Bản án số 200/2026/HS-PT ngày 22/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 200/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 200/2026/HS-PT ngày 22/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 200/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: xin giảm nhẹ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 200/2026/HS-PT Bản án số 200/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 200/2026/HS-PT Bản án số 200/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 200/2026/HS-PT
Ngày: 22/6/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Phượng
Các Thẩm phán: Ông Bùi Trọng Danh
Ông Trần Minh Long
- Thư phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phĐà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Trần Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 156/2026/TLPT-HS ngày 14 tháng 5
năm 2026 đối với bị o Nguyễn Văn S, do kháng cáo của người đi diện hợp
pháp của bị cáo Nguyễn Văn S Nguyễn Thị T đối với Bản án hình sự thẩm
số: 57/2026/HS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 Đà
Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn S, sinh ngày 25/02/1993, tại xã T, thành phố
Đà Nẵng; nơi cư trú: thôn Q, xã T, thành phố Đà Nẵng; giới tính: Nam; nghề nghiệp:
Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt
Nam; con ông Nguyễn Văn D (đã chết) Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; bị cáo
chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2025 đến nay. mặt tại phiên
toà.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Nguyễn Thị T, sinh năm 1968. Địa
chỉ: Thôn Q, xã T, thành phố Đà Nẵng - là mẹ ruột của bị cáo. Có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn S: Luật sư Nguyễn Phan Huyền T1
thuộc Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 27/6/2025, anh Lê Minh H mời Lê Đình A, Võ Hưng H1, Đức M
và một số người bạn đến nhà của H tại phường A để nhậu. Lê Đình A rủ theo Nguyễn
Văn S đi cùng. Hưng H1 dẫn theo bạn Trương Văn H2 đến sau. Ngô Văn T2
đến sau cùng. Tất cả ngồi nhậu tại phòng khách nhà H đến khoảng 15 giờ giờ 30 phút
cùng ngày tgiữa H2 S xảy ra mâu thuẫn. H2 mời bia nhưng do S đến trước, đã
uống nhiều nên từ chối không uống tH2 nói S uống yếu, mời bia trốn không
uống. S trả lời: Tau uống từ trước rồi, tau đã sắm mồi, sắm bia mi sau đã uống
2
chùa, uống nói nhiều quá nghe”. Bực tức mình mua bia tới nhưng S nói
mình uống chùa nên hai bên nói qua lại lớn tiếng với nhau. Lúc này Võ Hưng H1 nói:
Đây là nhà của họ, thích gì thì ra đường hoặc về H, tau tiếp”. S nghe vậy bực tức đi
ra ngoài hiên nhà thì thấy bên hông trái trước cửa nhà anh H cái cuốc (loại cuốc
bàn, cán bằng gỗ tre dài 143cm, đường kính đầu nhỏ nhất 03cm, đường kính đầu
lớn nhất 4,1cm; đai cuốc bằng kim loại bản rộng 4,8cm, trên đai cuốc cán gỗ
có chốt niêm bằng 02 miếng kim loại; phần lưỡi cuốc bằng kim loại, diện 23x22,5cm,
phần sống dày 3mm). S cầm lấy cái cuốc đi vào nhà hướng về phía H1, đang ngồi H1
thấy vậy nên chồm người đứng dậy. Cùng lúc đó S cầm cuốc bằng 02 tay giơ lên cao
rồi đánh xuống về phía vùng đầu của H1, phần đai cuốc trúng vào vùng má của
H1 01 cái làm H1 ngã xuống nền nhà bất tỉnh. Sang tiếp cầm cuốc xông tới đánh về
phía vùng đầu H1 cái thứ hai thì Lê Đình A cản nên trúng vào vùng mặt bên phải của
H1 01 i. Lúc này S được mọi người can ngăn nên dừng lại. H1 được mọi người đưa
đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ sau đó chuyển Bệnh viện Đ1 điều trị đến ngày 11/7/2025
thì xuất viện. Nguyễn Văn S đến Công an phường A, thành phố Đà Nẵng để đầu thú
về hành vi của mình.
Tại Kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số 1106/KL- KTHS
ngày 02/7/2025 của Phân viện Khoa học Hình sự ti thành phố Đà Nẵng đối với
Hưng H1 kết luận: Căn cứ Thông số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y
quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương thể sử dụng trong giám định pháp y, giám
định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể như sau: Vết bầm tụ
máu vùng trán trái: không được quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại Thông
tư. Vết thương bờ dưới mắt phải: 06%. Chấn động não: 03%. Gãy xương gò má phải:
08%. Vỡ xoang hàm phải: 07%.
Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, xác định tổng tổng tỷ lphần trăm
tổn thương cơ thể của anh Võ Hưng H1 tại thời điểm giám định là 22%.
Hiện tại anh Hưng H1 đang điều trị tại bệnh viện, chưa đánh giá được hết
các di chứng của tổn thương, Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng đề
nghị quan CSĐT đưa anh H1 đến Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà
Nẵng để giám định bổ sung, sau khi anh H1 đã điều trị ổn định, ra viện.
+ Tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y không quy định
vùng trọng yếu trên cơ thể người, vì vậy không có cơ sở xác định các thương tích của
anh Võ Hưng H1 có thuộc vùng trọng yếu hay không.
* Tại Kết luận giám định bổ sung số 2303/KL-KTHS ngày 19/12/2025 của
Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng đối với Hưng H1 kết luận:
Căn cứ Thông số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần
trăm tổn thương thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thn,
xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể như sau:
- Sẹo gò má và mi dưới mắt bên phải co kéo gây hở mi: 11% (Mục III.2, C 10);
Chấn động não điều trị ổn định: 03% (Mục II.1, C 1); Gãy xương phải: 08%
(Mục 1.2, C); Vỡ xoang hàm phải: 07% (Mục II.4.1, C 12).
Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn
thương cơ thể của anh Võ Hưng H1 tại thời điểm giám định là: 26% (BL: 174 176).
3
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 169/KLGĐ ngày 12/01/2026 của
Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền T kết luận tình trạng tâm thần của Nguyễn
Văn S: Tại thời điểm trước khi thực hiện hành vi phạm tội:
Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Động kinh cơn lớn biến đổi trí năng nhân
cách (G40.6-ICD - ICD-10). Biến đổi nhân cách mức độ vừa,
Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả
năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại thời điểm trong khi thực hiện hành vi phạm tội: Kết luận theo tiêu chuẩn y
học: Động kinh cơn lớn biến đổi trí năng nhân cách (G40.6 - ICD-10). Biến đổi
nhân cách mức độ vừa.
Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả
năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại thời điểm sau khi thực hiện hành vi phạm tội:
Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Động kin kinh cơn lớn biến đổi trí năng
nhân cách (G40.6 - ICD-10). Biến đổi nhân cách mức độ vừa.
Kết luận về khả năng nhận thức khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả
năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
* Thời điểm hiện tại:
Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Động kinh cơn lớn biến đổi trí năng nhân
cách (G40.6 - ICD-10). Biến đổi nhân cách mức độ vừa. Kết luận về khả năng nhận
thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức hạn chế khả
năng điều khiển hành vi.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự thẩm số: 57/2026/HS-ST
ngày 07/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 123; các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1
Điều 54; Điều 15, khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa
đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Giết người”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 05 (Năm) năm tù. Thời hạn được tính từ
ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 28 tháng 6 năm 2025.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, xử vật chứng,
án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 10/4/2026, người đại diện hp pháp của bị cáo Nguyễn Văn S
Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp thẩm xét xử bị o
Nguyễn Văn S về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng
thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sđể làm
căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 05 năm là tương xứng với tính chất, mức độ
hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, gia đình của bị cáo đã bồi thường số
tiền còn lại cho bị hại, bị hại đơn xin bãi nại; do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn S, sửa
bản án sơ thẩm theo hướng giảm cho bị cáo 06 tháng tù.
Bị cáo không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử thẩm, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn S
Nguyễn Thị T đơn kháng cáo theo đúng quy định ti các Điều 331, 332
333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bà T là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bcáo Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn S phù hp với các tài liệu, chứng cứ
được quan điều tra chứng minh tại hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
toà. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 15 giờ 40 phút, ngày 27/6/2025 tại phòng khách nhà anh Minh H
thuộc phường A, thành phố Đà Nẵng, do mâu thuẫn trong lúc ăn nhậu, bị cáo
Nguyễn Văn S đã dùng 01 cái cuốc (cán bằng tre dài 143cm, đường kính đầu nhỏ
nhất 03cm, đường nh đầu lớn nhất 4,1cm. Đai cuốc bằng kim loại bản rộng
4,8cm; trên đai cuốc và cán gỗ có chốt niêm bằng 02 miếng kim loại, phần lưỡi cuốc
bằng kim loại, rộng 23 x 22,5 cm, phần sống dày 3mm) nhằm vào phần đầu của
Hưng H1 đánh. Tuy nhiên, H1 tránh nên phần đai cuốc (phần nối giữa lưỡi và
cán cuốc) trúng vào gò má phải của Võ Hưng H1 làm H1 ngã xuống nền nhà bất tỉnh.
Nguyễn Văn S tiếp tục cầm cuốc xông tới đánh về phía vùng đu Hưng H1 cái
thứ hai thì được những người nhậu chung ngăn cản nên trúng vào vùng mặt bên phải
của H1. Lúc này, Nguyễn Văn S được mọi người can ngăn nên dừng lại. Hậu quả, Võ
Hưng H1 bị gãy xương má, vỡ xoang hàm phải, chấn động não. Tại bản Kết luận
giám định số 2303/KL-KTHS ngày 19/12/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại
Đà Nẵng xác định tlphần trăm tổn thương thể của anh Hưng H1 26%.
Hành vi của Nguyễn Văn S dùng 01 cái cuốc được tả bên trên là hung khí nguy
hiểm, tấn công vào vùng đầu của bị hại. Bị cáo phải nhận thức được rằng việc tấn
công này khả năng gây chết người. Hơn nữa, sau ln tấn công thứ nhất, bị hại bị
choáng và đã ngã, không có khả năng chống đỡ nhưng bị cáo vẫn nhằm vào vùng đầu
bị hại tấn công lần thứ hai, do có tác động của người can ngăn nên chỉ trúng vào vùng
mặt của bị hại. Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn S đã dùng hung khí, tấn công liên tục,
cường độ tấn công mạnh gây gãy xương má, vxoang hàm phải, chấn động não
cho bị hại. Bị hại Hưng H1 không chết ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Mặt
khác, theo kết luận giám định pháp y tâm thần số 169/KLGĐ ngày 12/01/2026 của
Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền T kết luận tình trạng tâm thần của bcáo
Nguyễn Văn S: Tại thời điểm trước, trong sau khi thực hiện hành vi phạm tội,
cũng như thời điểm hiện tại bị cáo bị hạn chế kh năng nhận thức và hạn chế khả
năng điều khiển hành vi chứ không bị mất khả năng nhận thức khả năng điều
khiển hành vi nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của
mình.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2026/HS-ST ngày 07/4/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 Đà Nẵng đã kết án bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Giết người”
theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
5
[3] Xét kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của người đại diện hợp pháp của bcáo
Nguyễn Văn S Nguyễn Thị T, thì thấy: Tòa án cấp thẩm đã đánh giá đúng
tính chất của vụ án, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; đã áp
dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 đồng thời áp dụng Khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức hình phạt 05 năm căn cứ pháp luật. Sau
khi xét xử sơ thẩm, gia đình của bị cáo đã bồi thường số tiền còn lại cho bị hại, bị hại
đơn xin bãi nại. Xét thấy hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị o đã
phù hp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc
thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo
Nguyễn Văn S là bà Nguyễn Thị T cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[4] Về án phình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn S Nguyễn Thị T phải chịu
200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các phần quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn
Văn S bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên Bản án hình sự thẩm số: 57/2026/HS-ST
ngày 07 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 Đà Nẵng về hình phạt
của bị cáo Nguyễn Văn S.
Căn cứ: Khoản 2 Điều 123; các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1
Điều 54; Điều 15, khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa
đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 05 (Năm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn
tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 28/6/2025.
2. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn S là bà Nguyễn Thị T phải
chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/6/2026).
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- CQ THAHS - Công an TP. Đà Nẵng;
- CQ CSĐT Công an TP Đà Nẵng;
- TAND khu vực 10 – Đà Nẵng;
- VKSND khu vực 10 – Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 10 Đà
Nẵng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Minh Phượng
6
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu HS.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán
Bùi Trọng Danh Trần Minh Long
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Võ Thị Minh Phượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 200/2026/HS-PT Bản án số 200/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 200/2026/HS-PT Bản án số 200/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất