Bản án số 20/2026/HNGĐ-PT ngày 08/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 20/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 20/2026/HNGĐ-PT ngày 08/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 20/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/06/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNPT-VKS-HNPT ngày 28/01/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng. Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Lê Quang L, bà Đoàn Thị Thùy D. Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 04/2026/HNGĐ-ST ngày 14/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 20/2026/HNGĐ-PT Bản án số 20/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 20/2026/HNGĐ-PT Bản án số 20/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 20/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 08-6-2026
V/v: “Chia tài sản sau ly hôn,
tranh chấp hợp đồng tín dụng
tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Dư Thành Trung
Ông Dương Hà Ngân
- Thư ký phiên toà: Trần Thị Tâm Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Nguyễn Viết Cường
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 08 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 26/2026/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm
2026 về tranh chấp: “Chia tài sản sau ly hôn, hợp đồng tín dụng hợp đồng đặt
cọc”.
Do Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 14 tháng
01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng bị kháng cáo, kháng
nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2026/QĐ-PT ngày 11 tháng 5
năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 277/2026/QĐ-PT ngày
26/5/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Quang L, sinh m: 1988; địa chỉ: thôn T, Đ, tỉnh
Lâm Đồng, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Chị Phạm Huyền T, sinh năm: 2000; địa chỉ: thôn
H, N, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số
3064/2026/CCGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 04/6/2026), có mặt.
Bị đơn: Đoàn Thị Thùy D, sinh năm: 1989; địa chỉ: thôn H, Đ, tỉnh
Lâm Đồng, vắng mặt.
2
Người đại diện hợp pháp: Ông Đoàn Trung K, sinh năm: 1990; địa chỉ: thôn
H, Đ, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số
005508, quyển số 12/2024TP/CC-SCC-HĐGD do Văn phòng C2 chứng nhận ngày
12/10/2024), vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Phạm Văn H, sinh năm: 1988; địa chỉ: số B, thôn B, T, tỉnh Lâm
Đồng, vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H: Luật Nguyễn Thị
T1, sinh năm: 1993. Luật sư của Văn phòng luật Dương Đình N - Đoàn Luật sư
tỉnh L; địa chỉ: số F, đường N, thôn B, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
2/ Ông Nguyễn Thành N1, sinh năm: 1996; địa chỉ: thôn Q, Đ, tỉnh Lâm
Đồng, vắng mặt.
3/ Ông Đoàn Trung K, sinh năm: 1990; địa chỉ: thôn H, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng,
vắng mặt.
4/ Vợ chồng ông Đoàn Văn C, sinh năm: 1983, Thanh Ý, sinh năm:
1991; địa chỉ: thôn H, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
5/ Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1961; địa chỉ: thôn H, Đ, tỉnh Lâm Đồng,
vắng mặt.
6/ Vợ chồng ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm: 1990, Phạm Hồng T2, sinh
năm: 1995; địa chỉ: thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của T2: Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm: 1990;
địa chỉ: thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy
quyền số 0624, quyển số 02/2025 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 chứng
nhận ngày 14/02/2025), vắng mặt.
7/ Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A1). Địa chỉ: số D, đường N, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp:
+ Ông Từ Tiến P, là người đại diện theo pháp luật (Tổng Giám đốc).
+ Ông Nguyễn Đình L2, ông Thanh H2, người đại diện theo ủy quyền
(Văn bản y quyền số 1285/UQ-QLN.22 ngày 05/7/2022 số 1213/UQ-QLN.24
ngày 06/8/2024); cùng địa chỉ: lầu H, tòa nhà A, 444A 446, đường C, phường N,
Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
+ Ông Đinh Ngọc H3, sinh năm: 1996; địa chỉ: số A - A, đường P, xã Đ, tỉnh
Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 2103/UQ-
QLN.24 ngày 11/11/2024 và số 31/UQ-QLN.25 ngày 09/01/2025), có mặt.
3
+ Ông Nguyễn Ngọc H4; địa chỉ: lầu H, tòa nhà A, 444A 446, đường C,
phường N, Thành phố HChí Minh, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy
quyền số 1311/UQ-QLN.25 ngày 25/8/2025), vắng mặt.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lâm
Đồng.
Người kháng cáo: Ông Quang L Nguyên đơn; Đoàn Thị Thùy D Bị
đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 23/8/2024 của ông Quang L, lời trình
bày tại các bản tự khai trong quá trình tham gia tố tụng tại giai đoạn thẩm
của chị Phạm Huyền T, người đại diện theo ủy quyền của ông L, thì:
Ông Quang L Đoàn Thị Thùy D đã ly hôn theo Quyết định công
nhận thuận tình ly hôn số 06/2024/QĐCNTTLH ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân
dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (nay a án nhân dân khu vực 2 m
Đồng). Tại Quyết định nói trên thể hiện phần tài sản chung ông L, D tự thỏa
thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tháng 7/2024 ông L nhận được Quyết định số 21/QĐ-CCTHADS ngày
30/7/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (nay
Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3 Lâm Đồng) với nội dung tạm dừng việc
thay đổi việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sdụng, thay đổi hiện trang tài sản
của bà Đoàn Thị Thùy D. Đối với tài sản: quyền sử dụng đất diện tích 159m
2
(đất ở
nông thôn 50m
2
, đất trồng cây lâu năm 109m
2
), thuộc thửa số 3182, tờ bản đồ số
16 tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay là thôn T, xã Đ) đã được Ủy ban
nhân n huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 845954 ngày
28/5/2013; ông L, bà D được cập nhật, điều chỉnh biến động sang tên ngày
13/12/2021.
Đến tháng 8/2024 ông L tiếp tục nhận được Thông báo số 165/TB-THADS
ngày 12/8/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lâm (nay Phòng Thi
hành án Dân sự khu vực 3 Lâm Đồng) về việc xác định quyền sở hữu, sử dụng
đối với tài sản thi hành án trong thời hạn 30 ngày phải khởi kiện để phân chia i
sản chung là quyền sử dụng đất trên.
Do không thể tthỏa thuận với nhau được về việc phân chia toàn bộ tài sản
chung nên nay ông L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Chia tài sản sau
khi ly hôn đối với diện tích đất 159m
2
thuộc thửa số 3182, tờ bản đồ số 16 tại thôn
T, T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay thôn T, Đ) diện tích đất 802m
2
thuộc thửa số 625, tờ bản đồ số 12 tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm
Đồng (nay thôn K, Đ, tỉnh Lâm Đồng); ông L yêu cầu được nhận bằng hiện
vật quyền sdụng diện tích đất 159m
2
thuộc thửa số 3182, tờ bản đồ số 16 tại
4
thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; đồng ý giao diện tích đất 802m
2
thuộc thửa
số 625, tờ bản đồ số 12 tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L (nay thôn K, xã Đ
H), tỉnh Lâm Đồng cho bà Đoàn Thị Thùy D trực tiếp quản lý, sử dụng.
Ngoài ra, ông L với bà D còn tài sản chung nào khác hay không thì chị T
không được biết và ông L không có tài sản riêng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông L đã làm đơn xin rút một phần yêu cầu
khởi kiện chia tài sản sau khi ly hôn đối với diện tích đất 802m
2
thuộc thửa số 625,
tờ bản đồ 12 tại khu phố K, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay thôn K,
Đ H) do phần diện tích đất này ông L, D đang thế chấp tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Á (A1) để vay vốn; chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết: chia tài sản sau khi
ly hôn đối với diện tích đất 208m
2
thuộc thửa số 3182, tờ bản đồ số 16 (BĐ 299)
nay đo đạc thành thửa 360, tờ bản đồ số 15 (2022) tại thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng
(trong đó 15m
2
thuộc quy hoạch lộ giới) theo họa đồ đo đạc thửa đất theo hiện
trạng ngày 04/11/2025 do Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện và yêu cầu được nhận
bằng hiện vật, đồng ý thanh toán lại cho D ½ gtrị tài sản theo kết quả thẩm
định giá với số tiền 1.989.835.500đ (3.979.671.000đ (193m
2
đất ODT+CLN x
17.110.000đ/m
2
, 15m
2
đất lộ giới x 153.900đ/m
2
công trình xây dựng trên đất
675.132.722đ)/2).
Hiện nay ông L người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02
con chung là Lê Đoàn Hải N2, sinh ngày 13/3/2013 và Lê Ngọc Minh A, sinh ngày
30/8/2023, nhà, quyền sử dụng đất đang tranh chấp hiện do ông L đang quản lý, sử
dụng; là chỗ ở duy nhất của ông L và các con chung; trong khi đó bà D không trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nào hiện nay cũng đã đi làm ăn
nơi khác. Trong trường hợp ông L nhận bằng hiện vật thì ảnh hưởng đến việc
thi hành khoản nợ bà D nợ ông H theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự s41/2024/QĐST-DS ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm
Hà, tỉnh Lâm Đồng (nay Tòa án nhân dân khu vực 3 Lâm Đồng), D
nghĩa vthanh toán cho ông Phạm Văn H số tiền 4.500.000.000đ hay không thì
không biết.
Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 845954 do Ủy ban
nhân dân huyện L cấp ngày 28/5/2013; ông L, D được cập nhật điều chỉnh biến
động sang tên ngày 13/12/2021 hiện nay D đang giữ.
Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A1) về việc
yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Buộc bà Đoàn Thị Thùy D, ông Lê Quang L trả cho Ngân hàng thương mại
cổ phần Á (A1) tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 11/9/2025 5.314.135.763đ
(trong đó gồm vốn gốc 4.499.955.378đ, lãi trong hạn 101.991.781đ, lãi quá hạn
677.623.145đ, phạt chậm trả lãi 34.565.459đ).
5
+ Buộc Đoàn Thị Thùy D, ông Quang L còn phải tiếp tục trả tiền lãi,
phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại thỏa thuận về các điều
khoản điều kiện tín dụng chung, hợp đồng cấp tín dụng, giấy đề nghị giải ngân
kiêm chứng từ nhận nợ kể từ ngày 12/9/2025 đến ngày trả hết nợ.
+ Tiếp tục duy trì các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
LAH.BĐCN.55.030221 ngày 03/02/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số LAH.
BĐCN.55.030221/SĐBS-01 ngày 19/01/2022; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số LAH.
BĐCN.55.030221/SĐBS-02 ngày 12/01/2023; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số LAH.
BĐCN.55.030221/SĐBS-03 ngày 30/10/2023 Hợp đồng thế chấp tài sản số
LAH.BĐCN.13.120123 ngày 12/01/2023, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số LAH.
BĐCN.13.120123/SĐBS-01 ngày 30/10/2023 để đảm bảo thi hành án thu hồi
nợ.
+ Nếu bà Đoàn Thị Thùy D, ông Lê Quang L không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ trả nợ thì các tài sản bảo đảm sau đây được quan thẩm
quyền xử để thu hồi nợ: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa
đất số 120, tờ bản đồ số 09 tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L (nay là xã Đ), tỉnh
Lâm Đồng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Đoàn Thị Thùy D quyền sử
dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 625, tờ bản đồ số 12 tại khu phố
C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Đoàn
Thị Thùy D, ông Lê Quang L.
+ Tuyên hiệu hợp đồng đặt cọc ngày 05/02/2024 giữa ông Nguyễn Thành
N1Đoàn Thị Thùy D.
Chị T, đại diện cho ông L, ý kiến như sau: Ông L thừa nhận trong thời kỳ
hôn nhân thì ông L, bà D có ký kết hợp đồng thế chấp và hợp đồng tín dụng để vay
số tiền 4.500.000.000đ như Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A1) khởi kiện, mục
đích vay tiền theo hợp đồng tín dụng để sản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu
động, bổ sung vốn kinh doanh gia công nhôm kính. Tuy nhiên, sau khi vay được
tiền, D người sử dụng toàn bộ số tiền này vào mục đích kinh doanh riêng, cụ
thể thế nào thì ông L không được biết. Do đó, ông L không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A1) về việc buộc ông cùng với bà
D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á tổng số tiền tính đến ngày
11/9/2025 5.314.135.763đ (trong đó gồm nợ gốc 4.499.955.378đ, lãi trong hạn
101.991.781đ, lãi quá hạn 677.623.145đ, phạt chậm trả lãi 34.565.459đ) không
đồng ý tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh. Do D sử dụng toàn bộ số tiền vay n
phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và tiền lãi phát sinh. Hiện nay, ông L không
còn nợ bất kỳ cá nhân, tổ chức số tiền nào khác.
Đối với các yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp, xử tài sản thế chấp
thì ông L đồng ý.
6
Đối với việc Ngân hàng thương mại cổ phần Á yêu cầu tuyên hiệu hợp
đồng đặt cọc ngày 05/02/2024 giữa ông Nguyễn Thành N1 và bà Đoàn Thị Thùy D
thì ông L không có ý kiến gì.
Đối với yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” giữa ông Nguyễn
Thành N1 và bà Đoàn Thị Thùy D thì ông L cũng không có ý kiến gì.
Đối với họa đồ đo đạc thửa đất theo hiện trạng ngày 04/11/2025 của Chi
nhánh Văn phòng Đ thể hiện thửa đất 3128, tờ bản đồ số 16 (BĐ 299) nay đo đạc
thành thửa 360, tờ bản đồ s15 (2022) T diện tích 208m
2
, toàn bộ diện
tích đất này ông L, D đã quản lý, sử dụng ổn định, không tranh chấp với bất
kỳ nhân tổ chức nào. Đối với chứng thư thẩm định giá thì ông L đồng ý và
không có ý kiến gì.
- Theo lời trình bày của ông Đoàn Trung K, người đại diện theo ủy quyền của
Đoàn Thị Thùy D, thì: Ông xác định tài sản chung của ông L, bà D hiện nay
diện tích đất 208m
2
thuộc đất số 3182, tờ bản đồ số 16 (BĐ 299) nay đo đạc thành
thửa 360, tờ bản đồ số 15 (2022) T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay Đ)
diện tích đất 802m
2
thuộc thửa số 625, tờ bản đồ số 12 tại tổ dân phố K, thị trấn Đ,
huyện L (nay là thôn K, xã Đ H), tỉnh Lâm Đồng.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông L thì ông đại diện cho D ý kiến
như sau:
Hiện nay ông L, D đang thế chấp quyền sdụng đất diện tích 802m
2
thuộc thửa đất số 625, tờ bản đồ số 12 tại thôn K, Đ, tỉnh Lâm Đồng cho Ngân
hàng thương mại cổ phần Á (A1) để vay vốn. Nay ông L rút một phần yêu cầu
khởi kiện chia tài sản sau khi ly hôn đối với thửa đất trên thì D đồng ý.
D đồng ý với giao diện tích đất 208m
2
thuộc thửa đất số 3182, tờ bản đồ
số 16 (BĐ 299) nay đo đạc thành thửa 360, tờ bản đồ số 15 (2022) xã T cho ông L
trực tiếp quản lý, sử dụng vì ông L đang ở trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục 02 con chung Đoàn Hải N2, sinh ngày 13/3/2013 Ngọc Minh A,
sinh ngày 30/8/2023, đây chỗ ở duy nhất của ông L các con chung; trong khi đó
D không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nào hiện nay
mới đến Thành phố Hồ Chí Minh để làm ăn. D đồng ý nhận ½ giá trị tài sản
chung với số tiền 1.989.835.500đ (3.979.671.000đ (193m
2
đất ODT + CLN x
17.110.000đ/m
2
, 15m
2
đất lộ giới x 153.900đ/m
2
công trình xây dựng trên đất
675.132.722đ)/2) từ ông L. Trong trường hợp ông L nhận bằng hiện vật thì ảnh
hưởng đến việc thi hành khoản nợ D nợ ông H theo Quyết định công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự số 41/2024/QĐST-DS ngày 17/7/2024 của Tòa án
nhân dân huyện Lâm Hà (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 Lâm Đồng), bà D
nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Văn H số tiền 4.500.000.000đ hay không thì
D không biết, hiện nay D vẫn chưa thanh toán cho ông H stiền này. Ngoài
khoản nợ trên, D không còn nợ bất kỳ nhân, tổ chức số tiền nào khác. Bản
7
chính Giấy chng nhận quyền sử dụng đất số BN 845954 do Ủy ban nhân dân
huyện L cấp ngày 28/5/2013; ông L, bà D được cập nhật điều chỉnh biến động sang
tên ngày 13/12/2021 hiện nay D đã làm thất lạc; D không cầm cố, thế chấp
cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.
Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A1) thì ông
đại diện cho bà D có ý kiến như sau:
D thừa nhận trong thời kỳ hôn nhân ông L, D kết hợp đồng thế
chấp hợp đồng tín dụng đvay số tiền 4.500.000.000đ như A1 khởi kiện. Mục
đích vay tiền đsản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động, bổ sung vốn kinh
doanh gia công nhôm kính. Tuy nhiên, sau khi vay được tiền thì D người sử
dụng toàn bộ số tiền này vào mục đích kinh doanh riêng. Do đó, bà D đồng ý trả
cho A1 số tiền tính đến ngày 11/9/2025 5.314.135.763đ, trong đó gồm: vốn gốc
4.499.955.378đ, lãi trong hạn 101.991.781đ, lãi quá hạn 677.623.145đ, phạt chậm
trả lãi 34.565.459đ tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh. Ông L không phải nghĩa
vụ cùng với D trả nợ cho A1; đồng ý với các u cầu tiếp tục duy trì hợp đồng
thế chấp, xử lý tài sản thế chấp của A1.
Ngoài ra, ngày 05/02/2024 giữa ông Nguyễn Thành N1 và bà Đoàn Thị Thùy
D thỏa thuận với nhau về việc D chuyển nhượng cho ông N1 các thửa đất
sau:
- Thửa số 120, tờ bản đồ số 09, diện tích 3.714m
2
(trong đó có 400m
2
đất ở đô
thị 3.314m
2
đất trồng cây lâu năm) tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L (nay
Đ), tỉnh Lâm Đồng đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AO 798373 ngày 18/02/2009.
- Thửa số 625, tờ bản đồ số 12, diện tích 802m
2
trong đó 100m
2
đất đô
thị 702m
2
đất trồng cây lâu năm tại thị trấn Đ, huyện L (nay Đ), tỉnh Lâm
Đồng, đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 378932 ngày 02/5/2012.
Giá thỏa thuận chuyển nhượng 02 thửa đất trên 5.000.000.000đ, ông N1 đã
đặt cọc cho bà D số tiền 2.000.000.000đ vào ngày 05/02/2024 (trong đó
1.700.000.00chuyển qua tài khoản của D 300.000.00thanh toán tiền
mặt), thời hạn đặt cọc 35 ngày kể từ ngày 05/02/2024, số tiền còn lại hai bên
thỏa thuận khi ra văn phòng công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất theo quy định pháp luật thì ông N1 sẽ thanh toán đủ cho bà D. Hai bên có
lập Hợp đồng đặt cọc ngày 05/02/2024 có chữ ký xác nhận của ông N1 và bà D.
Tài sản đặt cọc chuyển nhượng trên hiện nay bà D đang thế chấp tại A1 để
vay vốn; nay A1 có đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc thì D đồng ý.
Đối với việc ông Nguyễn Thành N1 thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc bà D trả lại số
tiền đã nhận đặt cọc là 2.000.000.000đ thì bà D thống nhất.
8
Ngày 20/8/2022 ông Nguyễn Hữu H1 góp vốn nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất diện tích 802m
2
thuộc thửa số 625, tờ bản đồ số 12 tại khu phố K, thị
trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay thôn K, Đ, tỉnh Lâm Đồng) chung với
Đoàn Thị Thùy D với giá nhận chuyển nhượng 2.400.000.000đ, vợ chồng
ông H1 góp vốn 50% tương đương với số tiền 1.200.000.000đ và thỏa thuận cho
D đng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà D với ông H1 góp vốn
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên với mục đích sau này chuyển nhượng
lại kiếm lời chia lợi nhuận.
Ngày 23/8/2022 bà D được cập nhật, điều chỉnh biến động sang tên trên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 378932 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp
ngày 02/5/2012. Đến ngày 12/01/2023 bà D thế chấp tài sản trên để vay vốn tại A1
Chi nhánh L4, vào thời điểm Ngân hàng xác minh tài sản thế chấp (ngày
06/10/2022), vợ chồng ông H1 có đến chứng kiến nhưng không ý kiến gì. Vợ
chồng ông H1 đến trên căn nhà thuộc thửa đất số 625, tờ bản đsố 12 tại khu
phố K, thị trấn Đ, huyện L (nay là xã Đ) thời gian nào thì bà D không được biết.
Do tài sản trên hiện nay đang thế chấp tại Ngân ng thương mại cổ phần Á.
Do đó, D với ông H1 sẽ tự thỏa thuận với nhau về hợp đồng góp vốn ngày
05/02/2024. Trong trường hợp có tranh chấp thì sẽ khởi kiện bằng ván khác theo
thủ tục chung.
- Theo đơn yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A1); lời
trình bày của người đại diện theo ủy quyền các ông Đinh Ngọc H3, ông Nguyễn
Ngọc H4 thì:
- Lần thứ nhất: A1 cấp tín dụng cho ông Quang L, Đoàn Thị Thùy D
căn cứ theo thỏa thuận về các điều khoản điều kiện tín dụng chung số
LAH.CN.2438.301023 ngày 30/10/2023, hợp đồng cấp tín dụng số
LAH.CN.1745.301023 ngày 30/10/2023.
Chi tiết hợp đồng như sau: hạn mức tín dụng là 1.000.000.000đ, mục đích cho
vay đsản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động, bổ sung vốn kinh doanh gia
công nhôm kính. Phương thức cho vay: cho vay từng lần. Phương thức giải ngân
được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể. Thời hạn cho vay: tối đa không
quá 12 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày giải ngân, thời hạn giải ngân 03 tháng, kể
từ ngày ký hợp đồng cấp tín dụng. Lãi suất trong hạn được quy định trong từng khế
ước nhận nợ cụ thể, lãi suất quá hạn bằng 150% i suất trong hạn, lãi suất phạt
chậm trả lãi 10%/năm.
Để thực hiện thỏa thuận tín dụng hợp đồng tín dụng nêu trên, A1 đã giải
ngân cho ông L, bà D bằng giấy đề nghị giải ngân kiêm chứng từ nhận nợ số 01 (s
tham chiếu 414899369), ngày 31/10/2023, stiền giải ngân 1.000.000.000đ,
phương thức giải ngân: chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số 656678678 của
Đoàn Thị Thùy D tại A1, thời hạn cho vay: từ ngày 01/11/2023 đến ngày
9
31/10/2024. Lãi suất trong hạn 8,50%/năm, cố định trong thời hạn 06 tháng. Lãi
suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) =
LSCS + 3,30%/năm; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn; lãi suất phạt chậm
trả lãi 10%/năm.
- Lần thứ hai: A1 cấp tín dụng cho ông L, bà D căn cứ theo thỏa thuận về các
điều khoản điều kiện tín dụng chung số LAH.CN.421.160523 ngày 16/5/2023,
hợp đồng cấp tín dụng số LAH.CN.420.160523 ngày 16/5/2023.
Chi tiết hợp đồng như sau: Hạn mức tín dụng 2.500.000.000đ. Mục đích cho
vay đsản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động, bổ sung vốn kinh doanh gia
công nhôm kính. Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng. Phương
thức giải ngân được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể. Thời hạn cho
vay: tối đa không quá 08 tháng, kể tngày kế tiếp ngày giải ngân. Thời hạn hiệu
lực của hạn mức tín dụng 12 tháng, kể tngày hợp đồng cấp tín dụng. Lãi
suất trong hạn được quy định trong từng khế ước nhận ncthể, lãi suất quá hạn
bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm.
Để thực hiện thỏa thuận tín dụng hợp đồng tín dụng nêu trên, A1 đã giải
ngân cho ông L, D bằng Giấy đề nghị giải ngân kiêm chứng từ nhận nợ số 02
(số tham chiếu 423344659), ngày 12/01/2024, số tiền giải ngân
800.000.000đ, phương thức giải ngân: Chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số
656678678 của D tại A1, thời hạn cho vay: Từ ngày 13/01/2024 đến ngày
12/9/2024. Lãi suất trong hạn 8,00%/năm, cố định trong thời hạn 06 tháng. Lãi
suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) =
LSCS + 3,30%/năm; lãi suất qhạn 150% lãi suất trong hạn; lãi suất phạt chậm
trả lãi 10%/năm.
- Lần thứ ba: A1 cấp tín dụng cho ông L, D căn cứ theo thỏa thuận về các
điều khoản điều kiện n dụng chung số LAH.CN.2438.301023 ngày
30/10/2023, hợp đồng cấp tín dụng số LAH.CN.917.210324 ngày 21/3/2024.
Chi tiết hợp đồng như sau: Hạn mức tín dụng 3.500.000.000đ, mục đích cho
vay đsản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động, bổ sung vốn kinh doanh gia
công nhôm kính. Phương thức cho vay: cho vay theo hạn mức tín dụng. Phương
thức giải ngân được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể. Thời hạn cho
vay: tối đa không quá 06 tháng, kể tngày kế tiếp ngày giải ngân. Thời hạn hiệu
lực của hạn mức tín dụng 12 tháng, kể tngày hợp đồng cấp tín dụng. Lãi
suất trong hạn được quy định trong từng khế ước nhận ncthể, lãi suất quá hạn
bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm.
Để thực hiện thỏa thuận tín dụng hợp đồng tín dụng nêu trên, A1 đã giải
ngân cho ông L, D bằng Giấy đề nghị giải ngân kiêm chứng từ nhận nợ số 01
(số tham chiếu 431955799), ngày 22/3/2024, số tiền giải ngân
2.700.000.000đ, phương thức giải ngân: Chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số
10
656678678 của Đoàn Thị Thùy D tại A1, thời hạn cho vay từ ngày 23/3/2024
đến ngày 22/9/2024. Lãi suất trong hạn 7,50 %/năm, cố định trong thời hạn 06
tháng. Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: LSCS +
3,30%/năm; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn; lãi suất phạt chậm trả lãi
10%/năm.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông L, D đã vi phạm nghĩa
vụ trả nợ. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi
nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn thì ngày 29/7/2024 A1 ra Thông báo thu hồi nợ
trước hạn đối với toàn bộ khoản vay theo các hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị giải
ngân kiêm chứng từ nhận nợ nêu trên.
Các khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm là:
- Thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 120, tờ
bản đồ số 09 tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L (nay Đ), tỉnh Lâm Đồng
thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Đoàn Thị Thùy D theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AO 798373 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày
18/02/2009, cập nhật tặng cho toàn bộ diện tích trên ngày 26/01/2021.
Tài sản thế chấp cho Ngân hàng căn cứ theo hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất số LAH.BĐCN.55.030221 ngày 03/02/2021 được công chứng tại Văn
phòng C3, số công chứng 906; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh n phòng đăng ký
đất đai huyện Đ ngày 04/02/2021. Hợp đồng sửa đổi bổ sung số
LAH.BĐCN.55.030221/SĐBS-01 ngày 19/01/2022 được công chứng tại Văn
phòng C3, số công chứng 752. Hợp đồng sửa đổi bổ sung số
LAH.BĐCN.55.030221/SĐBS-02 ngày 12/01/2023 được công chứng tại Văn
phòng C3, số công chứng 166. Hợp đồng sửa đổi bổ sung số
LAH.BĐCN.55.030221/SĐBS-03 ngày 30/10/2023 được công chứng tại Văn
phòng C3, số công chứng 5387. Cam kết thế chấp tài sản ngày 03/02/2021.
- Thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 625, tờ
bản đồ số 12 tại khu phố K, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay Đ)
thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Đoàn Thị Thùy D, ông Lê Quang L theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số BK378932 do Ủy ban nhân n huyện L cấp ngày 02/5/2012, cập nhật chuyển
nhượng ngày 23/8/2022.
Tài sản thế chấp cho Ngân hàng căn cứ theo hợp đồng thế chấp tài sản số
LAH.BĐCN.13.120123 ngày 12/01/2023 được công chứng tại Văn phòng C3, số
công chứng 165; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
Đ ngày 13/01/2023. Hợp đồng sửa đổi bsung số LAH.BĐCN.13.120123/SĐBS-
01 ngày 30/10/2023 được công chứng tại Văn phòng C3, số C, cam kết thế chấp tài
sản ngày 12/01/2023.
11
Tính đến ngày 11/9/2025, ông Lê Quang L, Đoàn Thị Thùy D còn nợ Ngân
hàng tổng số tiền 5.314.135.763đ, trong đó gồm: tiền nợ gốc là 4.499.955.378đ, lãi
trong hạn là 101.991.781đ, lãi quá hạn là 677.623.145đ, phạt chậm trả lãi là
34.565.459đ.
Đối với việc L1, D, ông K, vchồng Ý, ông C đề nghị A1 tạo điều
kiện để bà D gia đình thể bán được tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng
giữ lại một n nhà để cho con cháu; đề nghị A1 xem xét giảm lãi cho D thì
Ngân hàng sẽ xem xét tạo điều kiện tại giai đoạn thi hành án.
Đối với việc vợ chồng ông H3, bà T trình bày trong trường hợp sau này D,
ông L không thanh toán khoản tiền vay cho Ngân hàng dẫn đến bị xử lý tài sản thế
chấp là diện tích đất 802m
2
thuộc thửa đất số 625, tờ bản đồ số 12 tại thôn K, xã Đ
(nay là xã Đ), tỉnh Lâm Đồng thì đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để vợ chồng
ông, bà được mua lại tài sản thế chấp tại giai đoạn thi hành án thì Ngân hàng đồng
ý.
Nay A1 vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án giải quyết:
+ Buộc ông L, D phải trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến
ngày 11/9/2025 là 5.314.135.763đ (trong đó gồm vốn gốc 4.499.955.378đ, lãi
trong hạn 101.991.781đ, lãi quá hạn 677.623.145đ, phạt chậm trả lãi 34.565.459đ).
+ Buộc ông L, D còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trlãi phát sinh
theo mức lãi suất quy định tại thỏa thuận về các điều khoản điều kiện tín dụng
chung, hợp đồng cấp tín dụng, giấy đề nghị giải ngân kiêm chứng từ nhận nợ kể từ
ngày 12/9/2025 đến ngày trả hết nợ.
+ Tiếp tục duy trì các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
LAH.BĐCN.55.030221 ngày 03/02/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số
LAH.BĐCN.55.030221/SĐBS-01 ngày 19/01/2022; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số
LAH.BĐCN.55.030221/SĐBS-02 ngày 12/01/2023 Hợp đồng sửa đổi bổ sung
số LAH.BĐCN.55.030221/SĐBS-03 ngày 30/10/2023 Hợp đồng thế chấp tài
sản số LAH.BĐCN.13.120123 ngày 12/01/2023, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số
LAH.BĐCN.13.120123/SĐBS-01 ngày 30/10/2023 để đảm bảo thi hành án thu
hồi nợ.
Nếu Đoàn Thị Thùy D, ông Quang L không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ trả nợ thì các tài sản bảo đảm sau đây được quan thẩm
quyền xử lý để thu hồi nợ: quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số
120, tờ bản đồ số 09 tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L (nay Đ), tỉnh Lâm
Đồng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Đoàn Thị Thùy D và quyền sử dụng đất,
tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 625, tờ bản đồ số 12 tại khu phố K, thị trấn Đ,
huyện L (nay Đ), tỉnh Lâm Đồng thuộc quyền sở hữu, sdụng của Đoàn
Thị Thùy D, ông Lê Quang L.
12
+ Tuyên hiệu hợp đồng đặt cọc ngày 05/02/2024 giữa ông Nguyễn Thành
N1Đoàn Thị Thùy D.
Đối với yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung sau ly hôn của ông L, D đối
với i sản quyền sử dụng đất diện tích 159m
2
(50m
2
đất nông thôn 109m
2
đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 3182, tờ bản đồ số 16, T, huyện L (nay
Đ), tỉnh Lâm Đồng đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BN 845954 ngày 28/5/2013 và nhà ở, tài sản khác gắn liền
với đất thì Ngân hàng không có ý kiến gì. Đối với việc giải quyết hậu quả của hợp
đồng đặt cọc hiệu giữa D với ông N1 thì Ngân hàng cũng không ý kiến
hay yêu cầu gì.
- Theo đơn yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Thành N1, lời trình bày của chị
Trương Thị Quỳnh N3, người đại diện theo ủy quyền của ông N1, thì: Ngày
05/02/2024 giữa ông N1 và bà Đoàn Thị Thùy D có thỏa thuận với nhau về việc bà
D chuyển nhượng cho ông N1 các thửa đất sau:
- Thửa số 120, tờ bản đồ số 09, diện tích 3.714m
2
(trong đó có 400m
2
đất ở đô
thị và 3.314m
2
đất trồng cây lâu năm) tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh
Lâm Đồng (nay thôn H, xã Đ H), đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AO798373 ngày 18/02/2009;
- Thửa số 625, tờ bản đồ số 12, diện tích 802m
2
trong đó 100m
2
đất đô
thị 702m
2
đất trồng cây lâu năm tại thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay
Đ H5), đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BK 378932 ngày
02/5/2012.
Hai bên thỏa thuận số tiền chuyển nhượng của 02 thửa đất trên
5.000.000.000đ, ông N1 đã đặt cọc cho D 2.000.000.000đ vào ngày 05/02/2024
(trong đó 1.700.000.000đ chuyển qua tài khoản của bà D 300.000.000đ thanh
toán tiền mặt), thời hạn đặt cọc 35 ngày kể từ ngày 05/02/2024, số tiền còn lại
hai bên thỏa thuận khi ra Văn phòng công chứng hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật thì ông N1 sẽ thanh toán đủ cho D.
Hai bên lập hợp đồng đặt cọc ngày 05/02/2024 chữ xác nhận của ông N1
và bà D.
Từ đó đến nay đã quá thời hạn đặt cọc, ông N1 đã rất nhiều lần liên hệ D
để ra Văn phòng công chứng ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng D đều khất lần, lẩn
tránh, không có thiện chí sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông N1.
Do đó, ông N1 đơn yêu cầu độc lập đề nghị D làm thủ tục sang tên cho
ông trong Giấy chứng nhận quyền sdụng đất AO 798373 do Ủy ban nhân dân
13
huyện L cấp ngày 18/02/2009 đối với thửa 120, tờ bản đồ số 09, diện tích 3.714m
2
tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L (nay Đ), tỉnh Lâm Đồng và Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất BK 378932 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày
02/5/2012 đối với thửa 625, tờ bản đồ 12, diện tích 802m
2
tại thị trấn Đ, huyện L
(nay Đ), tỉnh Lâm Đồng. Ông N1 sẽ thanh toán cho D số tiền còn lại
3.000.000.000đ.
Tuy nhiên, do hiện nay tài sản trên ông L, D đang thế chấp tại Ngân hàng
để vay tiền; đồng thời, Ngân hàng đơn yêu cầu độc lập đề nghị hủy hợp đồng
đặt cọc. Do đó, ông N1 thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện; cụ thể: đồng ý hủy
hợp đồng đặt cọc ngày 05/02/2024 giữa ông N1 với D đối với thửa số 120, tờ
bản đồ số 09, diện tích 3.714m
2
tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L (nay
Đ), tỉnh Lâm Đồng thửa số 625, tờ bản đồ số 12, diện tích 802m
2
tại thị trấn Đ,
huyện L (nay Đ), tỉnh Lâm Đồng theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Buộc D nghĩa vụ trả lại cho ông N1 số tiền đã nhận đặt cọc
2.000.000.000đ. Đối với yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung sau ly hôn của ông
L, yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thì ông N1
không có ý kiến hay yêu cầu gì.
- Theo lời trình bày của chị Trương Thị Quỳnh N3, người đại diện theo ủy
quyền của ông Phạm Văn H, thì:
Đoàn Thị Thùy D vay của ông Phạm Văn H số tiền 4.500.000.000đ,
do D không trả cho ông H đúng thời hạn theo thỏa thuận nên ông H đã khởi
kiện đến Tòa án nhân dân huyện Lâm (nay Tòa án nhân dân khu vực 3
Lâm Đồng). Ngày 17/7/2024 Tòa án nhân dân huyện Lâm đã ban hành Quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự s41/2024/QĐST-DS, theo đó
D nghĩa vụ thanh toán cho ông H số tiền 4.500.000.000đ. Sau đó ông H đã
đơn u cầu thi hành án gửi đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lâm (nay
Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3 Lâm Đồng). Ngày 25/7/2024 Chi cục
Thi hành án Dân sự huyện Lâm đã ra Quyết định thi hành án số 596/QĐDS
CCTHADS.
Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lâm Hà (nay là Phòng Thi hành án Dân sự
khu vực 3 m Đồng) đã tiến nh xác minh được biết Đoàn Thị Thùy D
tài sản chung với ông Quang L (chồng D) quyền sử dụng đất diện
tích 159m
2
(50m
2
đất nông thôn 109m
2
đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa s
3182, tờ bản đồ số 16, T, huyện L (nay Đ), tỉnh Lâm Đồng đã được Ủy
ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 845954
ngày 28/5/2013 nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất. Ngoài ra, D tài sản
riêng nhưng hiện nay đang thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần T4 để vay
vốn.
14
Ngày 12/8/2024 Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lâm (nay Phòng
Thi hành án Dân sự khu vực 3 Lâm Đồng) đã ban hành Thông báo số 165/TB-
THADS về việc xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản thi hành án, theo
đó để đảm bảo cho việc thi hành án, Chấp hành viên yêu cầu bà D và ông L tự thỏa
thuận phân chia tài sản chung nêu trên hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục
tố tụng dân sự. Ông H được biết ông L đã làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân
dân huyện Lâm (nay Tòa án nhân dân khu vực 3 Lâm Đồng) để yêu cầu
Tòa án phân chia tài sản chung nêu trên, Tòa án đã thụ vụ án để giải quyết theo
thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết ván, ông L yêu cầu được nhận bằng hiện vật
đồng ý thanh toán lại cho bà D ½ giá trị tài sản chung nêu trên; D đồng ý với
yêu cầu trên của ông L. Tuy nhiên, ông H không đồng ý sthỏa thuận này của
ông L, bà D nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Do đó, đề nghị Tòa án xác
định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của D trong khối tài
sản chung thửa số 3182, tờ bản đồ số 16, T, huyện L (nay Đ), tỉnh Lâm
Đồng đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số BN 845954 ngày 28/5/2013 để đảm bảo cho việc thi hành án. Hiện nay tài sản
này đã bị Chi cục Thi hành án Dân shuyện Lâm (nay Phòng Thi hành án
Dân sự khu vực 3 Lâm Đồng) ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển
nhượng, sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản số 21/QĐ/CCTHADS ngày
30/7/2024.
Đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng
yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc của ông Nguyễn Thành N1 thì ông
H không có ý kiến hay yêu cầu gì.
- Theo lời trình bày của ông Nguyễn Hữu H1, người quyền lợi, nghĩa v
liên quan đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Hồng T2 thì:
Ngày 20/8/2022 vợ chồng ông H1, bà T2 góp vốn nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất diện tích 802m
2
thuộc thửa đất số 625, tờ bản đồ số 12 tại khu phố
K, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay thôn K, Đ, tỉnh Lâm Đồng)
chung với Đoàn Thị Thùy D, giá nhận chuyển nhượng là 2.400.000.000đ, vợ
chồng ông góp vốn 50% tương đương với số tiền 1.200.000.000đ thỏa thuận
cho D đng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vợ chồng ông
D góp vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên với mục đích sau này
chuyển nhượng lại kiếm lời chia lợi nhuận.
Ngày 23/8/2022 bà D được cập nhật, điều chỉnh biến động sang tên trên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 378932 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp
ngày 02/5/2012. Đến ngày 12/01/2023 D thế chấp tài sản này để vay vốn tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Chi nhánh L4, vào thời điểm Ngân hàng xác
minh tài sản thế chấp ngày 06/10/2022 thì vợ chồng ông có biết và hình nh chụp
15
người ngồi trên ghế màu đtrước sân nhà tài sản thế chấp đúng ông (Nguyễn
Hữu H1) nhưng vợ chồng ông không được biết D thế chấp để vay tiền Ngân
hàng cũng không thông báo cho vchồng ông biết. Khi Ngân hàng đến xác minh
tài sản thế chấp thì vchồng ông hỏi thì được Ngân hàng trả lời là xác minh
xem phải tài sản của D hay không, để Ngân hàng sở cho D vay
tiền tài sản thế chấp thửa đất 09, tờ bản đồ số 20 tại thôn H, Đ, tỉnh Lâm
Đồng (xác minh nguồn thu nhập). Sau khi Ngân ng trả lời thì ông không ý
kiến cũng không cung cấp cho Ngân hàng thông tin vợ chồng ông với D
góp vốn nhận chuyển nhượng chung quyền sử dụng đất này.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông L về chia tài sản chung sau ly hôn với bà D
thì vợ chồng ông không có ý kiến gì.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về tranh chấp hợp đồng tín dụng thì
vợ chồng ông không ý kiến gì cũng không yêu cầu hủy hoặc tuyên bố hợp
đồng thế chấp tài sản trên giữa Ngân hàng vớiD vô hiệu. Trong trường hợp sau
này ông L, D không thanh toán khoản tiền vay cho Ngân hàng dẫn đến bị Ngân
hàng xử tài sản thế chấp diện tích đất 802m
2
thuộc thửa đất số 625, tờ bản đồ
số 12 tại thôn K, Đ, tỉnh Lâm Đồng thì đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để vợ
chồng ông được mua lại tài sản thế chấp tại giai đoạn thi nh án. Đối với hợp
đồng về việc góp vốn kinh doanh mua bất động sản, đất đai giữa D với ông
ngày 20/8/2022 đối với diện tích nói trên thì vợ chồng ông không tranh chấp hay
yêu cầu gì, sau này nếu có tranh chấp thì sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành N1 vviệc tranh chấp hợp
đồng đặt cọc ngày 05/02/2024 với bà Đoàn Thị Thùy D, thì hiện nay Ngân hàng đã
có đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc trên nên vợ chồng ông cũng đồng ý
với yêu cầu khởi kiện này của Ngân hàng.
- Theo lời trình bày của Nguyễn Thị L1 thì: Quyền sử dụng đất thuộc thửa
số 120, tờ bản đồ s09 tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay
thôn H, Đ H5) nguồn gốc của vợ chồng đã được Ủy ban nhân dân
huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 798373 ngày 08/02/2009.
Đến ngày 26/01/2021 vợ chồng bà làm thủ tục tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất
trên cho con gái Đoàn Thị Thùy D và được cập nhật, điều chỉnh biến động sang
tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để D thế chấp Ngân hàng vay tiền
lấy vốn làm ăn. Sau khi vay vốn Ngân hàng, gia đình có nhắc nhở bà D cố gắng trả
nợ cho Ngân hàng để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về rồi chia đất cho
các anh chem. Tuy nhiên, trong quá trình làm ăn do gặp khó khăn, nên hiện nay
D vẫn chưa thể trả nợ cho Ngân hàng. Bà, D, ông K, vợ chồng ông C, Ý
mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện để D gia đình thể bán được tài sản
thế chấp để trả nợ cho Ngân ng giữ lại một căn nhà để cho con cháu. Ngoài
ra, đề nghị Ngân hàng xem xét giảm lãi cho bà D. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện
16
của Ngân hàng về tranh chấp hợp đồng tín dụng thì không ý kiến và cũng
không yêu cầu Tòa án hủy hoặc tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản trên giữa Ngân
hàng với D hiệu. Chồng ông Đoàn n L3 đã chết ngày 29/5/2021.
Hiện nay, bà D còn nợ ai hay không thì bà không được biết.
Đối với yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung sau ly hôn của ông L, tranh chấp
hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N1 với D thì
không có ý kiến gì.
- Ông Đoàn Trung K, vợ chồng ông Đoàn Văn C, Thanh Ý thống nhất
với lời trình bày của mẹ là bà Nguyễn Thị L1.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án số 04/2026/HNGĐ-ST ngày 14/01/2026; Tòa án nhân dân khu vực
3 Lâm Đồng đã xử:
1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Quang L về việc
chia tài sản sau khi ly hôn đối với diện tích đất 802m² thuộc thửa đất số 625, tờ bản
đồ số 12 tại thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Chấp nhận một phần u cầu khởi kiện của ông Quang L về việc “Chia
tài sản sau khi ly hôn” với bà Đoàn Thị Thùy D.
2.1. Xác định diện tích đất 208m
2
thuộc thửa đất số 3182, tờ bản đồ số 16
(BĐ 299) tại Đ, tỉnh Lâm Đồng nay đo đạc thành thửa 360, tờ bản đồ số 15
(2022) T (trong đó 15m
2
quy hoạch lộ giới theo QH chi tiết xây dựng khu
trung tâm T theo Quyết định số: 4790/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của Ủy ban
nhân dân huyện L) nhà trên đất diện tích 161m
2
, tổng giá trị
3.979.671.000đ là tài sản chung của ông Lê Quang L và bà Đoàn Thị Thùy D.
2.2. Giao toàn bộ diện tích đất 208m
2
thuộc thửa đất số 3182, tờ bản đồ số 16
(BĐ 299) tại Đ, tỉnh Lâm Đồng nay đo đạc thành thửa 360, tờ bản đồ số 15
(2022) T (trong đó 15m
2
quy hoạch lộ giới theo QH chi tiết xây dựng khu
trung tâm T theo Quyết định số: 4790/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của Ủy ban
nhân n huyện L) nhà trên đất có diện tích 161m
2
cho Đoàn Thị Thùy D
trực tiếp quản lý, sử dụng.
(Có họa đồ đo đạc thửa đất theo hiện trạng ngày 04/11/2025 của Chi nhánh
Văn phòng Đ kèm theo).
Đoàn Thị Thùy D được quyền liên h với quan Nhà nước thẩm
quyền để đăng ký, khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
2.3. Đoàn Thị Thùy D nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Quang L số tiền
1.989.835.000đ.
17
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A1) về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
với ông Lê Quang L, Đoàn Thị Thùy D Tranh chấp u cầu hủy hợp đồng
đặt cọc” ký kết ngày 05/02/2024 giữa bà Đoàn Thị Thùy D với ông Nguyễn Thành
N1.
3.1. Buộc ông Lê Quang L và bà Đoàn Thị Thùy D có nghĩa vụ liên đới thanh
toán cho Ngân hàng thương mại c phần Á (A1) tổng số tiền tính đến ngày
14/01/2026 5.510.682.61 (Trong đó nợ gốc 4.499.955.378đ, lãi trong hạn
102.546.116đ, lãi quá hạn 892.603.049đ, phạt chậm trả lãi 15.578.074đ).
Trách nhiệm liên đới được chia theo phần, cụ thể như sau:
- Ông Lê Quang L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần
Á (A1) số tiền tính đến ngày 14/01/2026 là 2.755.341.309đ (trong đó nợ gốc
2.249.977.689đ, lãi trong hạn 51.273.058đ, lãi quá hạn 446.301.524đ, phạt chậm
trả lãi 7.789.037đ).
- Đoàn Thị Thùy D nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ
phần Á (A1) số tiền tính đến ngày 14/01/2026 là 2.755.341.309đ (trong đó nợ gốc
2.249.977.689đ, lãi trong hạn 51.273.058đ, lãi quá hạn 446.301.524đ, phạt chậm
trả lãi 7.789.037đ).
Ông Quang L Đoàn Thị Thùy D còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh
kể từ ngày 15/01/2026 theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cấp
tín dụng số LAH.CN.420.160523 ngày 16/5/2023, Hợp đồng cấp tín dụng số
LAH.CN.1745.301023 ngày 30/10/2023 và Hợp đồng số LAH.CN.917.210324
ngày 21/3/2024 cho đến khi trả nợ xong.
Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh
lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất khách hàng
vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án
cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân ng cho
vay.
3.2. Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
LAH.BĐCN.55.030221 ngày 03/02/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số
LAH.BĐCN.55.030221/SĐBS-01 ngày 19/01/2022; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số
LAH.BĐCN.55.030221/SĐBS-02 ngày 12/01/2023 Hợp đồng sửa đổi bổ sung
số LAH.BĐCN.55.030221/SĐBS-03 ngày 30/10/2023 giữa Ngân hàng thương mại
cổ phần Á (A1) Chi nhánh L4 Phòng G với bà Đoàn Thị Thùy D đối với tài sản
thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất diện tích 3.714m
2
(400m
2
đất đô thị 3.314m
2
đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa đất số 120, tờ bản đồ số
09 tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (nay thôn H, xã Đ, tỉnh
Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 798373 do Ủy ban
18
nhân dân huyện L cấp ngày 18/02/2009; được cập nhật, điều chỉnh biến động sang
tên bà Đoàn Thị Thùy D ngày 26/01/2021 và hợp đồng thế chấp tài sản số
LAH.BĐCN.13.120123 ngày 12/01/2023, hợp đồng sửa đổi bổ sung số
LAH.BĐCN.13.120123/SĐBS-01 ngày 30/10/2023 giữa Ngân hàng thương mại cổ
phần Á (A1), Chi nhánh L4, Phòng G Đoàn Thị Thùy D, ông Quang L
đối với tài sản thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất diện ch
802m
2
thuộc thửa đất số 625, tờ bản đsố 12 tại khu phố K, thị trấn Đ, huyện L,
tỉnh Lâm Đồng (nay là thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 378932 do
Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 02/5/2012, được cập nhật, điều chỉnh biến
động sang tên bà Đoàn Thị Thùy D ngày 23/8/2022.
(Trường hợp ông Quang L Đoàn Thị Thùy D không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A1)
được quyền yêu cầu quan thẩm quyền xtài sản bảo đảm theo quy định
của pháp luật để thu hồi nợ).
3.3. Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 05/02/2024 giữa ông Nguyễn Thành N1 với
Đoàn Thị Thùy D đối với diện tích đất 3.714m
2
thuộc thửa đất số 120, tờ bản đồ
số 09 tại thôn H, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AO 798373 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 18/02/2009; được cập nhật,
điều chỉnh biến động sang tên Đoàn Thị Thùy D ngày 26/01/2021 diện tích
đất 802m
2
thuộc thửa đất số 625, tờ bản đồ số 12 tại Đ, tỉnh Lâm Đồng theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số RK 378932 do y ban nhân dân huyện L
cấp ngày 02/5/2012; được cập nhật, điều chỉnh biến động sang tên Đoàn Thị
Thùy D ngày 23/8/2022.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Thành N1 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” với Đoàn Thị Thùy
D. Buộc bà Đoàn Thị Thùy D nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Thành N1 số
tiền 2.000.000.000đ.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của
các bên đương sự.
Ngày 28/01/2026 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng
ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNPT-VKS-HNGĐ kháng
nghị một phần Bản án sơ thẩm.
Ngày 15/01/2026 ông Quang L ngày 19/01/2026 Đoàn Thị Thùy D
kháng cáo một phần với Bản án sơ thẩm.
Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lâm Đồng
và kháng cáo của ông L, D có nội dung: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản
án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao toàn bộ
19
diện tích đất 208m
2
thuộc thửa 3182, tờ bản đồ số 16 (BĐ 299) tọa lạc tại Đ,
tỉnh Lâm Đồng (đo đạc thực tế 208m
2
thuộc thửa 360, tờ bản đồ số 15 (2022),
trong đó có 15m
2
đất thuộc quy hoạch lộ giới) và nhà ở trên đất có diện tích 161m
2
cho ông Lê Quang L trực tiếp quản lý, sử dụng. Buộc ông L có nghĩa vụ thanh toán
cho bà Đoàn Thị Thùy D số tiền 1.989.835.000đ.
Tại phiên tòa,
Chị Phạm Huyền T, người đại diện theo ủy quyền của ông Quang L, vẫn
giữ nguyên kháng cáo. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án thẩm, giao
hiện trạng nhà và quyền sử dụng đất cho ông L trực tiếp quản lý, sử dụng, ông L có
trách nhiệm thanh toán lại cho bà D ½ giá trị tài sản.
Luật Nguyễn Thị T1 không đồng ý với kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lâm Đồng kháng cáo của ông L, D
nếu giao hiện trạng nhà quyền sử dụng đất nói trên cho ông L thì D không
thực hiện nghĩa vụ thi hành án đối với ông H.
Bị đơn có đơn xin xét xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ nguyên Quyết định
kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNPT-VKS-HNPT ngày 28/01/2026 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lâm Đồng đồng thời phát biểu về việc
tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng nphiên tòa hôm nay: đã chấp
hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: đề nghị chấp nhận
toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lâm
Đồng kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn; sửa Bản án sơ thẩm theo hướng giao
hiện trạng nhà và quyền sử dụng đất cho ông L trực tiếp quản lý, sử dụng, ông L có
trách nhiệm thanh toán lại cho bà D ½ giá trị tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lâm Đồng, đơn kháng cáo của ông Quang L,
Đoàn Thị Thùy D; thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các
Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng n sự năm 2015 nên đủ điều kiện để Hội
đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lâm
Đồng và đơn kháng cáo của ông L, bà D thì thấy rằng:
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số
06/2024/QĐCNTTLH ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh
Lâm Đồng (nay Tòa án nhân dân khu vực 2 Lâm Đồng) đã giải quyết công
20
nhận sự thuận tình ly hôn giữa D ông L. Về tài sản chung nợ chung các
bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết tại thời điểm ly hôn.
Tại thông báo số 165/TB-THADS ngày 12/8/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Lâm (nay Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3 Lâm Đồng),
về việc xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản thi hành án thửa đất số
3182, tờ bản đồ số 16 tại xã Đ, tỉnh Lâm Đồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án
của D. Do đó, ông L khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn đối với diện
tích đất 208m
2
thuộc thửa đất số 3182, tờ bản đồ số 16 tại thôn T, Đ, tỉnh Lâm
Đồng (trong đó 15m
2
thuộc quy hoạch lộ giới) diện tích đất 802m
2
thuộc
thửa đất số 625, tờ bản đồ 12 tại thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của ông L là bà Phạm
Huyền T tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện chia i sản sau khi ly hôn đối
với diện tích đất 802m
2
thuộc thửa đất số 625, tờ bản đồ 12 tại thôn K, Đ, tỉnh
Lâm Đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố
tụng Dân sự đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này của đương sự n cứ,
đúng quy định của pháp luật.
[2.1] Đối với việc xác định tài sản chung của ông Lbà D thì thấy rằng: Tại
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất số BN 845954 do Ủy ban nhân dân huyện L (cũ) cấp ngày 28/5/2013 cho
ông Đinh Nguyên S, Phạm Thị T3, đăng biến động sang tên ông Quang
L, Đoàn Thị Thùy D ngày 13/12/2021 đối với diện tích đất 159m
2
(đất nông
thôn 50m
2
, đất trồng cây lâu năm 109m
2
), thuộc thửa đất số 3182, tờ bản đsố 16
tại thôn T, xã T, huyện L (nay là thôn T, xã Đ H), tỉnh Lâm Đồng.
Theo Họa đồ đo đạc thửa đất theo hiện trạng ngày 04/11/2025 của Chi nhánh
Văn phòng Đ thể hiện diện tích theo đo đạc thực tế 208m
2
(trong đó 15m
2
thuộc quy hoạch lgiới, trên đất nhà với diện tích xây dựng 161m
2
) thuộc
thửa 3128 (nay thửa 360), tờ bản đồ số 16 (BĐ 299), tọa lạc tại Đ, tỉnh Lâm
Đồng. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự thống nhất kết quả đo đạc nói trên.
Như vậy diện tích đất ông L, D được cấp so với diện tích đo đạc thực tế thì
tăng 49m
2
, phần đất này được ông L, D quản lý, sử dụng ổn định, liên tục,
không ai tranh chấp cùng xác định tài sản chung. Do đó, Tòa án cấp
thẩm xác định diện tích đất nói trên là tài sản chung của ông L, bà D để chia tài sản
sau khi ly hôn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Theo kết quả thẩm định giá do Công ty trách nhiệm hữu hạn C4 thực hiện
ngày 26/3/2025 thì giá trị quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất có giá trị là
3.979.671.000đ. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thống nhất với kết quả
đo đạc thẩm định giá nói trên, không yêu cầu đo đạc thẩm định giá lại nên
cần căn cứ vào kết quả nói trên để làm căn cứ giải quyết vụ án là phù hợp.
21
[3] Tại giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm, ông L yêu cầu được nhận hiện vật và
đồng ý thanh toán lại ½ giá trị tài sản cho D. Đồng thời, D cũng đồng ý với
giao toàn bộ hiện trạng diện tích nhà quyền sử dụng đất 208m
2
thuộc thửa số
3182 (nay thửa 360), tờ bản đồ s16 (BĐ 299) {nay tờ bản đồ số 15 (2022)}
xã Đ, tỉnh Lâm Đồng cho ông L trực tiếp quản lý, sử dụng vì hiện nay ông L và 02
con chung là Lê Đoàn Hải N2, sinh ngày 13/3/2013 và Lê Ngọc Minh A, sinh ngày
30/8/2023 đang sinh sống trong căn nhà tọa lạc trên phần đất này, ông L người
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung; đây chỗ ở duy nhất của
cha con ông; trong khi đó D không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chung nào và đang làm ăn tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm cần giao tài sản nói trên cho ông L quản lý, sử dụng
để đảm bảo quyền lợi về chỗ cho ông L và các con nhỏ nhưng lại giao toàn bộ
cho bà D và buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán lại cho nguyên đơn ½ giá trị tài
sản này không đảm bảo về nguyên tắc tự thỏa thuận định đoạt của đương sự;
không đáp ứng nhu cầu thực tế của đương sự.
Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương s số
41/2024/QĐST-DS ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân n huyện Lâm Hà (nay
Tòa án nhân dân khu vực 3 Lâm Đồng) giữa bà Đoàn Thị Thùy D ông Phạm
Văn H thì D nghĩa vụ trả cho ông H số tiền 4.500.000.000đ; tuy nhiên việc
vay tiền giữa các bên không có biện pháp bảo đảm. Đồng thời, toàn bộ căn nhà tọa
lạc trên quyền sử dụng đất diện tích 208m
2
thuộc thửa số 3182 (nay thửa
360), tbản đồ số 16 (BĐ 299) (nay tờ bản đồ số 15 (2022)) xã Đ, tỉnh Lâm
Đồng không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc bị kê biên để đảm bảo
cho việc thi hành án. Cấp thẩm nhận định nếu giao tài sản cho ông L buộc
ông L phải thanh toán lại cho D ½ giá trị tài sản thì skhả năng gây khó
khăn cho việc thi hành án D không còn tài sản đảm bảo thi hành án, ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền lợi ích hợp pháp của ông H không có n cứ; bởi
lẽ diện tích đất này đang do ông L trực tiếp quản lý, sử dụng để nuôi con, nếu trong
trường hợp giao hiện vật cho D (là người không nhu cầu nhận hiện vật) thì
không đảm bảo cho việc sử dụng trong thực tế; đồng thời sẽ dẫn đến việc ông L và
hai con sẽ không còn chỗ nào khác. Đồng thời bà D cũng được ông L thanh toán
số tiền chênh lệch so với i sản được nhận nên không thể cho rằng D không
còn tài sản đảm bảo thi hành án.
[4] Từ những phân tích trên, cần chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lâm Đồng; kháng cáo của ông
Quang L, Đoàn Thị Thùy D, sửa Bản án thẩm theo hướng giao căn nhà
quyền sử dụng đất cho ông L trực tiếp quản , sở hữu, sử dụng, ông L trách
nhiệm thanh toán lại cho D ½ giá trị tài sản. Sau khi thanh toán xong thì ông L
được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục đăng
biến động, sang tên theo quy định của pháp luật.
22
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông L D không phải
chịu án phí Dân sự phúc thẩm. Đương sự phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
[6] Các phần khác của Bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 33, 35, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ các Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm b, khoản 5 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNPT-VKS-
HNPT ngày 28/01/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Lâm
Đồng. Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Quang L, Đoàn Thị Thùy D.
Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 04/2026/HNGĐ-ST ngày 14/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quang L về việc: “Chia tài sản
sau khi ly hôn” với bà Đoàn Thị Thùy D.
1.1. Xác định diện tích đất 159m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 845954 do Ủy ban nhân
dân huyện L (cũ) cấp ngày 28/5/2013 cho ông Đinh Nguyên S, Phạm Thị T3,
đăng biến động sang tên ông Quang L, Đoàn Thị Thùy D ngày
13/12/2021, theo đo đạc thực tế 208m
2
(trong đó 15m
2
thuộc quy hoạch lộ
giới) thuộc thửa số 3182, tờ bản đồ s16 (BĐ 299), nay thửa 360, tờ bản đồ số
15 (2022) xã Đ, tỉnh Lâm Đồng căn nhà trên đất diện tích 161m
2
có tổng giá
trị 3.979.671.000đ (ba tỷ chín trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm bảy mươi mốt
nghìn đồng) là tài sản chung của ông Lê Quang L và bà Đoàn Thị Thùy D.
1.2. Giao toàn bộ diện tích đất theo đo đạc thực tế là 208m
2
(trong đó có 15m
2
thuộc quy hoạch lộ giới) thuộc thửa số 3182, tờ bản đồ số 16 (BĐ 299), nay là thửa
360, tbản đồ số 15 (2022) Đ, tỉnh Lâm Đồng và căn nhà trên đất diện tích
161m
2
cho ông Lê Quang L trực tiếp quản lý, sở hữu, sử dụng.
(Có họa đồ đo đạc thửa đất theo hiện trạng do Chi nhánh Văn phòng Đ thực
hiện ngày 04/11/2025 kèm theo).
23
1.3. Ông Lê Quang L nghĩa vụ thanh toán cho bà Đoàn Thị Thùy D số tiền
1.989.835.000đ (một tỷ chín trăm tám mươi chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn
đồng).
1.4. Sau khi thanh toán xong số tiền nói trên, ông Quang L được quyền
liên hệ với quan Nhà nước có thẩm quyền để m thủ tục khai, đăng biến
động, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp đương sự không giao hoặc xuất trình được bản chính của
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất số BN 845954 do Ủy ban nhân dân huyện L (cũ) cấp ngày 28/5/2013 cho
ông Đinh Nguyên S, Phạm Thị T3, đăng biến động sang tên ông Quang
L, bà Đoàn Thị Thùy D ngày 13/12/2021 thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo
quy định của Luật Đất đai năm 2024.
2. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Ông Lê Quang L phải chịu 158.801.876đ án phí Dân sự sơ thẩm, được trừ vào
số tiền 21.000.000đ tạm ứng án phí Dân sự thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005065 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành
án Dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (nay Phòng Thi hành án n sự khu
vực 3 Lâm Đồng), 7.300.000đ tạm ng án pDân sự thẩm đã nộp theo Biên
lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 0009654 ngày 02/12/2025 của Phòng Thi
hành án n skhu vực 3 Lâm Đồng 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự phúc
thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 0001361 ngày
20/01/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng. Ông Lê Quang L còn phải nộp
130.201.876đ án phí còn thiếu.
Đoàn Thị Thùy D phải chịu 159.706.826đ án phí Dân sự sơ thẩm; được trừ
vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu
tiền tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0001361 ngày 20/01/2026 của Thi hành án
Dân sự tỉnh Lâm Đồng. Bà D còn phải nộp 139.406.826đ án phí còn thiếu.
- Án phí phúc thẩm: Ông Quang L Đoàn Thị Thùy D không phải
chịu án phí Dân sự phúc thẩm.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
24
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự thì người được thi nh án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi
hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án Dân sự.
4. Các phần khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng Gđ – Ktr, Ttr & THA (01);
- TAND khu vực 3 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS khu vực 3 - Lâm Đồng
(01);
- Các đương sự (09);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 20/2026/HNGĐ-PT Bản án số 20/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 20/2026/HNGĐ-PT Bản án số 20/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất