Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 26/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 21/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 26/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 21/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/08/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Bùi Thị Hoài T xin ly hon với ông Đào Xuân V, giao 02 con chung cho a V nuôi dưỡng và cấp dưỡng cho 01 con chung |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – ĐẮK LẮK
Bản án số: 21/2025/HNGĐ – ST
Ngày 26/8/2025.
V/v: Xin ly hôn, tranh chấp
về nuôi con chung.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐẮK LẮK
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà H’Năm Bkrông.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Bà Nguyễn Thị Lan.
2.Ông Lý Viết Chấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhị – Thư ký Toà án nhân dân khu vực
4 - Đắk Lắk.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên
tòa: Bà Phạm Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại Toà án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 202/2025/TLST-HNGĐ
ngày 16 tháng 5 năm 2025 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm
2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 09a/2025/QĐST-DS ngày 13/8/2025, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hoài T, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn 17, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là thôn 17B, xã E, tỉnh Đắk
Lắk) (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2.Bị đơn: Ông Đào Xuân V, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Thôn 17, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là thôn 17B, xã E, tỉnh Đắk
Lắk) (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1.Trong bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị Hoài
T trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Đào Xuân V có tìm hiểu, yêu thương và
chúng sống với nhau, đến ngày 26/12/2010 chúng tôi có đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện. Sau một thời gian
chung sống hạnh phúc thì chúng tôi phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất
đồng, tính tình không hợp nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù đã cố gắng hòa

2
giải nhưng do mâu thuẫn trầm trọng nên chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2019
cho đến nay. Xét thấy không còn tình cảm với nhau nên tôi đề nghị Tòa án giải
quyết cho tôi được ly hôn với anh V.
-Về con chung: Trong thời gian chung sống chúng tôi có 02 con chung là
cháu Đào Phương V, sinh ngày 13/01/2011 và cháu Đào Minh K, sinh ngày
20/3/2016. Khi vợ chồng sống ly thân, do tôi phải đi làm xa nên 02 cháu sống cùng
bố. Vì vậy tôi có nguyện vọng giao 02 cháu cho anh Việt nuôi dưỡng cho đến khi
các cháu trưởng thành.
-Về yêu cầu cấp dưỡng: Quá trình sống ly thân do hiện nay tôi làm xa nhà,
các con đều do anh Việt đang trực tiếp nuôi dưỡng, mặc dù tôi vẫn gửi tiền ăn
học cho các con hàng tháng nhưng để đảm bảo việc nuôi con và chia sẻ trách
nhiệm của một người mẹ, tôi tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000
đồng/tháng đối với cháu Đào Minh K, sinh ngày 20/3/2016 cho đến khi cháu
trưởng thành.
-Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn, ông Đào Xuân V vắng mặt.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Đắk Lắk6 về
việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và
nội dung vụ án:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán
chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay,
Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên
đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị
đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116,
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị Hoài T được ly hôn với ông Đào
Xuân V.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đào Phương V, sinh ngày
13/01/2011 và cháu Đào Minh K, sinh ngày 20/3/2016.
Giao cháu Đào Phương V, sinh ngày 13/01/2011 và cháu Đào Minh K, sinh
ngày 20/3/2016 cho ông Đào Xuân V nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi
trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị Hoài T phải cấp dưỡng nuôi cháu Đào
Minh K, sinh ngày 20/3/2016 là 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ
khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đào Minh K đủ 18 tuổi.
Đối với tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Hoài T không yêu cầu nên
không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm
tra tại phiên toà, xem xét ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1].Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn
nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1
Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện (nay là Tòa án nhân dân khu vực) theo quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân
sự.
[2].Về trình tự thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn ông Đào Xuân V đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý
do, nguyên đơn bà Bùi Thị Hoài T có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng
xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227,
228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3].Về nội dung:
3.1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hoài T và ông Đào Xuân V có tìm
hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày
26/12/2010, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá
trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung, sau một thời gian chung sống vợ
chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng nên đã sống ly thân. Quá
trình giải quyết vụ án, bà Thương xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề
nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đào Xuân V. Quá trình giải quyết vụ án ông
Đào Xuân V không tham gia tố tụng.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Bùi Thị Hoài T và ông Đào
Xuân V đã đến mức trầm trọng, vợ chồng mâu thuẫn nhưng không có biện pháp
hàn gắn hạnh phúc gia đình, ông Việt vắng mặt tại phiên tòa nên không thể xác
định nguyện vọng của ông về quan hệ hôn nhân, còn bà T xác định tình cảm không
còn và kiên quyết xin ly hôn. Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương,
mặc dù địa phương không nắm cụ thể mâu thuẫn vợ chồng, tuy nhiên xác định
được hai vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Như vậy thấy được quan
hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị Hoài T và ông Đào Xuân V không thể kéo dài, mục
đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi
Thị Hoài T, cho bà Bùi Thị Hoài T được ly hôn với ông Đào Xuân V.
3.2.Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu
Đào Phương V, sinh ngày 13/01/2011 và cháu Đào Minh K, sinh ngày 20/3/2016,
trong quá trình giải quyết bà Thương có nguyện vọng giao cả 02 con cho ông Việt
nuôi dưỡng do bà đi làm xa, hiện nay 02 con chung do ông Việt đang trực tiếp nuôi
dưỡng. Tòa án đã triệu tập ông Việt đến tham gia tố tụng để ghi nhận nguyện vọng
của các cháu Đào Phương V và Đào Minh K nhưng ông Việt không hợp tác nên
không thể ghi nhận nguyện vọng của các cháu. Qua xác minh tại chính quyền địa
phương thì hiện nay 02 cháu đang sống cùng bố, sinh sống và đi học bình thường.
Để không làm xáo trộn cuộc sống của các con thì việc giao cháu Đào Phương V và
cháu Đào Minh K cho ông Đào Xuân V nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi
trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp và đúng với quy định tại khỏan 2 Điều 81
Luật Hôn nhân và gia đình, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Hoài T.

4
Bà Bùi Thị Hoài T được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà
không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên bà Thương không được lạm dụng việc thăm
nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay
đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
-Về cấp dưỡng con nuôi chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Bùi Thị Hoài
T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng đối với cháu
Đào Minh K, sinh ngày 20/3/2016 cho đến khi cháu trưởng thành.
Xét thấy vợ chồng bà Thương, ông Việt có 02 con chung, như vậy khi ly
hôn cả hai vợ chồng cùng có trách nhiệm nuôi con. Bà Bùi Thị Hoài T không trực
tiếp nuôi con nên phải có trách nhiệm cùng đóng góp phí tổn nuôi con. Quá trình
giải quyết vụ án bà Bùi Thị Hoài T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là
2.000.000 đồng/tháng đối với cháu Đào Minh K, sinh ngày 20/3/2016 cho đến khi
cháu trưởng thành là hợp lý và có căn cứ chấp nhận. Vì vậy buộc bà Bùi Thị Hoài
T cấp dưỡng nuôi cháu Đào Minh K, sinh ngày 20/3/2016, mức cấp dưỡng nuôi
con chung là 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án có
hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đào Minh K đủ 18 tuổi .
3.3.Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Hoài T không
yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
[4]. Về án phí: Bà Bùi Thị Hoài T phải chịu án phí hôn nhân gia đình và án
phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[5]. Xét ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát khu vực 4 – Đắk Lắk là có
căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116,
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị Hoài T được ly hôn với ông Đào
Xuân V.
2.Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đào Phương V, sinh ngày
13/01/2011 và cháu Đào Minh K, sinh ngày 20/3/2016.
Giao cháu Đào Phương V, sinh ngày 13/01/2011 và cháu Đào Minh K, sinh
ngày 20/3/2016 cho ông Đào Xuân V hương nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ
tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Bà Bùi Thị Hoài T được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà
không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên bà T không được lạm dụng việc thăm nom con
chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo
dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi
việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
5
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Bùi Thị Hoài T phải cấp dưỡng nuôi cháu
Đào Minh K, sinh ngày 20/3/2016 là 2.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng
tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đào Minh K đủ 18 tuổi.
3.Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Hoài T không yêu
cầu nên không đặt ra để giải quyết.
4.Về án phí: Nguyên đơn bà Bùi Thị Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí
Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án
phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003211 ngày 13/5/2025 tại
Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 4 - Đắk Lắk).
Bà Bùi Thị Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp
dưỡng nuôi con chung.
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ
thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản
án được niêm yết hợp lệ.
*Nơi nhận:
-TAND tỉnh Đắk Lắk;
-VKSND khu vực 4-Đắk Lắk;
-Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
-UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk;
-Các đương sự;
-Lưu hồ sơ, TA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
H’ Năm Bkrông
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
6
Nguyễn Thị Lý Viết Chấn H’Năm Bkrông
7
8
9
10
11
12
13
14
15
*Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-TAND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-VKSND Tp. BMT;
-Chi cục THADS Tp.BMT;
-UBND xã Long Thạnh
H.Giồng Riềng, Kiên Giang;
-Các đương sự;
-Lưu hồ sơ, TA.
H’ Năm Bkrông
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm