Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 19/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST ngày 19/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 16/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/08/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ
Bản án số:16/2025/HNGĐ-ST
Ngày 19 tháng 8 năm 2025
V/v:"Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Khương Đặng Khánh Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
Thư phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Huy - Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân khu vực 11 – Phú Thọ.
Đại diệnViện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ tham gia phiên
toà: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025 tại Hội trường xét xToà án nhân dân khu
vực 11- Phú Thọ, xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số:
64/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp
nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra t xsố: 38/2025/QĐST - HNGĐ
ngày 17 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Kim C, sinh năm 1998; Địa chỉ: Xóm L, L,
huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nay là: Xóm L, xã K, tỉnh Phú Thọ; (vắng mặt)
-Bị đơn: Anh Văn Ch, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Th, Đ, huyện
S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nay là: Thôn Th, xã T, tỉnh Phú Thọ; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - P THỌ
2
Trong đơn khởi kiện ngày 01/4/2025, những lời trình bày tiếp theo trong
quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Thị Kim C trình bày: Chị kết hôn
với anh Văn Ch ngày 06/7/2017 đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân
Tr, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Trước khi kết hôn anh chị được tự do m hiểu, tự
nguyện kết hôn và không bị ai lừa dối, ép buộc kết hôn. Sau khi kết hôn anh Ch
về chung cùng chị tại Tr, huyện L. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh
phúc đến tháng 10 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn
do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bất đồng quan điểm về làm ăn phát triển
kinh tế gia đình nên thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Tháng 9 năm 2020 anh
Ch về nhà mẹ đẻ tại thôn Th, Đ và vợ chồng sống ly thân tđó đến nay.
Trong thời gian vợ chồng sống ly thân hai bên gia đình không giàn xếp gì để vợ
chồng đoàn tụ vợ chồng không biện pháp cải thiện, khắc phục mâu thuẫn.
Nay chị xác định mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt
được, tình cảm vchồng không còn nên chị đnghị Tòa án xem xét giải quyết
cho chị được ly hôn anh Ch.
Về con chung: Vợ chồng 01 con chung là Đăng Kh, sinh ngày
22/5/2017, hiện nay con đang cùng chị C tại K. Ly hôn chị đề nghị được
trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kh tự nguyện không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng
nuôi con.
Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: Chị C không đề nghị Toà án giải quyết.
Về án phí: Chị Cúc đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị đơn anh Văn Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng
anh Ch không đến Tòa án làm việc; không đến tham gia các phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ; phiên hòa giải. Anh Ch không
văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện đnghị giải quyết ly hôn của
chị C. Tại phiên tòa hôm nay anh Ch vắng mặt mặc dù đã được tống đạt hợp lệ
theo quy định của pháp luật.
Qtrình giải quyết ván Tòa án đã tiến hành làm việc với Thị T
(mẹ đanh Ch) trình bày: Gia đình tổ chức lễ cưới cho chC anh Ch
vào năm 2017. Tổ chức xong anh Ch về chung cùng chị C gia đình chị C.
Quá trình chung sống năm 2018 vợ chồng anh Ch chị C có xảy ra mâu thuẫn,
nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống tháng 9 năm
2020 anh Ch về nhà bà hiện vợ chồng đã sống ly thân. Anh Ch chị C
01 con chung Đăng Kh, sinh ngày 22/5/2017 hiện nay cháu Kh đang
cùng chị C. Bà xác nhận các lần Tòa án gửi các thông báo, giấy triệu tập cho anh
Ch, đều nhận thay anh Ch biết việc chị C xin ly hôn nhưng anh Ch không
đến Tòa án làm việc đồng thời anh Ch trao đổi với đồng ý để chị C được
nuôi con. Nay chị C đề nghị giải quyết ly hôn và nuôi con đối với anh Ch thì
đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú Thọ tại phiên tòa phát
biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong
quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của
3
pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng thì nguyên đơn bị
đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về giải quyết ván: Đề nghị
Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82,
Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị xử cho chị Bùi Thị Kim C
được ly hôn anh Văn Ch. Về nuôi con: giao chị C được nuôi dưỡng cháu Kh
anh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con. Vtài sản và các nghĩa vụ dân sự:
không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị C phải chịu nộp theo quy định pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xnhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Văn Ch đã được Tòa án tống đạt
văn bản tố tụng, thông báo vphiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ hòa giải, quyết định đưa ván ra xét xử nhưng anh Ch không
đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu chứng cứ để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Xét thấy bị đơn là anh Lê Văn Ch vắng mặt
tất cả các lần Tòa án thông báo, triệu tập vi phạm nghĩa vụ của đương sự, tự
từ bỏ quyền nghĩa vchứng minh của nh nên Hội đồng xét xcăn cứ vào
các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định
pháp luật.
Tại phiên tòa chị C vắng mặt nhưng đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh
Chđã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không do. Căn cứ
vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt đối với chị C anh Ch.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Kim C anh Văn Ch đăng
kết hôn ngày 06 tháng 7 năm 2017 tại Uban nhân n Tr, huyện L, tỉnh
Hòa Bình (nay xã K, tỉnh Phú Thọ) trên sở tự nguyện nên được công nhận
hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2018 phát sinh
mâu thuẫn, đến tháng 9 năm 2020 mâu thuẫn trầm trọng nên anh Ch về nhà mẹ
đẻ ở và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị C
trình bày do tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan
điểm sống cũng như bất đồng quan điểm về làm ăn phát triển kinh tế gia đình
nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống vchồng không còn
tình cảm, hạnh phúc. Khi vợ chồng sống ly thân hai bên đều không có bin pháp
để cải thiện tình cảm, khắc phục mâu thuẫn. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị C
anh Ch mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh
phúc không đạt được, vợ chồng sống ly thân trong thời gian dài, việc chị C xin
ly n anh Ch căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Ch vắng
mặt, không hợp tác đến Tòa án làm việc thể hiện anh Ch cố tình gây khó khăn
4
cho chị C khi giải quyết ly hôn và không có mong muốn để vợ chồng về đoàn tụ.
Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình x
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Kim C được ly hôn anh Văn
Ch.
[3] Về nuôi con chung: Chị C anh Ch 01 con chung là Lê Đăng Kh,
sinh ngày 22/5/2017, hiện nay con đang cùng chị C tại K. Ly hôn chị C đ
nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kh và tự nguyện không yêu cầu anh Ch cấp
dưỡng nuôi con. Qúa trình giải quyết ván anh Ch quan điểm đồng ý để chị
C được nuôi dưỡng cháu Kh. Hiện nay chị C xác nhận đủ điều kiện kinh tế nuôi
con học tập sinh hoạt hàng ngày nên không yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng
nuôi con. Do vậy đtránh sự xáo trộn trong sinh hoạt cũng như đảm bảo điều
kiện tốt về học tập, sinh hoạt không ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện
của con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C được trực tiếp nuôi
dưỡng con là cháu Kh và anh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với
quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia
đình.
[4] Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: Chị C không đề nghị giải quyết nên
Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Chị C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[6] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú
Thọ tại phiên tòa căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được
chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều
82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227,
Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí l
phí Tòa án, Xử:
1.Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Kim C được ly hôn anh Lê Văn Ch.
2. Về nuôi con: Chị Bùi Thị Kim C được nuôi dưỡng con Đăng Kh,
sinh ngày 22/5/2017 (hiện nay con đang cùng chị C) anh Ch không phải
cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi conquyền thăm nom, chăm sóc con chung
không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con quyền yêu cầu Tòa án
hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng
việc thăm nom đcản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
5
lợi ích của con chung, trong trường hợp yêu cầu của cha, mẹ hoặc
nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình
Tòa án thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con việc cấp dưỡng
nuôi con theo quy định pháp luật.
3.Về án phí: Chị Bùi Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) án phí hôn nhân gia đình thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ
(ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0001247
ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
(Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11, tỉnh Phú Thọ).
4.Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được
niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
- VKSND khu vực 11- Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Th;
- UBND xã Kim Bôi, tỉnh Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu VP, hồ sơ vụ án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên
Khương Đặng Khánh Hằng
6
Về quyền kháng cáo: Các đương svắng mặt quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết
theo quy định.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Khương Đặng Khánh Hằng
7
Tải về
Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST Bản án số 16/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất