Bản án số 171/2026/DS-PT ngày 18/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 171/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 171/2026/DS-PT ngày 18/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 171/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: H Ly Na M tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 171/2026/DS-PT
Ngày: 18 - 3 - 2026
V/v “Yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng hiệu; giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu; hợp
đồng uỷ quyền hiệu; kiện đòi Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huyền
Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thu Hường và bà Nguyễn Thị My My
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Duyên Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đắk Lk tham gia phiên toà: Lương
Th Diu Anh - Kim sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2026, ti tr s Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lk xét x
phúc thm công khai v án dân s th lý s 484/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 11
năm 2025 v vic “Yêu cầu tuyên b văn bản công chng hiu; giao dch chuyn
nhượng quyn s dụng đất hiu; hợp đồng u quyn hiu; kiện đòi Giấy
chng nhn quyn s dụng đất”.
Do bn án dân s sơ thẩm s: 12/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vc 7 - Đắk Lk, b kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét x s 98/2026/QĐ-PT, ngày 22/01/2026
giữa các đương sự;
1. Nguyên đơn: H Lyna M, sinh năm 1988. Nơi trú: Buôn M, E,
(trước đây là buôn M, thị trấn E), tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2. Bị đơn: Hoàng Thị Thu H. Nơi trú: C V, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
Vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
+ Ông Nguyễn Đức D. Địa chỉ: 1 N, phường B (trước đây là phường T), tỉnh
Đắk Lắk. Có mặt.
+ Ông Trần Cao T. Địa chỉ: Số A L, phường B (trước đây là phường T), tỉnh
Đắk Lắk. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
2
Ông Y Thăn B, sinh năm 1955 và bà H Nữp M1, sinh năm 1966.
Cùng nơi trú: Buôn M, E, (trước đây buôn M, thị trấn E), tỉnh Đắk
Lắk. Đều có mặt.
4. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
+ Ông Y Daly M2, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Buôn P, phường B, (trước đây
xã C), tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Tổ dân phố D, xã E, (trước
đây là Tổ dân phố D, thị trấn E), tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
+ Ông Nhữ Văn C (Có mặt) và bà Phạm Thị Á (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn F,
xã E (trước đây là thôn F, xã C), tỉnh Đắk Lắk.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á có: Ông
Lê Duy B1. Địa chỉ: Thôn G, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
+ Ông Đặng Trường G, Trần Kim Y, Lưu Thị Huệ . Địa chỉ: Thôn Đ,
xã E (trước đây là thôn Đ, xã E), tỉnh Đắk Lắk. Đều có mặt.
+ Văn phòng công chứng Nguyễn Thị L. Địa chỉ: Số D N, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
Vắng mặt.
+ Văn phòng C1. Địa chỉ: Tổ dân phố H, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của H Lyna M và ông Y Thăn B,
H Nữp M1 : Luật sư Phạm Văn N - Văn phòng luật sư Buôn Ma T2. Địa chỉ:
A P, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
5. Người kháng cáo:
B đơn Hoàng Th Thu H và những người có quyn li, nghĩa vụ liên quan:
Ông Y Thăn B; bà H Np M1; ông Nh Văn C, Phm Th Á; ông Đặng Trường
G, bà Trn Kim Y và bà Lưu Thị Hu .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện ngày 01/5/2022, trong quá trình làm việc, tại phiên tòa
nguyên đơn bà H Lyna M trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết với bà Nguyễn Thị T1, nên ngày 06/08/2021 gia
đình ông Y Thăn B; H Ñưp M3, ông Y DaLy M2 hợp đồng ủy quyền cho
H Lyna Mlô toàn quyền định đoạt đối với quyền sử dụng thửa đất số 156, tbản
đồ số 23, diện tích 5078,6 m
2
tại thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Hợp đồng ủy
quyền được tại Văn phòng C2, số công chứng 000009904, quyển số
09/2021/TP/CC-SCC/HĐGD. (Nay là Văn phòng C3).
Sau khi được ủy quyền, cùng ngày tại Văn phòng C1 tôi tiếp tục ký hợp đồng
ủy quyền cho Hoàng Thị Thu H được toàn quyền định đoạt đối với quyền sử
dụng thửa đất này, số công chứng 00002549 quyển số 08/2021TP/CC-SCC/HNGD
và tôi giao cho Hoàng Thị Thu H bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số O 367430 do UBND tỉnh Đ cấp cho hộ H Ñưp Mlô ngày 04/01/2001 thay đổi
spháp ngày 04/6/2020. Việc tôi hợp đồng ủy quyền cho Hoàng Thị
Thu H để bảo đảm cho việc bà Nguyễn Thị T1 vay tiền của bà H, không việc tôi
chuyển nhượng thửa đất cho bà Hoàng Thị Thu H.
3
Sau khi ông Y Thăn B, H Ñưp M3 hợp đồng ủy quyền cho tôi, nhận
thấy việc y quyền tiềm ẩn rủi ro và khả năng bị lạm dụng nên không đồng ý ủy
quyền đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tôi đã nhiều lần yêu cầu
Nguyễn Thị T1 Hoàng Thị Thu H trả lại, do T1 không trả được tiền nên
H không đồng ý trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhận thấy hợp đồng
uỷ quyền giữa tôi và bà Hoàng Thị Thu H không đúng pháp luật vì: Hợp đồng uỷ
quyền số 000009904 ngày 06/8/2021 tại Văn phòng C2 không điều khoản cụ
thể tôi được uỷ quyền lại cho người thứ 3 và nội dung uỷ quyền cho bà Hoàng Thị
Thu H gây ảnh hưởng đến quyền sở hữu, quyền sử dụng đất của ông Y Thăn B
H Ñưp M3. Bản chất không việc tôi uỷ quyền cho Hoàng Thị Thu H để
thực hiện công việc theo nội dung uỷ quyền của ông Y Thăn B H Ñưp M3.
Hợp đồng uỷ quyền giữa tôi và bà Hoàng Thị Thu H là để đảm bảo khoản nợ của
Nguyễn Thị T1 vay của Hoàng Thị Thu H, giả cách. Đề nghị Tòa án giải
quyết:
- Tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 06/8/2021 giữa bà H Lyna Mlô với
Hoàng Th Thu H, ng chứng số 00002549 quyển số 08/2021/TP/CC-
SCC/HĐGD tại Văn phòng C1.
- Buộc Hoàng Thị Thu H trả lại cho tôi bản gốc GCNQSD đất số O 367430
vào sổ cấp GCN: 0432 QSDĐ/MT01 do UBND tỉnh Đ cấp cho hộ bà H Ñưp Mlô
ngày 04/01/2001 (thay đổi cơ sở pháp lý ngày 04/6/2020) đối với thửa đất số 156,
tờ bản đồ số 23, diện tích 5078,6m
2
tại thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
* Tại Bản tự khai ngày 24/8/2022 bị đơn bà Hoàng Thị Thu H trình bày:
Khi có người của Công ty bất động sản ln hệ hỏi tôi có mua đất không, sau
khi bàn bạc trao đổi thông tin với nhau, thì chúng tôi đồng ý mua. Ngày 06/8/2021
tại Văn phòng C1 tôi trực tiếp trao đổi với H L1 để mua thửa đất số 156, tờ bản
đồ số 23, diện tích 5078m
2
tại thị trấn E, được UBND tỉnh Đ cấp ngày 04/01/2001
với giá thoả thuận 2,8 tỷ đồng. Văn phòng C1 lập cho chúng tôi hợp đồng uỷ
quyền giữa bên uỷ quyền ông Y Thăn B, bà H Ñưp M3, ông Y Daly M2, H Lyna
M và bên được uỷ quyền tôi. Nội dung H Lyna Mlô uỷ quyền cho tôi được
toàn quyền quyết định đối với thửa đất trên. Sở hai bên không lập hợp đồng
chuyển nhượng do ngày 06/8/2021 chồng tôi không mặt để làm hợp đồng
chuyển nhượng, nên phải làm hợp đồng uỷ quyền để tôi làm thủ tục chuyển nhượng
sau. Trước khi hợp đồng uỷ quyền H Lyna Mlô đọc knội dung hợp đồng
tên tôi đã giao đủ số tiền H Lyna Mlô giao cho tôi Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số O 367430 do UBND tỉnh Đ cấp cho hộ bà H Ñưp Mlô ngày
04/01/2001. Đến ngày 13/10/2021 tôi chuyển nhượng lại thửa đất này cho ông Nhữ
Văn C. Căn cứ vào hợp đồng u quyền thì tôi thực hiện theo đúng nội dung
phạm vi uỷ quyền. Đề nghị Toà án giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Y Thăn B, bà H Ñưp M3, trình
bày: Ngày 06/8/2021, bà H Lyna M hỏi mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
để đi vay tiền lấy vốn kinh doanh, nên chúng tôi đến Văn phòng C2 hợp đồng
ủy quyền cho H Lyna Mlô. Thời gian sau chúng tôi được biết, H Lyna Mlô không
sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn ủy quyền lại cho bà
Hoàng Thị Thu H để cho Nguyễn Thị T1 vay tiền. Việc y quyền lại này thì
4
chúng tôi không đồng ý, vì ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của gia đình tôi. Gia
đình tôi không bán đất hay nợ nần gì với bà Nguyễn Thị T1, Hoàng Thị Thu H,
ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Ánh .1 vậy chúng tôi khởi kiện yêu cầu độc lập
đề nghị Tòa án giải quyết:
- Tuyên hủy hợp đồng ủy quyền ngày 06/8/2021 giữa H Ñưp M3, ông Y
Thăn B, ông Y Daly M2 với H Lyna M tại Văn phòng C2, số công chứng số
000009904 quyển số 09/2021/TP/CC-SCC/HĐGD.
- Tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/10/2021
giữa Hoàng Thị Thu H với ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á, số công chng
000003256 quyển số 10/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 và hủy đăng
ký biến động quyền sử dụng đất sang tên ông C, bà Á.
- Tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nhữ Văn C,
Phạm Thị Á với Ngân hàng TMCP Đ Đ đối với tài sản thế chấp quyền sử
dụng thửa đất số 156, tờ bản đồ số 23, diện tích 5078,6 m
2
tại thị trấn E, huyện E,
tỉnh Đắk Lắk.
- Hủy bỏ giá trị pháp đối với nội dung đăng biến động chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á ngày 20/10/2021 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện E.
- Buộc ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á trả lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số O 367430 vào sổ cấp GCN: 0432/QSDĐ/MT01 do UBND tỉnh Đ
cấp cho hộ H Ñưp Mlô ngày 04/01/2001 (thay đổi sở pháp ngày 04/6/2020)
đối với thửa đất số 156, tờ bản đồ số 23, diện tích 5078,6 m
2
tại thị trấn E, huyện
E, tỉnh Đắk Lắk.
- Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/6/2023 giữa
ông Nhữ Văn C, bà Phạm Thị Á với ông Đặng Trường GTrần Kim Y, Hợp
đồng được công chứng số 003229, quyển số 06/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn
phòng C4.
- Hủy bỏ nội dung đăng biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số O 367430 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đặng Trường
G và bà Trần Kim Y.
- Tuyên hủy hợp đồng ủy quyền giữa ông Đặng Trường G, Trần Kim Y với
Lưu Thị H2 về việc ủy quyền toàn quyền định đoạt thửa đất số 156, tờ bản đồ
số 23, diện tích 5078,6m
2
tại thị trấn E, tỉnh Đắk Lắk.
* Tại Bản tự khai ngày 24/8/2024 ông Nhữ Văn C trình bày: Vào cuối năm
2021 tôi thấy thông tin Hoàng Thị Thu H đăng bán trên mạng hội đất số
23, tờ bản đồ số 156 diện tích 5078,6 m
2
tại thị trấn E, huyện E. Khi tìm hiểu nguồn
gốc thửa đất giấy tliên quan, nên tôi H thoả thuận giá cả hẹn ngày
15/10/2021 gặp nhau tại Văn phòng C1 để làm hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi
nhận chuyển nhượng đất tôi đến kiểm tra thì biết thửa đất ông Y Thăn B, H Ñưp
Mlô đang ở, tôi đã thông báo cho biết diện tích đất này tôi đã nhận chuyển nhượng
của bà H và yêu cầu gia đình bàn giao lại diện tích đất này cho tôi, do gia đình xin
đến Tết thì tôi đồng ý. Sau tôi thấy thửa đất này xảy ra tranh chấp giữa H Lyna
M với Hoàng Thị Thu H nên tôi chưa đòi đợi các bên giải quyết với nhau
5
xong thì tôi lấy lại sau. Hiện thửa đất này tôi đã chuyển nhượng lại cho ông Đặng
Trường G, bà Trần Kim Y vào tháng 10/2023. Nay ông Y Thăn B, H Ñưp M3
chHLyna M4 khởi kiện yêu cầu tuyên huỷ hợp đồng uỷ quyền giữa chị H Lyna
Mlô với chị H huỷ bỏ giá trị pháp đối nội dung đăng biến động sang n
tôi thì tôi không đồng ý. Buộc ông Y Thăn B, H Ñưp M3 phải trả lại diện tích
đất này cho tôi.
* Tại biên bản làm việc ngày 02/5/2024 ông Đặng Trường G trình bày: Vào
tháng 6/2023 tại Phòng C5, phường T, thành phố B, tôi ông Nhữ Văn C, bà
Phạm Thị Á có ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 23, tờ bản đồ số 156 diện
tích 5078,6 m
2
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 367430 cấp ngày
04/01/2001, thay đổi cơ sở pháp lý sang cho ông Nhữ Văn C ngày 20/10/2021 với
giá ghi trong hợp đồng 500.000.000 đồng, diện tích đất này đã đăng biến động
sang tên tôi vào ngày 03/7/2023. Hiện diện tích đất này tôi đã chuyển nhượng bằng
giấy tay cho bà Lưu Thị Huệ . Do tôi buôn bán bất động sản, không có nhu cầu sử
dụng, nên khi nhận chuyển nhượng tôi không kiểm tra thực tế diện tích đất và chưa
nhận bàn giao đất này trên thực địa. Nay vụ kiện liên quan đến tôi, đề nghị Toà án
giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật và không có yêu cầu gì.
* Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ kiện Lưu Thị H2, Trần Kim Y
không hợp tác, từ chối khai báo nên không ghi nhận được ý kiến của những người
này (BL 405, 406)
* Tại Bản tự khai bà Trần Thị M5 đại diện theo uỷ quyền của Giám đốc Ngân
hàng Thương mại cổ phần Đ Chi nhánh Đ1 (Gọi tắt Ngân hàng B2) trình bày:
Ngày 21/12/2022 Ngân hàng B2 cho ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á vay số tiền
02 tỷ đồng với thời hạn 05 tháng ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á thế chấp
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số O 0367930 do UBND Đắk Lăk cấp
ngày 04/01/2001 đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ số 156 diện tích 5078,6 m
2
. Đến
ngày 17/5/2023 khoản vay đến hạn ông Nhữ Văn C đã thực hiện trả đầy đủ gốc
lãi, cùng ngày Ngân hàng B2 thực hiện việc giải chấp tài sản bảo đảm đã trả
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông Nhữ Văn C. Đề nghị Toà án xác
định Ngân hàng B2 không liên quan đến vụ kiện.
* Tại Bản tkhai ngày 20/6/2024 Nguyễn Thị L, Trưởng Văn phòng C3
trình bày: Ngày 06/8/2021 tại Văn phòng công chứng ông Y Thăn B, bà H Ñưp
M3, ông Y DaLy M2 bà H Lyna M đến Văn phòng C2 xuất trình giấy tờ bản
chính gồm: Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân, Đơn xin xác nhận thành
viên hộ gia đình, Giấy chứng nhận quyền s dụng đất số O 0367930 vào sổ
0432QSDĐ/MT01do U cấp ngày 04/01/2001; 02 sổ hộ khẩu. Hộ H Ñưp M3
yêu cầu làm thủ tục uỷ quyền cho bà H Lyna M. Sau khi kiểm tra hồ sơ, đối tượng
đến tham gia giao dịch đúng đủ điều kiện để giải quyết, Văn phòng C6 hợp đồng
uỷ quyền giải thích quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, hậu quả pháp cho các
bên biết, các bên đồng ý, kiểm tra và đọc toàn bộ nội dung hợp đồng uỷ quyền,
không ý kiến sửa đổi bổ sung nội dung gì. Đối tượng tham gia giao dịch đều biết
đọc, biết viết, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Việc
tham gia giao dịch này là thể hiện ý chí, nguyện vọng của các bên, phù hợp với quy
6
định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, Công chứng viên, thư ký nghiệp vụ
hướng dẫn các bên từng trang, ghi ý chí của mình vào trang cuối điểm chỉ.
* Tại Bản tự khai ngày 07/11/2023 Trưởng Văn phòng C1 trình bày: Ngày
06/8/2021 tại Văn phòng C1, H Lyna M đến làm thủ tục uỷ quyền cho
Hoàng Thị Thu H xuất trình bản chính giấy tờ gồm: 01 hợp đồng uỷ quyền
do Văn phòng C2 ký: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O367430 số vào
sổ 0432 QSDĐ/MT01 do U cấp ngày 04/01/2001; 02 Chứng minh nhân dân; 02
Sổhộ khẩu, H L1 yêu cầu Văn phòng làm thủ tục uỷ quyền cho bà Hoàng Thị
Thu H. Sau khi kiểm tra giấy tờ, đối tượng đến tham gia giao dịch đúng và đủ điều
kiện để giải quyết, Văn phòng soạn thảo hợp đồng uỷ quyền; đồng thời giải thích
rõ quyền nghĩa vụ, trách nhiệm, hậu quả pháp cho các bên tham gia giao dịch
biết, các bên đồng ý, đã kiểm tra đọc toàn bnội dung hợp đồng uỷ quyền, ng
chứng hướng dẫn, giám sát các bên ký từng trang, ghi rõ ý chí của mình vào trang
cuối và điểm chỉ. Đề nghị Toà án giải quyết vụ kiện theo quy định.
* Tại biên bản làm việc ngày 29/8/2022 và ngày 12/5/2025 bà Nguyễn Thị T1
trình bày: Do có mối quan hệ quen biết với gia đình bà H Lyna Mlô, đang cần tiền
làm ăn, nên tôi có đặt vấn đề mượn bà H L1 Mlô bìa đất tại buôn M, với thời hạn
01 tháng và được gia đình đồng ý. Nên ngày 06/8/2021 gia đình ông Y Thăn B, bà
H Ñưp Mlô uỷ quyền cho H Lyna Mlô để H Lyna Mlô uỷ quyền cho H,
để bà H cho tôi vay số tiền 02 tỷ đồng, mục đích uỷ quyền để đảm bảo cho khoản
vay của tôi với H. Sau khi H Lyna Mlô lập văn bản uỷ quyền thì Hoàng
Thị Thu H, ông Nhữ Văn C chuyển vào số tài khoản 109002904012 của tôi số
tiền 02 tỷ đồng, khi làm thủ tục uỷ quyền chúng tôi thothuận miệng cầm cố chứ
không mua bán. Nay H Lyna Mlô khởi kiện tuyên hiệu hợp đồng uỷ quyền
ngày 06/8/2021 giữa bà H Lyna M với bà Hoàng Thị Thu H và buộc bà H phải trả
lại giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Đề nghị Toà án giải quyết vụ kiện theo quy
định của pháp luật. (BL 89, 469)
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
yêu cầu độc lập H Ñưp M3, ông Y Thăn B Luật sư Phạm Văn N người
bảo vquyền và lợi ích hợp pháp của những người này trình bày: Sau khi phân tích
các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự tại phiên toà,
nguyên đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập H Ñưp
Mlô, ông Y Thăn B và luật sư người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những
người trên rút một phần yêu cầu khởi kiện đối yêu cầu: Huỷ hợp đồng thế chấp
giữa ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á với Ngân hàng B2 và thay đổi yêu cầu đòi
ông Đặng Trường G, Trần Kim Y phải trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
rút yêu cầu tuyên hủy hợp đồng ủy quyền giữa ông Đặng Trường G, Trần
Kim Y với bà Lưu Thị H2 về việc ủy quyền toàn quyền định đoạt thửa đất số 156,
tờ bản đồ số 23, diện tích 5078,6m
2
tại thị trấn E, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Hoàng Thị Thu H là ông Nguyễn Đức
D trình bày: Sau khi phân tích các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ, lời trình y
của nguyên đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập tại
phiên toà. Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
7
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu độc lập của người
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà H Ñưp M3 và ông Y Thăn B.
- Đại diện theo uỷ quyền của ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Áông Lê Duy
B1 trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ kiện, ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á
đơn yêu cầu độc lập buộc H Ñưp M3, ông Y Thăn B phải bàn giao trả lại
toàn bộ diện tích 5078,6 m
2
thửa đất số 23, tbản đsố 156. Ngày 16/12/2024 ông
C, Á đơn xin rút toàn bộ yêu cầu này, nên đề nghị Hội đồng xét xử không
xem xét để giải quyết. Sau khi phân tích các chứng cứ, quy định của pháp luật
đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc
lập của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan tuyên hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/10/2021 giữa Hoàng Thị Thu H với ông Nhữ
Văn C, Phạm Thị Á, số công chứng 000002549 quyển số 08/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 yêu cầu hủy đăng ký biến động quyền sử dụng
đất sang tên ông C, bà Á với ông Đặng Trường G.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Áp dụng khoản 3, 11 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1
Điều 39; Khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều
271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, 124, Điều 562, 564 Bộ luật
Dân sự. Điều 166, Điều 168 Luật Đất đai 2013.
-Áp dụng khoản 2 Điều 26, Điều 27 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H Lyna M.
- Tuyên hợp đồng uỷ quyền giữa H Lyna Mlô với Hoàng Thị Thu H
công chứng số 00002549 quyển số 08/2021/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1
là vô hiệu.
- Buộc ông Đặng Trường G, Trần Kim Y phải trách nhiệm trả lại cho
H Lyna Mlô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O367430 vào sổ cấp GCN:
0432/QSDĐ/MT01, do UBND tỉnh Đ cấp ngày 04/01/2001 (thay đổi cơ spháp
ngày 04/6/2020) đối với thửa đất số 156, tờ bản đsố 23, diện tích 5078,6 m2 tại
thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk mang tên hộ bà H Nữp M1.
Trường hợp ông Đặng Trường G, Trần Kim Y không giao nộp bản chính
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì ông Y Thăn B và bà H Ñưp Mlô là người
sử dụng đất được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, huỷ bỏ
giá trị pháp lý đối Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên và cấp lại Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp Luật Đất đai.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông Y Thăn BH Ñưp M3.
Tuyên bố các văn bản công chứng sau đây vô hiệu
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hoàng Thị Thu H với
ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á ngày 15/10/2021 công chứng tại Văn phòng C1,
số công chứng 000003256, quyển số 08/2021TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất
8
số 156, tbản đồ số 23, diện tích 5078,6 m
2
toạ lạc tại thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk
Lắk (Nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk).
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nhữ Văn C, Phạm
Thị Á với ông Đặng Trường G, Trần Kim Y số công chứng 003229, quyển số
06/2023 TP/CC-SSCC/HĐGD ngày 08/6/2023 tại Văn phòng C4 đối với thửa đất
số 156, tbản đồ số 23, diện tích 5078,6 m
2
toạ lạc tại thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk
Lắk (Nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk).
3. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Y Thăn B H Ñưp Mlô về việc tuyên
huỷ hợp đồng ủy quyền ngày 06/8/2021 giữa bà H Ñưp M3, ông Y Thăn B, ông Y
Daly M2 với bà H Lyna Mlô tại Văn phòng C2, số công chứng 000009904 quyển
số 09/2021/TP/CC-SCC/HĐGD.
4. Đình chỉ yêu cầu độc lập của người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông
Y Thăn B H Ñưp M3 về việc tuyên hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất giữa ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á với Ngân hàng B2 đối với tài sản thế chấp
quyền sử dụng đất thửa đất số 156, tờ bản đồ số 23, diện tích 5078,6 m
2
tại thị
trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông
Y Thăn B và bà H Ñưp Mlô về việc tuyên hủy hợp đồng ủy quyền giữa ông Đặng
Trường G, Trần Kim Y với bà Lưu Thị H2 đối với thửa đất số 156, tờ bản đồ số
23, diện tích 5078,6m
2
tại thị trấn E, tỉnh Đắk Lắk.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông
Nhữ Văn C, bà Phạm Thị Á về việc buộc ông Y Thăn B và bà H Ñưp M3 phải trả
lại toàn bộ diện tích đất tài sản trên thửa đất số 156, tbản đồ số 23, diện tích
5078,6 m
2
toạ lạc tại thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk).
5. Các đương sự quyền khởi kiện để giải quyết hậu quả pháp của giao
dịch dân sự vô hiệu ở trên bằng vụ kiện dân sự khác.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, ván phí, quyền kháng cáo của
đương sự theo quy định pháp luật.
- Ngày 06/9/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Y Thăn B
H Nữp M1 kháng cáo một phần bản án, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ
thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập về việc tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền ngày
06/8/2022 giữa ông Y Thăn B, bà H Nữp M1, ông Y Daly M2 với bà H Lyna M.
- Ngày 8, 9 tháng 9 năm 2025, bị đơn bà Hoàng Thị Thu H; Người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nhữ Văn C và bà Phạm Thị Á kháng cáo toàn bộ nội
dung bản án thẩm, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ngày 10/9/2025, ông Đặng Trường G, Trần Kim Y Lưu Thị H2
kháng cáo kháng cáo toàn bộ nội dung bản án thẩm, cho rằng cấp thẩm vi
phạm tố tụng, các ông không nhận được giấy triệu tập của Tòa án, chưa giải
quyết hậu quả của hợp đồng hiệu. Đề nghị sửa bản án thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trường hợp không thể khắc
phục được thì đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, những
người kháng cáo giữ nguyên đơn kháng cáo.
9
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho H L, ông Y Thăn B, H Nữp
M1 trình bày: Hợp đồng ủy quyền ngày 06/8/2021 giả tạo, che giấu giao dịch
khác. Các giao dịch sau đó đều không chứng minh được việc giao tiền, giao đất.
Việc chuyển nhượng khi đang tranh chấp trái pháp luật, dấu hiệu tẩu tán
tài sản. Thực tế gia đình H Lyna Mlô vẫn quản lý, sử dụng đất, không việc
bàn giao thực tế. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của ông Y
Thăn B, bà H Nữp M1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết ván cũng như tại phiên tòa
Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án, đề nghị Hội đồng xét xphúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ
luật tố tụng dân sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Thị Thu
H những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Y Thăn B; H Nữp M1;
ông Nhữ Văn C, Phạm Thị Á; ông Đặng Trường G, bà Trần Kim Y Lưu
Thị Huệ . Hủy bản án dân sự thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân
Khu vực 7 – Đắk Lắk giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sxem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trình y của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét
xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Hoàng Thị Thu H
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Y Thăn B; bà H Nữp M1; ông
Nhữ Văn C, bà Phạm Thị Á; ông Đặng Trường G, Trần Kim Y Lưu Thị
H2 trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức. Thực hiện nộp tiền tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm theo quy định nên vụ án được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc
thẩm là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu
Thị H2 cung cấp Hợp đồng y quyền ngày 25/3/2024 được công chứng tại văn
phòng C7 và Hợp đồng mua bán đất ngày 26/3/2024 giữa ông Đặng Trường G, bà
Trần Kim Y với bà Lưu Thị H2 đối với thửa đất số 156, tờ bản đồ số 23, đây là các
tài liệu chưng cứ mới.
[2.2] Bản án thẩm nhận định rằng trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu Tòa án giải quyết
10
hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem
xét giải quyết trong vụ án này tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi yêu
cầu. Tuy nhiên, những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Đặng
Trường G, Trần Kim Yu Thị H2 trình bày không nhận được giấy triệu
tập các văn bản tố tụng của Tòa án cấp thẩm nên không biết đthực hiện
quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Qua kiểm tra hồ vụ án thể hiện trong quá trình giải quyết vụ án, việc cấp,
tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cấp thẩm đối với những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2.3] Tại Thông báo số 05/TB-TA ngày 02/6/2024 của Tòa án về việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự (bút lục 352) nội dung thông báo cho ông
Đặng Trường G, Trần Kim Yu Thị H2 nếu yêu cầu độc lập thì phải
làm đơn theo quy định. Tuy nhiên tài liệu trong hồ thể hiện văn bản này được
giao cho ông Đặng Trường G ngày 31/5/2024, trước thời điểm văn bản được ban
hành; đồng thời việc giao nhận chỉ thể hiện ông G là người nhận, không có căn cứ
xác định việc ông G cam kết giao lại cho bà Trần Kim Y Lưu Thị Huệ .
Lưu Thị H2 không trú cùng địa chỉ với ông G nên việc giao nhận trên không
bảo đảm đúng quy định về tống đạt văn bản tố tụng.
Quyết định số 47 và 48/2024/QĐ-CCTLCC ngày 09/7/2024 của Tòa án (bút
lục 403 404) yêu cầu ông Đặng Trường G, Trần Kim Y Lưu Thị H2
cung cấp tài liệu, chứng cứ. Tuy nhiên, tại bút lục 402 thể hiện không căn cứ
xác định việc tống đạt giao nhận hợp lệ.
Tại biên bản làm việc ngày 20/8/2024 (bút lục 406) làm việc tại nơi ở của bà
Lưu Thị H2 nhưng không xác định được địa chỉ cụ thể; biên bản làm việc ngày
14/8/2024 (bút lục 405) tại nơi ở của ông Đặng Trường G, Trần Kim Y thể hiện
nội dung Tòa án yêu cầu các đương sự làm đơn yêu cầu độc lập, tuy nhiên các
đương sự cho rằng việc mua bán hợp pháp không trình bày ý kiến, nguyện
vọng cụ thể, không ký vào biên bản. Tại phiên tòa phúc thẩm ông G, bà Y, H2
xác định không việc Tòa án đến nhà các ông để làm việc về các nội dung
trên.
Tại biên bản giao Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải (bút lục 443 và 456) và Biên bản giao Thông báo thụ lý
yêu cầu độc lập (bút lục 393) không bảo đảm giao nhận văn bản ttụng hợp lệ. Hồ
vụ án không thể hiện việc tống đạt văn bản Thông báo kết quả định giá tài sản
cho ông Đặng Trường G và bà Trần Kim Y. Trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 26/QĐXX-DS ngày 06/6/2025, không tên Lưu Thị H2 hồ cũng
không thể hiện việc tống đạt quyết định cho H2. Đối với Quyết định hoãn phiên
tòa, hồ thể hiện Trần Kim Y nhận thay cam kết giao lại cho ông Đặng
Trường G Lưu Thị Huệ . Tuy nhiên H2 không phải người thân
trú cùng địa chỉ với bà Trần Kim Y nên việc giao nhận thay không bảo đảm.
[2.4] Theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự quyền
được Tòa án thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để thực hiện quyền và
11
nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án. Theo quy định tại các Điều 173
và 174 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng phải
được thực hiện trực tiếp cho đương sự hoặc người được ủy quyền hợp pháp. Ngoài
ra, Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định việc giao nhận văn bản tố tụng phải
có ký nhận của người nhận hoặc được lập thành biên bản theo quy định.
Trong vụ án này, nhiều văn bản tố tụng không tống đạt hợp lệ cho đương sự
dẫn đến những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không được thông báo đầy
đủ về quá trình giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền tham gia tố tụng quyền
thực hiện các yêu cầu của họ.
Bên cạnh đó, theo hướng dẫn tại mục 2 phần III Công văn giải đáp số
01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao, khi giải quyết
vụ án dân sự yêu cầu tuyên bố hợp đồng hiệu đương sự không yêu cầu
giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì Tòa án phải giải thích cho các đương
sự vhậu quả pháp của việc tuyên bố hợp đồng hiệu việc giải thích này
phải được ghi nhận trong hồ sơ vụ án. Hồ sơ vụ án không thể hiện việc Tòa án cấp
sơ thẩm đã giải thích đầy đủ cho các đương sự, đặc biệt là ông Đặng Trường G, bà
Trần Kim Y và bà Lưu Thị H2, về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng
hiệu.
[2.5] Trong quá trình giải quyết, bà H Lyna M trình bày việc ủy quyền cho
Hoàng Thị Thu H nhằm bảo đảm cho khoản vay của Nguyễn Thị T1. Tài liệu
trong hồ thể hiện tại Giấy mượn bìa lập ngày 06/8/2021 Giấy cam kết lập
ngày 19/12/2021 có nội dung bà Nguyễn Thị T1 và chồng là ông Đỗ Duy A ợn
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của H Lyna Mlô để vay số tiền
2.120.000.000 đồng của bà Hoàng Thị Thu H. Như vậy, căn cứ xác định ông Đỗ
Duy A liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm không
triệu tập và không đưa ông Đỗ Duy A tham gia tố tụng với tư cách người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa bảo đảm quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân
sự, làm ảnh hưởng đến việc xác định đầy đủ, toàn diện các quan hpháp luật
quyền, nghĩa vụ của các bên trong vụ án.
[2.6] Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩmLưu Thị H2 cung cấp thêm tài liệu
chứng cứ mới từ các nhận định nêu trên trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án
cấp thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng, chưa thực hiện đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, làm ảnh
hưởng đến quyền được biết, quyền tham gia tố tụng quyền thực hiện các yêu
cầu của các đương sự. Ảnh hưởng đến việc giải quyết triệt để ván, cấp phúc thẩm
không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm. vậy, Hội đồng xét xphúc thẩm xét
thấy cần hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải
quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
[3] Đối với các nội dung kháng cáo khác: Do bản án thẩm bị hủy để giải
quyết lại nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét các nội dung kháng cáo
khác của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm.
12
Do hủy bản án thẩm, bị đơn bà Hoàng Thị Thu H những người quyền
lợi, nghĩa vliên quan: Ông Y Thăn B; H Nữp M1; ông Nhữ Văn C, Phạm
Thị Á; ông Đặng Trường G, bà Trần Kim Y và bà Lưu Thị H2 không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dng Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Thị Thu H và những
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Y Thăn B; H Nữp M1; ông Nhữ
Văn C, bà Phạm Thị Á; ông Đặng Trường G, bà Trần Kim Y và bà Lưu Thị Huệ .
Hủy bản án dân ssơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án
nhân dân Khu vực 7 – Đắk Lắk giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
[2] Về án phí, chi phí tố tụng:
- Số tiền tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng sẽ được quyết
định khi vụ án đư ợc tiếp tục giải quyết ở cấp sơ thẩm.
- Hoàng Thị Thu H; ông Y Thăn B; H Nữp M1; ông Nhữ Văn C,
Phạm Thị Á; ông Đặng Trường G, Trần Kim Y bà Lưu Thị H2 không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà Hoàng Thị Thu H; bà H Nữp M1; ông Nhữ Văn
C, Phạm Thị Á; ông Đặng Trường G, Trần Kim Y Lưu Thị H2 mỗi
người được nhận lại 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo
các biên lai số 0000729 ngày 11/9/2025; 0000769 ngày 12/9/2025; 0000798,
0000799, 0000803, 0000804 cùng ngày 15/9/2025; 0000846 ngày 17/9/2025 tại
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 07 - Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 7;
- Phòng THADS Khu vực 7;
- Cổng TTĐT Toà án;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Thị Thanh Huyền
Tải về
Bản án số 171/2026/DS-PT Bản án số 171/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 171/2026/DS-PT Bản án số 171/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất