình
bày:
Ngày 12/11/2020 ông Trịnh Xuân V và ông Chu Anh D đến Văn phòng C1 yêu
cầu Văn phòng công chứng hợp đồng ủy quyền, theo đó ông Trịnh Xuân V là chủ sử
dụng quyền sử dụng đất đối với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, vào sổ số CS-
19483 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020, thông tin cụ th
như sau: Thửa đất số 261; tờ bản đồ số 7; Địa chỉ thửa đất: Phường T, TP ., tỉnh Đắk
Lắk; Din tích: 116,3m²; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất
ở đô thị. Đồng ý ủy quyền cho ông Chu Anh D được thay mặt mình thực hin các
quyền của chủ sử dụng đất, trong đó có quyền ký hợp đồng chuyn nhượng quyền sử
dụng đất.
Sau khi kim tra hồ sơ liên quan, Văn phòng C1 đã soạn thảo Hợp đồng ủy quyền
cho các bên. Trước khi công chứng hợp đồng, Văn phòng công chứng đã giải thích rõ
cho các bên về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng ủy quyền. Các bên đã
đọc và đồng ý toàn bộ nội dung của Hợp đồng ủy quyền và đã ký tên vào Hợp đồng.
Vic công chứng hợp đồng ủy quyền nêu trên là hoàn toàn đúng theo quy định của
pháp luật về công chứng và nội dung của các điều khoản trong hợp đồng đều dựa trên
ý chí tự nguyn của các bên. Sau khi hoàn tất thủ tục công chứng tại Văn phòng C1,
Văn phòng C1 đã trả toàn bộ hồ sơ cho các bên theo quy định.
Sau đó, vào ngày 22/3/2021 ông Chu Anh D và ông Lê Trần Quốc B mang theo
hợp đồng ủy quyền nêu trên và các giấy tờ liên quan đến Văn phòng C1 đ yêu cầu
Văn phòng công chứng vic chuyn nhượng quyền sử dụng đất của ông Trịnh Xuân
V nêu trên cho ông Lê Trần Quốc B. Dựa trên sự thỏa thuận của các bên về các điều
khoản trong hợp đồng công chứng bao gồm các điều khoản như điều khoản về đối
tượng chuyn nhượng, điều khoản về giá chuyn nhượng và phương thức thanh toán
... và sau khi kim tra hồ sơ có liên quan, Văn phòng C1 đã soạn thảo Hợp đồng
chuyn nhượng quyền sử dụng đất cho các bên. Trước khi công chứng hợp đồng, Văn
phòng công chứng đã giải thích rõ cho các bên về quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi
tiến hành giao dịch chuyn nhượng quyền sử dụng đất. Các bên đã đọc và đồng ý toàn
bộ nội dung của Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất và đã ký tên vào hợp
đồng. Vic công chứng hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là hoàn
toàn đúng theo quy định của pháp luật về công chứng và nội dung của các điều khoản
trong hợp đồng đều dựa trên ý chí tự nguyn của các bên. Sau khi hoàn tất thủ tục
công chứng tại Văn phòng C1, Văn phòng C1 đã trả toàn bộ hồ sơ cho các bên theo
quy định.
10
Đến ngày 08/4/2022, ông Lê Trần Quốc B và ông Nguyễn Đức T, bà Hồ Trần
Kim C có đến Văn phòng C1 đ yêu cầu Văn phòng công chứng vic chuyn nhượng
quyền sử dụng đất giữa các bên đối với thửa đất nói trên. Trong đó ông Lê Trần Quốc
B là bên chuyn nhượng, còn ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C là bên nhận
chuyn nhượng. Dựa trên sự thỏa thuận của các bên về các điều khoản trong hợp đồng
công chứng bao gồm các điều khoản như điều khoản về đối tượng chuyn nhượng,
điều khoản về giá chuyn nhượng và phương thức thanh toán ... và sau khi kim tra
hồ sơ có liên quan, Văn phòng C1 đã soạn thảo Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử
dụng đất cho các bên. Trước khi công chứng hợp đồng, Văn phòng công chứng đã
giải thích rõ cho các bên về quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tiến hành giao dịch
chuyn nhượng quyền sử dụng đất. Các bên đã đọc và đồng ý toàn bộ nội dung của
Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất và đã ký tên vào hợp đồng. Vic công
chứng hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là hoàn toàn đúng theo
quy định của pháp luật về công chứng và nội dung của các điều khoản trong hợp đồng
đều dựa trên ý chí tự nguyn của các bên. Sau khi hoàn tất thủ tục công chứng tại Văn
phòng C1, Văn phòng C1 đã trả toàn bộ hồ sơ cho các bên theo quy định.
Nay ông Trịnh Xuân V khởi kin ông Chu Anh D, ông Lê Trần Quốc B, bà Hồ
Trần Kim C đ yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng ủy quyền giữa ông Trịnh Xuân V
và ông Chu Anh D; tuyên vô hiu các hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất
nêu trên, Văn phòng C1 không đồng ý vì như đã trình bày ở trên, Văn phòng C1 đã
thực hin vic công chứng hợp đồng ủy quyền và các hợp đồng chuyn nhượng trên
theo đúng quy định pháp luật. Vì vậy, Văn phòng C1 đề nghị Tòa án giải quyết vụ
vic theo quy định pháp luật.
3.2. Chi nhánh khu vực Buôn M - Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, người
đại diện ông Nguyễn Văn M trình bày:
1. Ngày 23/3/2021, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B tiếp nhận
hồ sơ chuyn nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din
tích 116,3m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Đ cấp ngày 03/11/2020 cho ông Trịnh Xuân V.
Hồ sơ nộp kèm theo Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên
chuyn nhượng ông Trịnh Xuân V và bên nhận chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B
được Văn phòng C1 chứng nhận số 004076 quyền số 03-TP/CC-SCC/HĐGD ngày
22/3/2021 (ông Trịnh Xuân V đã ủy quyền cho ông Chu Anh D theo Hợp đồng ủy
quyền được Văn phòng C1 chứng nhận số 16337 quyền số 11-TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 12/11/2020). Ngày 29/3/2021, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố
B xác nhận chỉnh lý biến động chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B.
11
2. Ngày 12/4/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B tiếp nhận
hồ sơ chuyn nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din
tích 116,3m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Đ cấp ngày 03/11/2020 cho ông Trịnh Xuân V, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai thành phố B xác nhận chỉnh lý biến động chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc
B.
Hồ sơ nộp kèm theo Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên
chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B và bên nhận chuyn nhượng ông Nguyễn Đức
T, bà Hồ Trần Kim C được Văn phòng C1 chứng nhận số 08582 quyn số
04/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/4/2022. Ngày 21/4/2022, Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số DĐ 181383 cho ông Nguyễn Đức T, bà Hồ Trần Kim C.
Quan đim Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B về yêu cầu của
người khởi kin: Căn cứ khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều
79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Đất đai, vic Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành
phố B xác nhận chỉnh lý biến động chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B ngày
29/3/2021 và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 181383 ngày
21/4/2022 cho ông Nguyễn Đức T, bà Hồ Trần Kim C là đúng trình tự, thủ tục quy
định. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột căn cứ hồ sơ vụ vic đ
xem xét, bác nội dung yêu cầu của ông Trịnh Xuân V.
3.3. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ - Người đại diện theo ủy quyền
ông Nguyễn Văn M trình bày:
1. Ngày 23/3/2021, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B tiếp nhận
hồ sơ chuyn nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din
tích 116,3m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Đ cấp ngày 03/11/2020 cho ông Trịnh Xuân V.
Hồ sơ nộp kèm theo Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên
chuyn nhượng ông Trịnh Xuân V và bên nhận chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B
được Văn phòng C1 chứng nhận số 004076 quyền số 03-TP/CC-SCC/HĐGD ngày
22/3/2021 (ông Trịnh Xuân V đã ủy quyền cho ông Chu Anh D theo Hợp đồng ủy
quyền được Văn phòng C1 chứng nhận số 16337 quyền số 11-TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 12/11/2020). Ngày 29/3/2021, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố
B xác nhận chỉnh lý biến động chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B.
12
2. Ngày 12/4/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B tiếp nhận
hồ sơ chuyn nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din
tích 116,3m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Đ cấp ngày 03/11/2020 cho ông Trịnh Xuân V, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai thành phố B xác nhận chỉnh lý biến động chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc
B.
Hồ sơ nộp kèm theo Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên
chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B và bên nhận chuyn nhượng ông Nguyễn Đức
T, bà Hồ Trần Kim C được Văn phòng C1 chứng nhận số 08582 quyn số
04/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/4/2022. Ngày 21/4/2022, Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số DĐ 181383 cho ông Nguyễn Đức T, bà Hồ Trần Kim C.
Quan đim Sở Nông nghip và Môi trường tỉnh Đ về yêu cầu của người khởi
kin: Căn cứ khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 79 Nghị định
số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Đất đai, vic Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B xác
nhận chỉnh lý biến động chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B ngày 29/3/2021 và Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 181383 ngày 21/4/2022 cho ông
Nguyễn Đức T, bà Hồ Trần Kim C là đúng trình tự, thủ tục quy định. Đề nghị Tòa án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột căn cứ hồ sơ vụ vic đ xem xét, bác nội dung
yêu cầu của ông Trịnh Xuân V.
4. Người làm chứng ông Trịnh Xuân V1 trình bày:
Tôi là cha ruột của ông Trịnh Xuân V, đối với quan h làm ăn giao dịch giữa ông
V với ông Chu Anh D, ông Lê Trần Quốc B, bà Hồ Trần Kim C, ông Nguyễn Đức T
giữa họ làm như thế nào thì tôi không biết không liên quan. Vic các bên tranh chấp
tôi không có yêu cầu gì.
Về nguồn gốc căn nhà, đất tại địa chỉ 1 Đ, phường T, TP ., tỉnh Đắk Lắk thuộc
thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ thửa đất phường T TP . mà
các bên tranh chấp thì có nguồn gốc của bố mẹ tôi Trịnh Xuân G và Nguyễn Thị Xuân
T2 cho tôi và vợ Phạm Thị Minh T3 (đã chết năm 2004) vào ngày 28/5/2009. Sau đó
đến tháng 02/2020 tôi làm thủ tục tặng cho cháu Trịnh Xuân V và hoàn tất các thủ tục
theo quy định của pháp luật, giao nhà đất cho cháu V sử dụng từ tháng 02/2020. Vì
do cháu V đi làm thường xuyên nên tôi đến nhà trông coi từ đó đến nay không thấy
có ai đến ở hay đến thuê căn nhà trên của cháu V, đồng thời cũng không thấy ai hỏi
mua bán căn nhà trên của cháu V. Ngoài ra tôi không biết gì khác, tôi không có ý kiến
yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề gì khác.
13
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2025/DSST ngày 26/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Áp dụng: Điều 5, các khoản 3, 9, 11 Điều 26, đim a khoản 1 Điều 35, đim a
khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227, khoản
3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Các Điều 116, 122, 124, 131, 133, 407, 423, 427 Bộ luật Dân sự;
- Các Điều 13, 17, 105, 106, 166, 168 Luật Đất đai;
- Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn ông Trịnh Xuân V.
- Hủy Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền ông Trịnh Xuân V với bên được
ủy quyền ông Chu Anh D được Văn phòng C1 công chứng ngày 12/11/2020, số công
chứng 16337, quyn số 11TP/CC-SCC/HĐGD.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn
nhượng ông Trịnh Xuân V, bên nhận chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B đối với
thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào sổ cấp CS-19483 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V, được
công chứng tại Văn phòng C1 ngày 22/03/2021, số công chứng 004076, quyn số
03TP/CC-SCC/HĐGD là hợp đồng vô hiu.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn
nhượng Lê Trần Quốc B với bên nhận chuyn nhượng bà Hồ Trần Kim C và ông
Nguyễn Đức T đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất
tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào sổ cấp CS-
19483 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông
Trịnh Xuân V; Nội dung thay đổi: Chuyn nhượng cho ông Lê Trần Quốc B, được
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B xác nhận ngày 29/3/2021; Hợp
đồng được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 08/4/2022, số công chứng 08582,
quyn số 04TP/CC-SCC/HĐGD là hợp đồng vô hiu.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên h với các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đ làm các thủ tục thay đổi, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và thực hin nghĩa vụ tài chính nếu có
theo quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kin của nguyên đơn ông Trịnh Xuân V,
về vic: Buộc ông Trịnh Xuân V phải trả lại cho ông Chu Anh D số tiền 420.000.000
14
đồng; Buộc ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C phải giao lại Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 181383,
số vào sổ cấp GCN CS-17394 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày
21/4/2022 cho ông Trịnh Xuân V; Xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiu đối
với các yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn
nhượng ông Trịnh Xuân V, bên nhận chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B đối với
thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào sổ cấp CS-19483 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V, được
công chứng tại Văn phòng C1 ngày 22/3/2021, số công chứng 004076, quyn số
03TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiu và yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyn nhượng quyền
sử dụng đất giữa bên chuyn nhượng Lê Trần Quốc B với bên nhận chuyn nhượng
bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din
tích 116,3m2, địa chỉ đất tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV
747892, số vào sổ cấp CS-19483 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày
03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V; Nội dung thay đổi: Chuyn nhượng cho ông
Lê Trần Quốc B, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B xác nhận
ngày 29/3/2021; Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 08/4/2022, số
công chứng 08582, quyn số 04TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiu. Nếu có tranh chấp thì
có quyền khởi kin lại theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, về trình tự thủ
tục thi hành án dân sự cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 07 tháng 10 năm 2025 ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C nộp đơn
kháng cáo, với nội dung là kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét
xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kin của nguyên đơn hoặc hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kin;
bị đơn ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng
cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp
luật tố tụng dân sự;
- Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức T và bà Hồ
Trần Kim C là không có căn cứ đ chấp nhận, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông T và bà C, giữ nguyên quyết định
của Bản án dân sự sơ thẩm số:151/2025/DSST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân
Khu vực 1 - Đắk Lắk.
15
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết
quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C là trong hạn
luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được giải quyết theo trình
tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim
C, thì thấy:
[2.1]. Giữa ông Trịnh Xuân V và ông Chu Anh D có vic vay mượn tiền của
nhau nhiều lần, cụ th: Đối với các lần vay với số tiền 50.0000.000 đồng và
100.000.000 đồng thì ông V đã trả cho ông D. Đến ngày 09/3/2021, ông V tiếp tục
vay tiền của ông D và ông D đã chuyn tiền bằng tài khoản cho ông V là 5 lần với
tổng số tiền 420.000.000 đồng là phù hợp với bản sao kê tài khoản tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Á - Chi nhánh Đ - Phòng G1. Đ đảm bảo cho vic vay mượn
tiền này ông V phải đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892 của ông V đến phòng công chứng đ làm
hợp đồng ủy quyền cho ông D sử dụng thửa đất của ông V đ đảm bảo cho khoản
vay. Hai bên đã làm Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền Trịnh Xuân V, bên được
ủy quyền Chu Anh D có nội dung: Ông V ủy quyền cho ông D được toàn quyền sử
dụng, chuyn nhượng, tặng cho, cho thuê, cho mượn, thế chấp, vay vốn đối với thửa
đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m², địa chỉ đất tại phường T, TP ., tỉnh Đắk
Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CV 747892 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày
03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V, được Văn phòng C1 công chứng ngày
12/11/2020, số công chứng 16337, quyền số 11TP/CC-SCC/HĐGD. Do hợp đồng ủy
quyền chỉ là cơ sở đảm bảo đ ông D cho ông V vay tiền chứ không phải mục đích
ủy quyền đ cho ông D được toàn quyền sử dụng, chuyn nhượng, tặng cho, cho thuê,
cho mượn, thế chấp, vay vốn ... Đến nay ông V vẫn chưa thanh toán số tiền
420.000.000 đồng cho ông D, nên yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền là có căn cứ.
Đối với hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê Trần Quốc B,
được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 22/3/2021 thì: Giả chuyn nhượng ghi trong
hợp đồng là 50.000.000 đồng, phương thức thanh toán bằng tiền mặt thì ông B xác
định là ông Chu Anh D nhờ ông đứng tên thửa đất nên ông đến văn phòng C1 làm
hợp đồng chuyn nhượng, trong đó ông D là người ký bên chuyn nhượng, ông là bên
nhận chuyn nhượng quyền sử dụng đất, giữa ông và ông D không có vic giao nhận
tiền nào, không giao giấy tờ gì và ông không biết thửa đất ông D nhờ ông đứng tên là
16
của ai, địa chỉ nhà đất, đặc đim như thế nào, không có tiến hành vic giao nhận đất
trên thực địa. Mặt khác, trên thửa đất chuyn nhượng còn có 01 căn nhà xây cấp 4
din tích 45,5m² nhưng không được các bên thỏa thuận giải quyết cụ th như thế nào,
sau khi thực hin xong các thủ tục thì ông B được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai thành phố B xác nhận ngày 29/3/2021, vic chuyn nhượng và được chỉnh lý biến
động thì ông V không được biết, ông V vẫn đang là người quản lý, sử dụng din tích
nhà đất của mình.
Như vậy, vic chuyn nhượng trên thực tế không có thanh toán tiền, giả chuyn
nhượng ghi trong hợp đồng không đúng thực tế, mục đích nội dung của hợp đồng
không đúng, không giao nhận nhà đất trên thực địa, không tuân thủ đúng quy định
của pháp luật; Ông Trịnh Xuân V không được biết tài sản của mình đã được chuyn
nhượng cho ông Lê Trần Quốc B và ông Trịnh Xuân V vẫn đang là người quản lý, sử
dụng din tích nhà đất của mình. Đồng thời, sau khi thực hin chuyên nhượng ông
Chu Anh D không thông báo cho ông Trịnh Xuân V biết về vic thực hin công vic
thuộc phạm vi ủy quyền, cụ th là vic ông D đã sử dụng Hợp đồng ủy quyền đ thay
mặt ông V thực hin vic chuyn nhượng quyền sử dụng đất của ông V cho ông B,
không giao cho ông V những tài sản và lợi ích thu được trong khi thực hin công vic
được ủy quyền. Như vậy, ông Chu Anh D đã vi phạm nghĩa vụ và quyền của mình
theo cam kết tại điều 4 của Hợp đồng uỷ quyền giữa bên ủy quyền ông Trịnh Xuân V
với bên được ủy quyền ông Chu Anh D, được Văn phòng C1 công chứng ngày
12/11/2020.
Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn hủy Hợp đồng
ủy quyền giữa bên ủy quyền ông Trịnh Xuân V, bên được ủy quyền ông Chu Anh D
được Văn phòng C1 công chứng ngày 12/11/2020, số công chứng 16337, quyền số
11 TP/CC-SCC/HĐGD. Do hủy hợp đồng ủy quyền nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu
khởi kin của nguyên đơn tuyên Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa
bên chuyn nhượng ông Trịnh Xuân V, bên nhận chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc
B đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m², địa chỉ đất tại phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào số cấp CS-19483 do Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V,
được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 22/3/2021, số công chứng 004076, quyền
số 03TP/CC-SCC/HĐGD là hợp đồng vô hiu.
[2.2]. Do hủy hợp đồng ủy quyền giữa ông Trịnh Xuân V và ông Chu Anh D và
hợp đồng chuyn nhượng giữa ông Chu Anh D và ông Lê Trần Quốc B bị vô hiu
nên Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn nhượng Lê Trần
Quốc B với bên nhận chuyn nhượng bà Hồ Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T đối
với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m², địa chỉ đất tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
17
và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào số cấp CS-19483 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V; Nội
dung thay đổi: Chuyn nhượng cho ông Lê Trần Quốc B, được Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai thành phố B xác nhận ngày 29/3/2021; Hợp đồng được công chúng
tại Văn phòng C1 ngày 08/4/2022, số công chứng 08582, quyn số 04TP/CC-
SCC/HĐGD là vô hiu.
[2.3]. Ông T và bà C cho rằng tại phiên tòa sơ thẩm ông bà có yêu cầu giải quyết
hậu quả của hợp đồng vô hiu nhưng không được Tòa án giải quyết thì thấy: Qúa
trình tham gia tố tụng, tại các biên bản làm vic với bà C, ông T (BL 165, 69, 247,
248), Biên bản về vic không tiến hành mở phiên họp kim tra vic giao - nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải được (BL 263-266) và tại phiên tòa người đại
din theo ủy quyền của ông T, bà C là ông Lê Thành N có mặt nhưng không th hin
nội dung có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiu, vic ông Trịnh Xuân
V thay đổi rút một phần yêu cầu khởi kin là quyền tự định đoạt của các đương sự.
Mặt khác người ký bán hộ là ông Lê Trần Quốc B không nhận tiền người mua là ông
T, bà C, ông bà cũng không cung cấp được chứng cứ đã giao tiền nên cần tách ra khi
có chứng cứ và có yêu cầu là phù hợp, nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ là đúng quy
định.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức T
và bà Hồ Trần Kim C là không có căn cứ đ chấp nhận, mà cần giữ nguyên quyết
định của bản án sơ thẩm là phù hợp.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận
nên ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo
quy định của pháp luật.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức T và bà Hồ
Trần Kim C. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2025/DSST ngày 26/9/2025
của Toà án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk.
- Áp dụng: Điều 5, các khoản 3, 9, 11 Điều 26, đim a khoản 1 Điều 35, đim a
khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227, khoản
3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự,
- Các Điều 116, 122, 124, 131, 133, 407, 423, 427 Bộ luật Dân sự,
- Các Điều 13, 17, 105, 106, 166, 168 Luật Đất đai; Điều 6, khoản 2 Điều 26
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
18
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn ông Trịnh Xuân V.
- Hủy Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền ông Trịnh Xuân V với bên được
ủy quyền ông Chu Anh D được Văn phòng C1 công chứng ngày 12/11/2020, số công
chứng 16337, quyền số 11TP/CC-SCC/HĐGD.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn
nhượng ông Trịnh Xuân V, bên nhận chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B đối với
thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m², địa chỉ đất tại phường T, thành phố
B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào số cấp CS-19483 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V, được công
chứng tại Văn phòng C1 ngày 22/03/2021, số công chứng 004076, quyền số
03TP/CC-SCC/HĐGD là hợp đồng vô hiu.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn
nhượng Lê Trần Quốc B với bên nhận chuyn nhượng bà Hồ Trần Kim C và ông
Nguyễn Đức T đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m², địa chỉ đất
tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào số cấp CS-
19483 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông
Trịnh Xuân V; Nội dung thay đổi: Chuyn nhượng cho ông Lê Trần Quốc B, được
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B xác nhận ngày 29/3/2021; Hợp
đồng được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 08/4/2022, số công chứng 08582,
quyền số 04TP/CC- SCC/HĐGD là hợp đồng vô hiu.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên h với các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đ làm các thủ tục thay đổi, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và thực hin nghĩa vụ tài chính nếu có
theo quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kin của nguyên đơn ông Trịnh Xuân V,
về vic: Buộc ông Trịnh Xuân V phải trả lại cho ông Chu Anh D số tiền 420.000.000
đồng; Buộc ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C phải giao lại Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 181383,
số vào số cấp GCN CS-17394 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày
21/4/2022 cho ông Trịnh Xuân V; Xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiu đối
với các yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyn
nhượng ông Trịnh Xuân V, bên nhận chuyn nhượng ông Lê Trần Quốc B đổi với
thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích 116,3m², địa chỉ đất tại phường T, thành phố
B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
19
sản khác gắn liền với đất số CV 747892, số vào số cấp CS-19483 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020 mang tên ông Trịnh Xuân V, được công
chứng tại Văn phòng C1 ngày 22/3/2021, số công chứng 004076, quyền số 03TP/CC-
SCC/HĐGD là vô hiu và yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng
đất giữa bên chuyn nhượng Lê Trần Quốc B với bên nhận chuyn nhượng bà Hồ
Trần Kim C và ông Nguyễn Đức T đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 7, din tích
116,3m², địa chỉ đất tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 747892,
số vào số cấp CS-19483 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/11/2020
mang tên ông Trịnh Xuân V; Nội dung thay đổi: Chuyn nhượng cho ông Lê Trần
Quốc B, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B xác nhận ngày
29/3/2021; Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 08/4/2022, số công
chứng 08582, quyền số 04TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiu. Nếu có tranh chấp thì có
quyền khởi kin lại theo quy định của pháp luật.
3. Về tiền chi phí đo đạc địa chính thửa đất; xem xét thẩm định, tại chỗ; định giá
tài sản; thu thập tài liu, chứng cứ:
- Ông Chu Anh D, ông Lê Trần Quốc B, bà Hồ Trần Kim C, ông Nguyễn Đức T
mỗi người phải chịu số tiền 1.984.000 đồng/người (Bao gồm tiền chi phí: Đo đạc địa
chính thửa đất là 3.236.000 đồng; xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.500.000 đồng; định
giá tài sản là 2.000.000 đồng; thu thập tài liu chứng cứ là 1.200.000 đồng).
- Ông Trịnh Xuân V được nhận lại 7.936.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp sau khi
cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thu được của ông Chu Anh D, ông Lê
Trần Quốc B, bà Hồ Trần Kim C, ông Nguyễn Đức T.
4. Về án phí:
4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Chu Anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
- Ông Lê Trần Quốc B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 600.000 đồng.
- Bà Hồ Trần Kim C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
- Ông Nguyễn Đức T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
- Hoàn trả cho ông Trịnh Xuân V số tiền 11.600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp
(Bà H' Ngin ÊBan nộp thay) theo biên lai thu tạm ứng án phí, l phí Toà án số
AA/2023/0010037 ngày 13/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C mỗi người phải chịu 300.000 đồng
án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm mà ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Trần Kim C đã nộp theo biên lai số
0002702 ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
20
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Vin Công tố và kim sát xét xử phúc (Đã ký)
thẩm tại Đà Nẵng (Vin phúc thẩm 2);
- VKSND tỉnh Đắk Lắk,
- TAND Khu vực 1 – Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk:
- Đương sự; Nguyễn Đình Triết
- Lưu.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng