Bản án số 400/2026/DS-PT ngày 27/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 400/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 400/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 400/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 400/2026/DS-PT ngày 27/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 400/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bản án 400 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 400/2026/DS-PT
Ngày: 27-3-2026
Về việc tranh chấp hợp đồng vay tài
sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Nhân
Bà Đinh Thị Ngọc Yến
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn, Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi
Quốc Việt, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số1189/2025/TLPT-DS ngày 24
tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 186/2025/DS-ST ngày 27 tháng 08 năm 2025 Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 248/2025/QĐ-PT ngày 03
tháng 03 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963
Địa chỉ: Ô, khu A, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Bà Trần Huỳnh N, sinh năm: 1994.
Địa chỉ: Số B Ô3, khu A, xã H, tỉnh Tây Ninh. (Theo văn bản uỷ quyền ngày
07/8/2025 tại Văn phòng C). (có mặt)
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1972.
2. Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1978.
Cùng địa chỉ: Ô, khu A, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Lý Quang V, sinh năm
1996.
Địa chỉ: Thôn E, E, K, tỉnh Đắc Lắk. (Theo văn bản uỷ quyền ngày 28/3/2025 tại
Văn phòng C) (có mặt).
2
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 03/12/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, do bà Trần Huỳnh N là người đại diện theo ủy quyền
trình bày: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn L là chị em ruột, bà Huỳnh Thị N1 là
vợ của ông L, là em dâu của bà T. Do có quan hệ thân thích trong gia đình nên trong
khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2023, vợ chồng ông L và bà N1 nhiều lần vay
tiền của bà T để sử dụng vào mục đích cá nhân. Cụ thể: ngày 03/01/2023 vay số tiền
400.000.000 đồng, ngày 20/01/2023 vay số tiền 600.000.000 đồng, ngày 16/3/2023 vay
số tiền 50.000.000 đồng và ngày 30/3/2023 vay số tiền 50.000.000 đồng. Tổng cộng số
tiền vay là 1.100.000.000 đồng. Theo nguyên đơn, khi vay các bên có thỏa thuận lãi
suất 3%/tháng, thời hạn vay 02 tháng kể từ ngày vay. Sau khi đến hạn thanh toán, mặc
dù bà T đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông L và bà N1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả
nợ. Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị
N1 liên đới trả cho bà số tiền gốc 1.100.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất
1,66%/tháng tính từ ngày 30/4/2024 đến ngày xét xử, tạm tính 146.080.000 đồng, tổng
cộng 1.246.080.000 đồng. Đồng thời không đồng ý cho bị đơn trả dần trong thời hạn
06 tháng mà yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có
hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1, do ông Lý Quang V là người đại
diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất có vay của bà Nguyễn Thị T tổng số tiền
1.100.000.000 đồng, gồm các khoản vay đúng như nguyên đơn đã trình bày. Tuy nhiên,
đối với hai khoản vay ngày 03/01/2023 số tiền 400.000.000 đồng và ngày 20/01/2023
số tiền 600.000.000 đồng, các bên có thỏa thuận lãi suất 4,5%/tháng nhưng chỉ tính
trong thời hạn vay 02 tháng. Sau khi hết thời hạn vay thì không tiếp tục tính lãi. Đối với
hai khoản vay ngày 16/3/2023 và ngày 30/3/2023 mỗi khoảng 50.000.000 đồng thì
không thỏa thuận lãi suất. Nay nguyên đơn yêu cầu thanh toán số tiền gốc 1.100.000.000
đồng thì ông L và bà N1 đồng ý trả, tuy nhiên do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề
nghị được trả dần trong thời hạn 06 tháng; đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn thì
không đồng ý vì cho rằng trước đây đã trả lãi nhiều lần.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 186/2025/DS-ST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 3 – Tây Ninh đã tuyên:
Căn cứ vào các Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 186, 273, 227 và 228 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; Điều 466, 357, 468, Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều
26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn
Văn L và bà Huỳnh Thị N1 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Buộc ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà
Nguyễn Thị T tổng số tiền 1.387.622.667 đồng, trong đó tiền gốc 1.100.000.000 đồng,
tiền lãi 287.622.667 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành xong toàn bộ nghĩa vụ, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với
3
số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân
sự năm 2015.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tính lãi đối
với khoản tiền gốc 100.000.000 đồng theo mức lãi suất 1,66%/tháng từ ngày 30/3/2024
đến ngày 27/8/2025, chỉ chấp nhận tính lãi với mức 0,83%/tháng từ ngày 11/12/2024
đến ngày 27/8/2025.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án
của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/9/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1 kháng cáo, yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn về việc buộc trả tiền lãi đối với khoản vay 1.100.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án và không cung cấp thêm chứng cứ mới.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và
đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa
một phần bản án sơ thẩm và xác định lãi suất đối với khoản tiền 1.100.000.000 đồng
theo mức 0,83%/tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm cho rằng:
Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự
chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của các nguyên
đơn được nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc
1.100.000.000 đồng, bị đơn đồng ý với số nợ này. Đối với tiền lãi, do các giấy vay tiền
không thể hiện rõ mức lãi suất thỏa thuận, nên cần áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015 để xác định lãi suất 10%/năm đối với khoản vay theo yêu cầu của
nguyên đơn.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần
bản án sơ thẩm về phần tiền lãi và xác định lại nghĩa vụ thanh toán của bị đơn đối với
nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa; ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tính hợp lệ của kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn L
và bà Huỳnh Thị N1 làm đúng theo quy định tại các 271, 272, Điều 273 và 276 của Bộ
luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông
Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị Ngọc T1 số tiền vay tổng cộng 1.100.000.000 đồng
4
phát sinh từ các lần vay vào các ngày 03/01/2023, 20/01/2023, 16/3/2023 và 30/3/2023.
Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân
sự năm 2015.
[1. 3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị
N1 kháng cáo đồng ý trả lãi với mức lãi suất 0.83%/tháng đối với khoảng vay
1.100.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại một phần nội dung
vụ án theo quy định tại Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số nợ vay: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm,
ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1 thừa nhận có vay của bà T số tiền
1.100.000.000đồng và xác định thời hạn vay là 02 tháng kể từ ngày vay. Theo quy định
tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên vay tài sản có nghĩa vụ trả đủ tiền
khi đến hạn, trường hợp không thực hiện đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân
sự đối với nghĩa vụ chậm thực hiện. Đến hạn trả nợ nhưng bị đơn không thanh toán là
đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Nguyễn Văn L và bà
Huỳnh Thị N1 liên đới trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền gốc 1.100.000.000 đồng là có
căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị đơn đồng ý và không kháng cáo nội dung này.
[2.2] Về tiền lãi: Nội dung kháng cáo của bị đơn về việc không đồng ý trả lãi
1,66%/tháng, yêu cầu được trả 0,83%/tháng, thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn có ý kiến khác nhau về mức lãi suất
vay. Nguyên đơn cho rằng các bên có thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, trong khi bị đơn
cho rằng lãi suất thỏa thuận là 4,5%/tháng nhưng chỉ tính trong thời hạn vay. Tuy nhiên,
các giấy vay tiền không thể hiện cụ thể mức lãi suất và các bên cũng không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ chứng minh rõ ràng về mức lãi suất đã thỏa thuận. Do đó có cơ
sở xác định các bên có tranh chấp về lãi suất vay.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp các
bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp
về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản
1 Điều này, tức 10%/năm của khoản tiền vay. Vì vậy cần áp dụng mức lãi suất 10%/năm
( 0,83%/tháng) để tính lãi đối với các khoản vay này.
Đối với khoản vay ngày 03/01/2023 số tiền 400.000.000 đồng và khoản vay ngày
20/01/2023 số tiền 600.000.000 đồng, xác định lãi suất 0,83%/tháng và tính lãi kể từ
thời điểm bị đơn ngừng trả lãi cho nguyên đơn là 30/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm
27/8/2025, cụ thể:
- Khoản vay 400.000.000 đồng x 0,83%/tháng × 15 tháng 28 ngày = 52.898.667
đồng.
- Khoản vay 600.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 15 tháng 28 ngày = 79.348.000
đồng.
Đối với các khoản vay ngày 16/3/2023 và ngày 30/3/2023, mỗi khoản 50.000.000
đồng, do các bên không thỏa thuận lãi suất nên xác định đây là hợp đồng vay không có
lãi. Tuy nhiên, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nên phải chịu lãi
chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Lãi suất được áp dụng là 10%/năm, tính từ ngày nguyên đơn có yêu cầu đòi nợ là
11/12/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 27/8/2025.
5
Tiền lãi đối với mỗi khoản vay 50.000.000 đồng là 3.541.333 đồng.
[2.3] Như vậy, tổng số tiền lãi bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng cộng
là 134.788.000 đồng.
Do đó, tổng nghĩa vụ thanh toán của ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1 đối
với bà Nguyễn Thị T là 1.239.329.333 đồng, gồm 1.100.000.000 đồng tiền gốc
139.329.333 đồng tiền lãi.
[3] Từ những phân tích nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định mức lãi suất
1,66%/tháng là chưa phù hợp nên chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản
án sơ thẩm, điều chỉnh lại mức lãi suất và số tiền lãi phải thanh toán cho phù hợp với
quy định pháp luật. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận
kháng cáo của bị đơn, sửa một phần án sơ thẩm về lãi suất là có căn cứ, phù hợp nên
chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa một phần bản án sơ thẩm về phần tiền lãi
nên cần xác định lại án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng
dân sự; khoản 2 Điều 26, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
Ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là
49.179.880 đồng.
Bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi, theo điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án
phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một
phần nên căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ông Nguyễn Văn L và
bà Huỳnh Thị N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, bà Huỳnh Thị N1.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 186/2025/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 148, 186, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 288, 351, 357, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 1 Điều
12, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông
Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
6
Buộc ông Nguyễn Văn L, bà Huỳnh Thị N1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà
Nguyễn Thị T số tiền đã vay gốc và lãi là 1.239.329.333 đồng (một tỷ, hai trăm ba mươi
chín triệu, ba trăm hai mươi chín nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi
hành xong toàn bộ nghĩa vụ, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với
số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân
sự năm 2015.
2. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về lãi suất vượt quá
mức lãi suất theo quy định của pháp luật số tiền là 148.293.334 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1 phải liên
đới chịu 49.179.880 (bốn mươi chín triệu, một trăm bảy mươi chín nghìn, tám trăm tám
mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1 không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị N1 600.000 (sáu trăm nghìn
đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo các biên lai thu số 0004288 và
0004289 ngày 15/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại
Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều
9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tỉnh Tây Ninh;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diễm Hằng
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 20/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 17/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm