Bản án số 177/2026/HS-PT ngày 27/07/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 177/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 177/2026/HS-PT ngày 27/07/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 177/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 177/2026/HS-PT Bản án số 177/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 177/2026/HS-PT Bản án số 177/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập -Tự do -Hạnh phúc
Bản án số: 177/2026/HS-PT
Ngày: 27-7-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My
Các Thẩm phán: Ông Trương Công Bình và bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên toà: Vũ Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 127/2026/TLPT-HS ngày
25/5/2026 đối với các bị cáo Vũ Tiến Hùng L, Trần Trọng THồ Quang L1 về
tội: “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình
sự sơ thẩm số 85/2026/HS-ST ngày 10/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1
tỉnh Đắk Lắk.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Vũ Tiến Hùng L; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 4
năm 1978, tại tỉnh Đắk Lắk; Căn cước công dân: ************ do Cục QLHC
về TTXH cấp ngày 28/6/2021; Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường T, tỉnh Đắk
Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe taxi; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị C (đều đã
chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Hồ Mộng D và có 02 con (Con lớn nhất sinh năm
2012, con nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân
thân: Tại bản án số 148/HSST ngày 19/9/2001, bị Tòa án nhân dân thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố
ý gây thương tích”; tại bản án 322/HSPT ngày 12/12/2001, bị Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách 03 năm về tội: “Cố ý gây thương tích; bị cáo đã chấp hành
xong;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28
tháng 11 năm 2025 cho đến nay Có mặt tại phiên tòa.
2
2. Họ tên: Trần Trọng T (Tí); Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 01
năm 1980, tại tỉnh Đắk Lắk; Căn cước công dân: ************ do Cục QLHC
về TTXH cấp ngày 05/6/2025; i đăng ký thường trú: 21 T, phường E, tỉnh
Đắk Lắk; Nơi trú: 3 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe taxi;
Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trần L2 (đã chết) Trần Thị C1; Bị cáo có vợ H Nem Kla (Đã
ly hôn) và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2010);
Tiền sự: Không;
Tiền án: Tại Bản án số 137/2025/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2025, bị Tòa
án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tng
cải tạo không giam giữ, về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; Bị cáo
chưa chấp hành xong bản án;
Bị cáo báp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú từ ngày 28
tháng 11 năm 2025 cho đến nay Có mặt tại phiên tòa;
3. Họ và tên: Hồ Quang L1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 14 tháng 10 năm
1974, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi trú: D P, tdân phố E, phường T, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ P (đã chết) và Trần Thị L3;
Bị cáo vợ Thị T1 (Đã ly hôn) 01 con, sinh năm 2008; Tiền án:
Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 15/5/2026 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ
khởi tố, bắt tạm giam về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28
tháng 11 năm 2025, sau đó bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ khởi tố,
bắt tạm giam tại vụ án khác. Hiện bị cáo đang bị tạm giữ tại Phân trại tạm giam
khu vực Buôn M, Công an tỉnh Đ- Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho các bị cáo Trần Trọng T, Vũ Tiến Hùng L: Luật
sư Đặng Ngọc H1 Văn phòng L4 Đoàn Luật sư tỉnh Đ
Địa chỉ:
B T, phường B, tỉnh Đắk Lắk, (vắng mặt và có bản gửi luận cứ)
Người bị hại:
1. Ông Vũ Tiến Hùng L, sinh năm 1978 (Đồng thời là bị cáo trong vụ án);
Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường T, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.
2. Ông Hồ Quang L1, sinh năm 1974 (Đồng thời là bị cáo trong vụ án);
Nơi cư trú: D P, tổ dân phố E, phường T, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 28/9/2025, Tiến Hùng L và Trần
Trọng T, làm nghề lái xe taxi đang ngồi chờ đón khách tại khu vực ngã trước
3
Siêu thị G, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Lúc này, Hồ Quang L1 cùng Nguyễn Văn
T2 T đi bộ sang đường từ phía nhà của L1 tại địa chỉ D P, phường T, tỉnh Đắk
Lắk đến vị trí nơi L và T đang ngồi. Khi đến nơi, L1 hỏi L xin số điện thoại của
một tài xế taxi đã mâu thuẫn với L1 khoảng một tháng trước đó thì L trả lời:
“Tao đéo biết thằng nào cả”, đồng thời nói thêm: “Bây giờ mày thích thì tao sẽ
chiều mày luôn”. L1 cho rằng L số điện thoại nhưng không cung cấp, còn L
khẳng định không biết, dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại.
Trong quá trình cãi vã, L1 cởi dây thắt lưng quần lấy một chiếc còng số 8 từ
túi quần ra đưa trước mặt L để dọa, sau đó lại bỏ còng số 8 vào túi quần. Tiếp
đó, L1 và L tiếp tục cãi nhau, L1 tiến về phía L thì L dùng tay phải đẩy vào ngực
L1 liên tiếp 2–3 cái rồi lùi lại khoảng 1,5 mét rồi dùng tay trái cầm một chiếc
ghế nhựa màu đỏ sẵn tại hiện trường. Lúc này, L1 vung dây thắt lưng, dùng
phần mặt kim loại đánh trúng vào vùng đầu L 01 cái gây thương tích. L liền
dùng ghế đánh liên tiếp vào đầu người của L1 thì L1 tiếp tục dùng dây thắt
lưng đánh thêm một cái vào đầu L. Thấy vậy, Trần Trọng T đang đứng gần đó
xông vào ôm L1 từ phía sau và kéo ra. Trong lúc L1 bị T ôm giữ, L tiếp tục
dùng ghế đánh thêm nhiều cái vào người L1 rồi mới bỏ ghế xuống vỉa hè, dùng
hai tay đấm nhiều cái vào vùng bụng và ngực L1 rồi ôm vật L1 ngã xuống vỉa
hè. Khi L1 bị ngã thì L nhờ T tiếp tục giữ L1 nói đđi báo Công an nên T
tiếp tục dùng hai tay giữ dùng chân trái đè lên người L1. Tuy nhiên, L không
đi báo Công an mà tiếp tục dùng tay trái giữ, đè cổ L1 xuống vỉa dùng tay
phải đấm liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu, mặt L1. Trong lúc đang dùng tay
đánh L1, L thấy L1 vẫn cầm dây thắt lưng nên giật lấy dùng dây thắt lưng
đánh vài cái vào đầu, mặt người L1. Còn T vẫn giữ L1 cho L đánh L1
không buông L1 ra. Khoảng 10 phút sau, có người đi đường đến can ngăn nên L
T dừng lại, thả L1 ra. Sau đó, L1 và L đi bệnh viện điều trị thương tích, còn
Trần Trọng T đi về nhà;
Tại bản Kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số 288
ngày 11/11/2025 của Trung tâm pháp ý tỉnh Đ về thương tích của Hồ Quang L1
kết luận:
- Hai vết thương đỉnh đầu phải để lại hai sẹo thứ tự từ trước ra sau:
+ Sẹo thứ nhất cách tai phải 13cm, cách chân tóc trán phải 5cm, ch
thước (1x0,1)cm, tỷ lệ 1%;
+ Sẹo thứ hai cách sẹo thứ nhất 3,5cm về phía sau, kích thước
(1,3x0,1)cm gần giống hình chân chim, tỷ lệ 1%;
- Vết thương để lại sẹo đỉnh trán trái, trên chân tóc trán 3cm, cách đường
giữa đỉnh đầu 4cm, kích thước (1x0,1)cm, tỷ lệ 1%;
- Vết thương để lại sẹo vùng chẩm, trên chẩm 5,5cm, sát đường giữa,
kích thước (1x0,1)cm, tỷ lệ 1%;
- Sưng nề gò trái, sung nề hốc mắt trái, sung nề xây xát mũi, xây
xát vùng gáy, vết bầm tím tai phải tại thời điểm giám định đã lành không để lại
sẹo, không làm biến đổi sắc tố da, tỷ lệ 0%;
4
- Gãy xương chính mũi, tỷ lệ 8%;
- Gãy nứt cung trước xương sườn 5 bên trái, tỷ lệ 2%;
Tổng tỷ lphần trăm tổn thương thể 13%. Vật tác động: vật tày,
cứng và vật tày, cứng, có cạnh.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể trên người sống số 282
ngày 10/11/2025 của Trung tâm pháp ý tỉnh Đ về thương tích của Vũ Tiến Hùng
L kết luận:
- Vết thương để lại sẹo hình chữ V vùng trán đỉnh trái, trên đường chân
tóc trán trái 2cm, cách đường giữa 4,5cm, bờ nham nhở, kích thước (1,5x0,3)cm,
tỷ lệ 1%;
- Vết xây xát đlại vết biến đổi sắc tố da nằm dọc phải, cách mi
dưới mắt phải 2cm, cách nếp mũi phải 1cm, kích thước (1,2x0,2)cm, tỷ lệ
1%;
Tổng tỷ lphần trăn tổn thương thể 02%. Vật tác động: Vật tày,
cứng, có cạnh.
Tại kết luận giám định số 1199 ngày 16/12/2025 của Phòng K Công an
tỉnh Đ kết luận:
Tập tin video (Kí hiệu A1, A2, A3, A4, A5):
- Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung nh ảnh.
- Trích xuất được hình ảnh tả, diễn biến, hành vi vào bản ảnh giám
định.
Tại Bản án hình sự thẩm số: 85/2026/HS-ST ngày 10/4/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tiến Hùng L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Vũ Tiến Hùng L 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Trọng T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Trần Trọng T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.
Áp dụng Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 97
ngày tù, tương đương 03 tháng 07 ngày của Bản án 137/2025/HSST ngày
23/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; hình
phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng 07
(Bảy) ngày tù; (Bị cáo phải chấp hành 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ,
5
khấu trừ thời gian bị tạm giữ, bị cáo phải chấp hành 01 năm 02 tháng 21 ngày
cải tạo không giam gi446 ngày, bị cáo thi hành án từ ngày 27/6/2025 đến
ngày 28/11/2025 là 155 ngày, số ngày còn lại phải chấp hành là 291 ngày, tương
ứng 03 tháng 07 ngày tù).
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án;
3. Căn cứ điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134; điểm i, điểm s khoản 1, khoản
2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hồ Quang L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Hồ Quang L1 01 (Một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử
vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
- Ngày 17/4/2026, các bị cáo Vũ Tiến Hùng L, Trần Trọng T đơn
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án treo. Ngày 21/4/2026, bị cáo
Hồ Quang L1 đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
- Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng, cũng như lời khai của các bị cáo
tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả
gây ra đối với hành vi phạm tội của các bị cáo cho rằng Toà án cấp thẩm
đã xét xử các bị cáo Tiến Hùng L, Trần Trọng T theo quy định tại điểm đ
khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự bị cáo Hồ Quang L1 về tội Cố ý gây
thương tích” theo quy định tại điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự
đúng người, đúng tội. Xét mức nh phạt Tòa án cấp thẩm đã tuyên
nặng so với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo. Sau phiên tòa sơ
thẩm đến nay, các bị cáo Tiến Hùng L Trần Trọng T cung cấp thêm tình
tiết mới các bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự thẩm tiền bồi thường cho
bị hại Hồ Quang L1. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm b khoản 1
Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự - Chấp nhận một
phần kháng cáo của các bị cáo Tiến Hùng L, Trần Trọng T, Hồ Quang L1,
sửa bản án sơ thẩm về mức hình phạt đối với các bị cáo.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tiến H2 L 02 (Hai) năm tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần
Trọng T 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng Điều 55, Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 97
ngày tù, tương đương 03 tháng 07 ngày của Bản án 137/2025/HSST ngày
23/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; hình
6
phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành 01 năm 09 tháng 07 ngày (Bị cáo
phải chấp hành 01 m 03 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian bị
tạm giữ, bị cáo phải chấp hành 01 năm 02 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ
446 ngày, bị cáo thi hành án từ ngày 27/6/2025 đến ngày 28/11/2025 155
ngày, số ngày còn lại phải chấp hành 291 ngày, tương ứng 03 tháng 07 ngày
tù).
- Áp dụng điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Quang L1 06 tháng tù.
Tại bản luận cứ Luật sư Đặng Ngọc H1 trình bày: Nguyên nhân trực
tiếp dẫn đến hành vi phạm tội xuất phát từ bị cáo Hồ Quang L1 chủ động tìm
tới, khơi mào, sử dụng công cụ đe đọa đánh bị cáo L trước. Hành vi của bị
cáo L, T chỉ bộc phát thể hiện việc sử dụng vật dụng chiếc ghế đỏ sẵn
hiện trường chứ không sự tính toán chủ động chuẩn bị hung khí từ trước,
chiếc thắt lưng cũng là vật do người bi hại sử dụng trước. Mặc dù chưa đến mức
được xác định trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nhưng căn cứ để xác
định tâm của các bị cáo bị tác động rất lớn bởi hành vi trái pháp luật của
người bị hại. Bị cáo T hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn đang trực tiếp
chăm sóc mẹ già còn bị cáo L có vợ bị mắc bệnh ung thư ác tính phải điều trị dài
ngày cần người chăm sóc hỗ trợ.
Bản án sơ thẩm tuy đã xác định đúng hành vi phạm tội của các bị cáo
nhưng khi quyết định hình phạt vẫn chưa đánh gđầy đủ bản chất khách quan
của vụ án, chưa xem xét toàn diện lỗi của người bị hại cũng ncác tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo. Các bị cáo đều nhiều tình
tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả, đồng thời còn có nhiều tình
tiết nhân thân và hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn theo khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự. Các bcáo đều nơi tràng, nghề nghiệp ôn định, khả
năng tự cải tạo cao và không phải là những người coi thường pháp luật.
Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo sửa bản án hình sthẩm theo
hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tiến Hùng L bị cáo Trần Trọng T.
Trường hợp Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đáp ứng đầy đủ các điều kiện
theo quy định của Điều 65 Bộ luật Hình sự Nghị quyết số 02/2018/NQ-
HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao kính đề nghị xem xét
cho các bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo không tranh luận thêm, chxin Hội đồng xét xử giảm nhẹ
hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồvụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp
với lời khai của các bị cáo, bị hại những người tham gia tố tụng khác tại
quan điều tra, tại phiên tòa thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác
7
có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Vào khoảng 06
giờ ngày 28 tháng 9 năm 2025, tại khu vực ngã trước Siêu thị G, phường T,
tỉnh Đắk Lắk, Hồ Quang L1 hành vi sử dụng 01 dây thắt lưng mặt bằng
kim loại đánh trúng đầu của Tiến H2 L gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn
thương thể 02%. Sau đó, Trần Trọng T hành vi dùng tay, chân giữ
người của Hồ Quang L1 để Tiến H2 L sdụng ghế, dây thắt lưng mặt
bằng kim loại tay chân đánh nhiều cái trúng đầu, mặt, người của Hồ Quang
L1 gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương thể là 13%. Do đó, Tòa án cấp
thẩm đã xét xử bị cáo Vũ Tiến Hùng L, Trần Trọng T theo quy định tại điểm
đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự bị cáo Hồ Quang L1 về tội: “Cố ý gây
thương tích” theo quy định tại điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự
(có yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại Vũ Tiến Hùng L) là đúng người, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án treo của các bị
cáo, nhận thấy:
[2.1] Bị cáo Tiến Hùng L người nhân thân xấu, ngày 12/12/2001,
bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo Trần
Trọng T người đang chấp hành bản án số 137/2025/HSST ngày 23 tháng 5
năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nhưng
lại tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm các bị cáo Tiến Hùng L,
Trần Trọng T cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên
biên lai nộp tiền bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại biên lai nộp tiền án
phí hình sự thẩm nên áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
đối với bị cáo Vũ Tiến Hùng L và chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo
Tiến Hùng L, Trần Trọng T giảm một phần hình phạt cho các bị cáo, không
chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo.
[2.2] Xét mức hình phạt 01 (một) năm đối với bị cáo Hồ Quang L1
tương xứng với tính chất, mức đhành vi phạm tội của bcáo. Bởi lẽ, bị cáo
dùng hung khí là dây nịt có đầu bằng kim loại đánh 2 cái trúng vào đầu Tiến
Hùng L trước thể hiện tính chất côn đồ. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo L1 còn bị
quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ khởi tố, bắt tạm giam vtội “Gây rối
trật tự công cộng” xảy ra vào ngày 26/4/2026 thể hiện ý thức coi thường pháp
luật, không lấy đó làm bài học kinh nghiệm còn tiếp tục thực hiện hành vi
phạm tội. Tòa án cấp thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo,
tại cấp phúc thẩm bcáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không
căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo cần giữ nguyên bản án thẩm về
hình phạt đối với bị cáo L1.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Hồ Quang
L1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật
Các bị cáo Vũ Tiến Hùng L, Trần Trọng T được chấp nhận một phần kháng
cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng o,
8
kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo
Tiến Hùng L, Trần Trọng T. Sửa bản án hình sự thẩm số 85/2026/HS-ST
ngày 10/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk về hình phạt đối với
các bị cáo Vũ Tiến Hùng L, Trần Trọng T.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án
treo của bị cáo Hồ Quang L1. Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số
85/2026/HS-ST ngày 10/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk về
hình phạt đối với bị cáo Hồ Quang L1.
[2] Tuyên bố: Các bị cáo Tiến Hùng L, Trần Trọng T (T3) Hồ
Quang L1 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Tiến Hùng L 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Trọng T (T3) 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù;
Áp dụng Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp 03 tháng 07 ngày
của Bản án 137/2025/HSST ngày 23/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành
02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng 07 (Bảy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Quang L1 01 (Một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 15/5/2026 (Ngày bị quan cảnh
sát điều tra Công an tỉnh Đ khởi tố, bắt tạm giam về hành vi gây rối trật tự công
cộng).
[3] Về án phí: Bị cáo Hồ Quang L1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự
phúc thẩm.
Các bị cáo Tiến Hùng L, Trần Trọng T không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
9
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
- Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
- Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 - Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 1 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 1;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị My My
10
11
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 177/2026/HS-PT Bản án số 177/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 177/2026/HS-PT Bản án số 177/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất