Bản án số 235/2026/KDTM-PT ngày 22/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về thế chấp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 235/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 235/2026/KDTM-PT ngày 22/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về thế chấp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 235/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 235/2026/KDTM-PT Bản án số 235/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 235/2026/KDTM-PT Bản án số 235/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PH H CHÍ MINH
Bn án s: 235/2026/KDTM-PT
Ngày: 22/6/2026
V/v tranh chp hợp đồng hp tác
đầu tư
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH H CHÍ MINH
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên toà: Bà Phùng Th Như Mai
Các Thm phán: Bà Mai Th Thanh Tú
Ông Đào Hồng Cnh
- Thư phiên tòa: Phan Th Thu Hin Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân Thành ph H Chí Minh.
- Đại din Vin kim sát nhân dân Thành ph H Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lân - Kim sát viên.
Trong các ngày 05/5, ngày 04/6 ngày 22/6/2026, ti tr s Tòa án nhân
dân Thành ph H Chí Minh xét x phúc thm công khai v án kinh doanh
thương mại th s: 85/2026/TLPT-KDTM ngày 03 tháng 3 năm 2026 v:
“Tranh chấp hp đồng hp tác đầu tư
Do Bn án kinh doanh thương mại thẩm s 181/2025/KDTM-ST ngày
30/10/2025 ca Tòa án nhân dân khu vc 7 b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét x s 1712/2026/QĐ-PT ngày 20 tháng 3
năm 2026 Quyết đnh hoãn phiên tòa s 5539/2026/QĐ-PT ngày 20 tháng 4
năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH T; Địa ch: 258/1 đưng L, p C, N (
T, huyn N), tnh D. Đa ch liên lc: 30/2B đưng A, phường B (phường 17,
qun B cũ), Thành phố H Chí Minh.
Người đại din theo pháp lut: N; Địa ch liên lc: 30/2B đưng V,
phường G (phường 17, qun B cũ), Thành phố H Chí Minh.
Ngưi bo v quyn li ích hp pháp: Luật sư E Công ty Lut Hp
danh quc tế H oàn luật sư Thành ph Hà Ni).
- B đơn: Công ty cổ phn P; Địa ch: 1163/9 đưng L, phường A (phường
13, quận G cũ), Thành phố H Chí Minh.
Người đại din theo pháp lut: L; đa ch: 1163/9 đưng L, phưng A
(phưng 13, quận G cũ), Thành phố H Chí Minh.
Người đi din hp pháp: Bà H đại din theo y quyền (văn bn y quyn
ngày 02/12/2024); Địa ch liên lc: phòng 702 lu 7, s 311 đưng B, phường C
(phường H, qun K cũ), Thành phố H Chí Minh.
2
Ngưi bo v quyn và li ích hp pháp: Luật sư K - Công ty lut TNHH P
& T thuộc đoàn luật sư Thành phố H Chí Minh, địa ch: s 311 đưng B,
phường C (phường H, qun K cũ), Thành phố H Chí Minh.
Ngưi có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH G (tên Công ty TNHH V); địa chỉ: 1/21 đường B, Khu
ph 2, phưng C (phường C, Thành ph Th Đức cũ), Thành phố H Chí Minh;
Người đại din theo pháp lut: N; Địa ch liên lc: 30/2B đường V,
phường G (phường 17, qun B cũ), Thành phố H Chí Minh.
- Bà L; địa ch: 1163/9 đường L, phường A (phường 13, quận G cũ), Thành
ph H Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2024 và các biên bản làm việc tại Tòa án
nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 04/01/2019, Công ty TNHH T (Công ty T) Hp đng hợp c đầu
s 04-01-2019/HĐHTĐT/P-T (“Hợp đồng”) với Công ty c phn P (Công ty P).
Mục đích giao kết Hợp đồng đ ng hp tác, thc hin c th tc pp và y
dng nhà y lp p xe ô tô H (ta lc ti Khu công nghip M, huyn T, tnh Bà
Ra Vũng Tàu) do P là ch đầu (Dự án”).
Theo Điều 1 ca Hợp đồng, hai n thng nht g tr hợp đng
65.000.000.000 đồng, trong đó ng ty T có nghĩa vụ p 65 t đng theo tiến đ
03 đợt: (1) 10 t đồng ngay khi ký Hợp đng; (2) 25 t đng trong vòng 7 ny k t
ny Văn png Cnh ph văn bn cho phép; (3) 30 t đồng khi P ký hp đng
thuê đt vi cơ quan chức năng đ tiếp tc thc hin d án.
Thc hin nghĩa v, ng ty T đã góp tng cng 8.900.000.000 đng cho ng
ty P, c th:
Ny 03/4/2019, ng ty TNHH G (tên ng ty TNHH V) chuyn khon
cho nhân Li din pháp lut ca Công ty P): 1.000.000.000 đng.
Ny 27/5/2019, Công ty TNHH V chuyn khon cho nhân Li din
pp lut ca Công ty P): 2.000.000.000 đồng.
Ny 04/6/2025, Bà N (vi tư cách là nời đại din pp lut ca ng ty T)
np tin vào tài khon cá nhân bà L i din pháp lut ca Công ty P):
1.500.000.000 đồng.
Ngoài ra, bà N còn thanh toán trc tiếp bng tin 4.400.000.000 đồng. Do tin
ng n kng lp biên bn giao nhn tin
Tuy nhn, Công ty P không thc hin đúng nghĩa v hp c, không cung cp
h pháp lý dự án, kng minh bch trong vic s dng tin góp vn, vi phm tha
thun hợp đồng.
3
Công ty P còn t ý cho rng khon góp vn ca Công ty T tiền đặt cc
chm dt hp đồng, y thit hi nghiêm trng cho quyn li ích hp pháp ca
Công ty T.
Căn cứ Điu 504 B lut n s 2015 quy định v hp đồng hp tác, hai n
có nga vụ ng thc hin ng vic vì li ích chung. Công ty P đã vi phm nghĩa
v cung cp tng tin phi hp, không tn th cam kết, n phi chu trách
nhim bồi thường tiếp tc thc hin hp đng.
Đ bo v quyn li, Công ty T khi kin yêu cu: Buc Công ty c phn P tiếp
tc thc hin Hp đồng hp tác đầu số 04-01-2019/HĐHTĐT/P-T ny
04/01/2019. Tng g tr hp đồng 65.000.000.000 đồng (Sáu ơi m t đng).
Ti bn t khai ny 19/2/2025, Công ty T c đnh rõ yêu cu khi kin: Yêu
cu tiếp tc thc hin Hp đng hợp c đầu tư s 04-01-2019/HĐHTĐT/P-T ký
ny 04/01/2019, gm:
Đt 1: Ngay khi ng ty P cung cp đưc Giy chng nhn đầu được gia
hạn đối vi D án, ng ty T s p 1.100.000.000 đồng (Mt t mt trăm triệu
đồng) để hoàn thành đt p vốn đầu tn.
Đt 2: Trong vòng 07 ngày sau khi Công ty P đưc Văn phòng Cnh ph chp
thun cho thc hin D án, Công ty T s góp 25.000.000.000 đồng (Hai ơi lăm tỷ
đng).
Đt 3: Sau khi Công ty P đưc hp đồng thuê 21ha đất vi quan Nhà
c có thm quyn, Công ty T cam kết s thc hin p vốn đt cui cùng
30.000.000.000 đồng (Ba ơi tỷ đồng) theo đúng quy định ti Điu 4.1 ca Hp
đồng HT nêu trên, đ Công ty P thc hiện đúng đầy đ nghĩa vụ ca mình.
Tại phn tòa, nguyên đơn gi nguyên u cu khi kin và không chp nhn
yêu cu phn t ca b đơn.
Ý kiến và yêu cầu phản tố của bị đơn:
Công ty C phn P và Công ty TNHH T ký Hp đng hp tác đu tư số 04-
01-2019/HĐHTĐT/P-T ngày 04/01/2019 nhmp vnng hoàn thànhc th
tục pp để y dng nhà y lp p ô H ti khu ng nghip M, huyn T,
tnh Bà Ra ng u với c điều khon điu kin c th theo hợp đồng.
Tuy nhiên, sau khi ký kết Hp đồng hợp tác đầu , Công ty T không thc hin
đúng c nghĩa v đã cam kết, bao gồm: không góp đy đ và đúng hn s tiền đt 1
theo quy đnh ti Điu 4.1.1 (ch p 4.500.000.000 đồng trong tng s
10.000.000.000 đồng) kng chng minh ng lực tài chính để thc hin d án
theo quy định ti Điều 3.2.2 ca Hp đng.
Mc ng ty P đã 03 lần gi thông báo nhc nho c ngày 14/8/2019,
20/9/2019, 24/12/2019, nhưng phía ng ty T vn không khc phc vic vi phm
các nga vụ u tn.
Ny 30/03/2020, nhn thy Công ty T đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa v hp
đồng, n c theo các điều khon đã tha thun theo quy định ca pp lut, Công
4
ty P gi Thông báo ln 4 đến Công ty T v vic Chm dt Hp đng hợpc đầu tư
ký ngày 04/01/2019.
Sau đó, ng ty P đã c gng để t chng minh ng lực tài chính ca nh
ny 07/12/2023, đã được ký hợp đồng thuê li đất ny 05/02/2024 và đã đưc cp
Giy phép y dng ngày 21/8/2024. Cnh nhng nh vi vi phm ca ng ty T
nêu trên đã y thiệt hi ln cho ng ty P, đã khiến ng ty P phi tn nhiu thi
gian, công sc và bù đắp chi phí đ có th tiếp tc thc hin đưc d án.
Công ty P yêu cu phn t:
- Chm dt Hp đng Hp tác đầu s 04-01-2019/HĐHTĐT/P-T ny
04/01/2019 gia Công ty C phn P và ng ty TNHH T do ng ty T vi phm
nghm trọng nghĩa vụ.
- Buc ng ty TNHH T chu mt tiền 4.500.000.000 đng (bn t m
tm triu đồng) đã p vốn để cn tr vào thit hại đã y ra cho Công ty P.
Ti phn tòa, b đơn gi ngun ý kiến và yêu cầu phản t.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH G (tên cũ Công ty
TNHH V) do bà N là đại diện pháp luật trình bày:
Công ty TNHH G được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp số 0312033674 do Sở Kế hoạch và Đầu TP. HChí Minh cấp lần đầu
ngày 05/11/2012, với tên gọi ban đầu là Công ty TNHH V. Đến ngày
02/12/2019, Công ty thực hiện thủ tục đăng thay đổi tên doanh nghiệp, theo
đó, tên gọi được đổi thành “Công ty TNHH G.
Công ty TNHH G xác nhận:
Ngày 03/4/2019, có chuyển khoản cho cá nhân bà L (đại diện pháp luật của
Công ty P): 1.000.000.000 đồng.
Ngày 27/5/2019, chuyển khoản cho nhân L (đại diện pháp luật của
Công ty P): 2.000.000.000 đồng.
Số tiền chuyển khoản này Công ty TNHH G chuyển giúp cho Công ty
TNHH T để thanh toán cho Công ty P theo Hợp đồng Hợp tác đầu số 04-01-
2019/HĐHTĐT/P-T ngày 04/01/2019.
Công ty TNHH G xác nhận thống nhất với nội dung ý kiến trình bày của
Công ty TNHH T. Ngoài những nội dung nêu trên, Công ty TNHH G không
ý kiến, yêu cầu gì khác liên quan đến vụ án.
Tại phiên tòa: Công ty TNHH G giữ nguyên ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L:
L đại diện pháp luật của ng ty P. xác nhận nội dung nguyên
đơn trình bày về việc ký Hợp đồng hợp tác đầu tư số 04-01-2019/HĐHTĐT/P-T
ngày 04/01/2019. Đồng thời cũng xác nhận đã nhận của Công ty TNHH V
(đã được đổi tên thành Công ty TNHH G) chuyển khoản cho nhân L 02
lần, tổng số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Ngày 04/6/2019, N tiếp
5
tục nộp tiền mặt vào tài khoản của tôi số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ
năm trăm triệu đồng).
Như vậy, tổng 03 lần phía Công ty T đã chuyển tiền góp vốn
4.500.000.000 đồng (Bốn tnăm trăm triệu đồng) để thanh toán cho Hợp đồng
hợp tác đầu tư s 04-01-2019/HĐHTĐT/P-T ngày 04/01/2019.
Ngoài số tiền nêu trên, L không nhận bất kỳ khoản tiền mặt nào khác
như nguyên đơn đã trình bày tại Bản ý kiến ngày 21/4/2025.
Đối với tranh chấp giữa hai Công ty, L đề nghị Quý Tòa án giải quyết
theo quy định của pháp luật. L xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình
giải quyết vụ án.
Tại phần Quyết định, Bản án kinh doanh thương mại thẩm số
181/2025/KDTM-ST ngày 30/10/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 đã tuyên
như sau:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T về
việc yêu cầu buộc bị đơn Công ty cổ phần P tiếp tục thực hiện Hợp đồng hợp tác
đầu tư số 04-01-2019/HĐHTĐT/P-T ngày 04/01/2019.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần P:
2.1 Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng hợp tác đầu s 04-01-
2019/HĐHTĐT/P-T ngày 04/01/2019.
2.2. Do nguyên đơn vi phạm nghĩa vụ làm hợp đồng bị chấm dứt nên số
tiền góp vốn đã thanh toán là 4.500.000.000 đồng thuộc sở hữu của bị đơn.
Ngoài ra, bn án còn tuyên ván phí và quyền kháng o của các đương s.
Ngày 10/11/2025, Tòa án nhân dân khu vực 7 nhận được đơn kháng cáo
của nguyên đơn, công ty TNHH T: Kháng cáo toàn bộ Bản án thẩm, đề nghị
tuyên hiệu Hợp đồng Hợp tác đầu số 04-01-2019/HĐHTĐT/P-T ngày
04/01/2019 do bị lừa dối. Đnghị giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu yêu
cầu Công ty P hoàn trả số tiền đã nhận 8.900.000.000 (tám tỷ chín trăm triệu)
đồng.
Ngày 21/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 kháng nghị toàn bộ
Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 181/2025/KDTM-ST ngày
30/01/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7, đề nghị hủy toàn bộ bản án nêu trên
do Tòa án sơ thẩm đã không tiến hành đối chất về khoản tiền giao nhận giữa các
đương sự Hợp đồng hợp tác giữa các bên vi phạm Điều 123 Bộ luật Dân sự
2015 nên vô hiệu.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Công ty TNHH T đề nghị Công ty Cổ phần P thỏa thuận tiếp tục thực hiện
hợp đồng hiện nay dự án đã được cấp lại giấy chứng nhận đầu hợp
đồng thuê đất. Trường hợp không thỏa thuận được thì giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo nhưng lại trình bày bổ sung ngoài yêu cầu kháng cáo: đề nghị sửa bản án
thẩm, hủy hợp đồng hợp tác do hiệu buộc ng ty P hoàn trả stiền đã
nhận 8.900.000.000 (tám tỷ chín trăm triệu) đồng và tiền lãi 10% tính trong 84
6
tháng kể từ ngày 5/6/2019.
Công ty P không đồng ý hòa giải, giữ nguyên ý kiến, yêu cầu phản tố.
Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Công ty T đề nghị Hội đồng
xét xử triệu tập những người làm chứng gồm có ông I, ông R, E, ông Q. Luật
sư cho rằng những người làm chứng này là người chứng kiến việc bà N (đại diện
pháp luật của Công ty T) đến ngân hàng chuyển tiền cho bà L thực hiện hợp
đồng hợp tác. Đồng thời luật cũng yêu cầu Hội đồng xét xử thu thập tài liệu
chứng cứ tại Ngân hàng Sacombank Ngân hàng Vietcombank đối với các
giao dịch do công ty TNHH G công ty TNHH V, N nhận tiền nộp tiền
vào tài khoản L. Tuy nhiên, tại phiên tòa, luật rút lại yêu cầu thu thập tài
liệu chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm t nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đọc kháng nghị
phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm
phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án
quyết định đưa vụ án ra xét xử gửi hồ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng
thời hạn, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện
kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật T tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay,
phiên tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần kháng nghị số 14/QĐ-VKS-
KDTM ngày 21/11/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân n Khu vực 7
một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án thẩm số 181/2025/KDTM-ST
ngày 30/10/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7, tuyên hợp đồng hợp tác đầu
số 04-01-2019/HĐHTĐT/P-T ngày 04/01/2019 hiệu, buộc bị đơn phải trả
lại cho nguyên đơn số tiền 4.500.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa; nghe ý kiến của các đương sự; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết
vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 30/10/2025, Toà án nhân dân
Khu vực 7 ban hành Bản án số 181/2025/KDTM-ST. Ngày 10/11/2025, nguyên
đơn đơn kháng cáo Tòa án nhận được vào ngày 12/11/2025. Căn cứ theo
quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Ttụng dân sự 2015 thì kháng cáo của
nguyên đơn còn trong thời hạn nên chấp nhận. Ngày 21/11/2025, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 ban hành Quyết định kháng nghị số 14/QĐ-
VKS-KDTM. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 là
còn trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015
nên chấp nhận.
[2] Về tố tụng:
7
(2.1) Về thẩm quyền: Công ty TNHH T khởi kiện tranh chấp hợp đồng hợp
tác đối với bị đơn là Công ty Cổ phần P, có địa chỉ tại phường A, Thành phố Hồ
Chí Minh nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng
dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết ca Tòa án nhân dân Khu vực 7,
Thành phố Hồ Chí Minh. Do kháng cáo đối với Bản án thẩm nên căn cứ
điểm b khoản 3 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân n Thành phố Hồ
C Minh thẩm quyền giải quyết vụ án theo thtục phúc thm.
(2.2) Về người tham gia tố tụng: t u cầu của luật bảo vệ quyn lợi
ích hợp pháp của nguyên đơn vviệc đnghị triu tập nhng người m chng
ông I, ông R, bà E, ông Q, Hội đồng t xt thấy n sau:
Luật sư E trình bày ông I, ông R, E, ông Q những người làm chứng
về việc chứng kiến N, đại diện pháp luật của Công ty T đã đến ngân hàng để
thực hiện việc chuyển tiền cho L, đại diện Công ty P. Hội đồng xét xử xét
thấy việc giao dịch chuyển tiền tại Ngân hàng phải được chứng minh bằng các
chứng từ chuyển tiền, sao kê tài khoản. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã thu thập i
liệu là sao kê tài khoản. Do đó, không cần thiết triệu tập các ông I, ông R, E,
ông Q vào tham gia tố tụng trong v án này với tư cách là người làm chứng theo
đề nghị của luật nêu trên. Cấp sơ thẩm không triệu tập những người này
không vi phạm thủ tục tố tụng và cấp phúc thẩm cũng không đồng ý với yêu cầu
này của phía nguyên đơn.
(2.3) Về đề nghị thu thập tài liệu chứng cứ: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho nguyên đơn yêu cầu thu thập tài liệu chứng cứ các giao dịch
của tài khoản L tại Ngân hàng Sacombank Vietcombank nhưng đã rút lại
yêu cầu này tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của nguyên đơn:
(3.1) Xét kháng nghị của Viện kiểm sát về việc cấp thẩm chưa đối chất,
làm rõ số tiền giao nhận giữa Công ty T và Công ty P:
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn cho rằng đã thanh toán cho b
đơn (bao gồm cả Công ty P L đại diện pháp luật) số tiền 8.500.000.000
(tám tỷ năm trăm triệu) đồng. Trong đó ngày 03/4/2019 chuyển số tiền
1.000.000.000 (một tỷ) đồng, ngày 25/5/2019 chuyển hai lần số tiền
4.000.000.000 (bốn tỷ) đồng, ngày 27/5/2019 chuyển 2.000.000.000 (hai tỷ)
đồng, ngày 04/6/2019 chuyển 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng. Hội
đồng xét xử t thấy như sau, sao tài khoản thể hiện các nội dung chuyển
khoản như sau:
Ngày 03/4/2019, công ty TNHH G chuyển khoản cho nhân bà L
1.000.000.000 (một tỷ) đồng.
Ngày 27/5/2019, công ty TNHH V chuyển khoản cho nhân bà L
2.000.000.000 (hai tỷ) đồng.
Ngày 04/6/2019, N chuyển khoản cho nhân L s tiền
1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng.
8
Tại phiên tòa phúc thẩm, luật Phương cung cấp một bản photo thể hiện
tờ ủy nhiệm chi đề ngày 25/5/2019 Công ty TNHH V chuyển khoản cho
Lsố tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng. Luật E cho rằng ngoài s tiền
2.000.000.000 chuyển của ngày 25/5/2019 ngày 27/5/2019 hai khoản tiền
khác nhau. Lời trình bày của Luật E cho rằng đã chuyển khoản hai lần mỗi
lần 2.000.000.000 đồng (một lần vào ngày 25/5/2019 và một lần vào ngày
27/5/2019) mâu thuẫn với tổng số tiền thực hiện hợp tác theo chính trình bày
của nguyên đơn tại đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết thẩm. Luật
cho rằng công ty TNHH G công ty TNHH V hai pháp nhân khác nhau
cũng không đúng với tài liệu chứng cứ trong hồ thể hiện Công ty V
tên của Công ty G. Sao tài khoản của chính công ty TNHH G (tên
Công ty TNHH V) không khoản tiền nào chuyển đi đngày 25/5/2019 đến
tài khoản của bà L mà chỉ có 1 khoản tiền chuyển đi 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng
đề ngày 27/5/2019. vậy sở để xác định số tiền tại Ủy nhiệm chi ngày
25/5/2019 chính số tiền thể hiện trên sao tài khoản ngày 27/5/2019. Giao
dịch thể hiện khác ngày do thao tác đi tiền của ngân hàng không trung khớp
cùng ngày với lệnh chuyển tiền trên giấy ủy nhiệm chi của khách hàng. Do cấp
thẩm đã thu thập đầy đủ sao tài khoản ngân hàng để xác định chính xác số
tiền các bên đã giao nhận cho nhau bằng hình thức chuyển khoản. Về số tiền
giao nhận bằng tiền mặt, L khẳng định không nhận tiền mặt phía N
đại diện pháp luật của nguyên đơn cũng không cung cấp được bất kỳ i liệu
chứng cứ nào về việc giao nhận này. L cũng đã đơn xin vắng mặt trong
toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Với tài liệu chứng cứ nêu trên đã đủ căn cứ
để Hội đồng xét xử xem xét, không cần thiết phải thực hiện việc thu thập thêm
tài liệu chứng cứ hay tiến hành đối chất theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân
Khu vực 7.
Cấp thẩm không chấp nhận ý kiến của nguyên đơn cho rằng đã thanh
toán tiền mặt 4.000.000.000 (bốn tỷ) đồng là có căn cứ.
(3.2) Xét hiệu lực của Hợp đồng hợp tác đầu số 04-01-
2019/HĐHTĐT/P-T (sau đây gọi tắt là Hợp đồng hợp tác số 04):
Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 kháng cáo của
nguyên đơn đều cho rằng Hợp đồng hợp tác số 04 hiệu, Hội đồng xét xử xét
thấy như sau:
Hợp đồng hợp tác đầu số 04 được kết giữa Công ty Cphần P (sau
đây gọi tắt Công ty P) Công ty TNHH T (sau đây gọi tắt Công ty T).
Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 và trình bày của
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty T đều cho rằng Công ty P
chỉ một trong 3 nhà đầu theo Giấy chứng nhận đầu của công ty Cổ phần
H. Giấy chứng nhận đầu được cấp năm 2011 đến thời điểm các bên hợp
đồng hợp tác đầu s04 là ngày 04/01/2019 đã bị thu hồi. vậy, kháng cáo
kháng nghị cho rằng Công ty P không tư cách đầy đủ đthực hiện giao
dịch hợp tác đầu tư và do giấy chứng nhận đầu tư đã bị thu hồi nên Hợp đồng vô
hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 (mục đích và nội dung
9
giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật). Phía nguyên đơn còn cho rằng
không hề biết việc giấy chứng nhận đầu dự án bị thu hồi do đó giao dịch
hiệu vì lừa di.
Xét hợp đồng hợp tác đầu tư số 04, các bên thỏa thuận như sau:
Sau khi hai bên cùng nhau nghiên cứu, xem xét kỹ thực trạng hồ sơ pháp
của dán Xây dựng nhà máy lắp ráp xe ô H, gồm các hồ sau: (Giấy
chứng nhận đầu tư số 492032000207 ngày 02/3/2011 của Ban QL các KCN tỉnh
BRVT, về việc cấp phép đầu cho công ty CP ĐTXD P (Bên A), thực hiện xây
dựng dán nhà máy H: Tổng diện tích 21ha, tại khu công nghiệp M, huyện T,
tỉnh BRVT. Thông báo số 68/TB-HĐND ngày 26/8/2014 của Chủ tịch HĐND
tỉnh BRVT. Thông báo số 67/TB-UBND ngày 03/3/2015 của chủ tịch UBND tỉnh
BRVT. Văn bản số 10424/UBND-VP ngày 28/11/2016 của UBND tỉnh BRVT.
Văn bản số 2049-CV/TU ngày 27/02/2017 của Tỉnh y tỉnh BRVT. Văn bản số
5890/VPCP-V.I ngày 07/6/2017 của Văn phòng Chính phủ. Văn bản số
9019/VPCP-V.1 ngày 24/8/2017 của Văn phòng Chính phủ. Văn bản số
1033/VPCP-V.1 ngày 29/01/2018 của Văn phòng Chính phủ. Văn bản số
6521/VPCP-V.1 ngày 11/7/2018 của Văn phòng Chính phủ). Hôm nay hai bên
thống nhất đồng ý ký hợp đồng hợp tác đầu này, để cùng nhau làm các thủ
tục pháp lý để xây dựng hoàn thành dự án theo các điều khoản và điều kiện như
sau:
...1.1 Bên B đồng ý góp vốn hợp tác đầu tư cùng bên A lập các thủ tục pháp
đ xây dựng hoàn thành dự án Nhà máy lắp ráp xe ô H; tại khu công
nghiệp M, huyện T, tỉnh BRVT. ...”
Căn cứ thỏa thuận nêu trên, nội dung của Thông báo số 68/TB-HĐND ngày
26/8/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh Rịa Vũng Tàu về kết luận của
Thường trực HĐND tỉnh tại buổi làm việc với Công ty Cổ phần H, Thông báo
số 67/TB-UBND ngày 03/3/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu,
công văn số 5890/VPCP-V.I ngày 07/6/2017 của Văn phòng Chính phủ, công
văn số 2049-CV/TU ngày 27/02/2017 của Tỉnh ủy Bà Rịa – Vũng Tàu, công văn
số 10424/UBND-VP ngày 28/11/2016 của Ủy ban nhân dân Tỉnh Rịa
Vũng Tàu đều thể hiện thông tin Giấy chứng nhận đầu của nhà máy sản
xuất lắp ráp xe ô tô H đã bị thu hồi, các văn bản viện dẫn thể hiện quá trình công
ty Cổ phần H đã và đang khiếu nại thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đầu cũng
như Ban quản Khu ng nghiệp không thực hiện hướng dẫn doanh nghiệp
hợp đồng thuê đất.
Như vậy, tại thời điểm kết, các bên biết rất tình trạng pháp của dự
án đã bị thu hồi, chưa được hợp đồng thuê đất. vậy, nguyên đơn cho rằng
mình không biết thông tin nào, bị lừa dối khi ký hợp đồng là không có căn cứ.
Xét mục đích ký kết hợp đồng của các bên: Phía bị đơn Công ty P cho
rằng vì tình trạng dự án bị thu hồi giấy chứng nhận, các bên ký hợp đồng hợp tác
nhằm cùng nhau đầu nguồn kinh pđể thực hiện thủ tục pháp xin tái cấp
phép cho dự án. Ý kiến này của bị đơn phù hợp với phân tích nêu trên. Các
bên biết dán đã bị thu hồi giấy chứng nhận đầu tư. Việc kết hợp đồng
10
hợp tác để hoàn thiện các thủ tục pháp xin cấp phép lại dự án cùng thực
hiện khi dự án được cấp phép. Điều này cũng thể hiện trong thỏa thuận tại
hợp đồng khi các bên không thỏa thuận “Hợp tác đầu dán” hợp tác để
cùng nhau làm các thủ tục pháp lý để xây dựng hoàn thành dự án”. Cũng chính
giấy chứng nhận đầu đã bị thu hồi, chủ thể của hợp đồng hợp tác làm thủ
tục pháp lý sự thỏa thuận giữa hai pháp nhân độc lập Công ty P Công ty
T chứ không phải Công ty H theo Giấy chứng nhận đầu tư. trên sthỏa
thuận độc lập này giữa hai pháp nhân phù hợp với ngành nghề đăng kinh
doanh của Công ty P và Công ty T, không cần có ý kiến không liên quan đến
công ty K ông Q hai nhà đầu còn lại trên giấy chứng nhận đầu số
492032000207 đã bị thu hồi.
Việc xác định mục đích của Hợp đồng hợp tác đầu tư số 04 là hợp tác trong
giai đoạn thực hiện pháp xin cấp phép dự án còn thể hiện tại Điều 3.2.2
Bên B chịu trách nhiệm lập hồthiết kế thực hiện dự án chứng minh năng
lực tài chính”. Nội dung thỏa thuận này phợp với quy định tại khoản 1
Điều 33 Luật Đầu năm 2014. Việc lập hồ thiết kế thực hiện dự án
chứng minh năng lực tài chính” là việc doanh nghiệp, chủ đầu tư phải thực hiện
giai đoạn xin giấy phép cho dán chứ không phải giai đoạn dán đã được
cấp phép.
Ý chí của nguyên đơn mong muốn cùng bị đơn giao kết hợp đồng, hợp
tác xin cấp phép lại dự án để cùng nhau thực hiện dự án không chỉ tại nội dung
Hợp đồng hợp tác đầu số 04 theo phân tích nêu trên còn thể hiện trên các
tin nhắn do chính nguyên đơn cung cấp (dù không thực hiện lập vi bằng đối với
tài liệu chứng cứ này) và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn mong muốn
tiếp tục được hợp tác cùng bị đơn để thực hiện dự án khi dự án đã được cấp lại
giấy chứng nhận đầu và ký hợp đồng thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho chính bà L là đại diện pháp luật của Công ty P.
Các phân tích trên cho thấy chủ thể của giao dịch phù hợp với quy định
tại Điều 75, 86 Bộ luật Dân sự, đối tượng của giao dịch cùng nhau thực hiện
thủ tục pháp cho dự án (bao gồm xin phép cấp lại giấy chứng nhận, thuê đất,
chứng minh năng lực tài chính, thuyết minh dự án....), hoạt động đầu tư góp vốn
này là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 33 Luật Đầu
năm 2014. Không căn cứ để xác định slừa dối trong giao dịch nêu trên.
Do đó, kháng cáo và kháng nghị xác định hợp đồng Hợp tác đầu số 04
hiệu theo điều 123 Bộ luật Dân sự là không có căn cứ.
(3.3) Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xsửa
bản án, buộc bị đơn hoàn trả số tiền đã thanh toán tiền lãi do hợp đồng
hiệu. Hội đồng xét xử xem xét như sau:
Trong đơn khởi kiện và suốt quá trình giải quyết tại cấp thẩm, nguyên
đơn không có yêu cầu nào về việc tuyên giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả
của hợp đồng vô hiệu. Như đã phân tích mục (3.2) nêu trên, giao dịch các bên
xác lập không vô hiệu. Do đó, không có cơ sở để xem xét yêu cầu giải quyết hậu
quả của hợp đồng vô hiệu theo ý kiến của nguyên đơn và đề nghị của Viện kiểm
11
sát.
(3.4) Do nguyên đơn kháng cáo Viện kiểm sát kháng nghị đối với toàn
bộ bản án nên Hội đồng xét xử xem xét phần nội dung còn lại của Bản án
thẩm vviệc xét yêu cầu phản tố của bị đơn, chấm dứt hợp đồng hợp tác
buộc nguyên đơn mất số tiền đã thanh toán do vi phạm hợp đồng tương ứng với
thiệt hại của bị đơn.
Hợp đồng hợp tác đầu số 04 hiệu lực nên làm phát sinh các quyền và
nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự.
Các bên thỏa thuận tại Điều 4.1.1 như sau: Đợt 1: Ngay sau khi hợp
đồng này bên B góp vốn 10.000.000.000đ (mười tỷ đồng) cho bên A.”.
Tại phiên tòa, đại diện pháp luật của nguyên đơn N trình bày nguyên
đơn hiểu thỏa thuận ngay sau khi hợp đồng” một thời gian không xác
định và vậy, nguyên đơn đã thanh toán nhiều lần vào thời gian kéo dài sau
thời điểm các bên hợp đồng ngày 04/01/2019. Thực tế, nguyên đơn đến
thời điểm khởi kiện vẫn chưa thực hiện hoàn tất nghĩa vụ thanh toán số tiền
10.000.000.000 đồng theo thỏa thuận tại Hợp đồng. Các tin nhắn do nguyên đơn
cung cấp cho Tòa ánng thể hiện nguyên đơn gặp khó khăn về tài chính để nộp
tiền đúng theo thỏa thuận. Căn cứ Điều 404 Bộ luật Dân sự, việc giải thích điều
khoản này phải được hiểu việc góp vốn đợt 1 sẽ được thực hiện ngay thời gian
liền kề ngày 04/01/2019 (thời gian kết hợp đồng) trong ngày 04/01/2019
hoặc rộng hơn không quá ngày 05/01/2019. Công ty P đã nhiều lần đôn đốc
Công ty T thanh toán theo thỏa thuận Hợp đồng nhưng Công ty T không đề nghị
chấp dứt hợp đồng do hiệu chỉ đề nghị cho thêm thời gian thanh toán.
Như vậy, Công ty T đã vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận tại Điều 3.1.2 Hợp đồng
Hợp tác đầu tư số 04.
Căn cứ Điều 6.2 Hợp đồng Hợp tác đầu số 04, yêu cầu phản tố của bị
đơn Công ty P về việc đề nghị chấm dứt hợp đồng hợp tác là sở đchấp
nhận.
Như đã phân tích, chỉ căn cứ đxác định nguyên đơn thanh toán cho bị
đơn số tiền là 4.500.000.000 (bốn tỷ năm trăm triệu) đồng c thể:
Lần 1: ngày 03/4/2019 thanh toán 1.000.000.000 đồng;
Lần 2: ngày 27/5/2019 thanh toán 2.000.000.000 đồng;
Lần 3: ngày 04/6/2019 thanh toán 1.500.000.000 đồng.
Các bên thống nhất giá trị hợp đồng 65.000.000.000 (sáu mươi lăm tỷ)
đồng tại Điều 1.4. Giá trị hợp đồng vi phạm chưa thanh toán là 60.500.000.000
(sáu mươi tỷ năm trăm triệu) đồng. Căn cứ Điều 301 Luật Thương mại, mức
phạt vi phạm 60.500.000.000 x 8% = 4.840.000.000 (bn tỷ tám trăm bốn
mươi triệu) đồng. Các bên thỏa thuận tại Điều 7 về xử lý vi phạm hợp đồng theo
thỏa thuận theo quy định của pháp luật Việt Nam. Do đó, sở để xác
định mức phạt vi phạm được áp dụng số tiền 4.840.000.000 (bốn tỷ tám trăm
bốn mươi triệu) đồng. Tuy nhiên, bị đơn chỉ yêu cầu 4.500.000.000 (bốn tỷ năm
12
trăm triệu đồng) tương ứng với số tiền nguyên đơn đã thanh toán thấp hơn
có lợi hơn cho nguyên đơn.
Do đó, cấp thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn Công
ty P là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu
vực 7 và kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận. Bản án sơ
thẩm đã xét xử có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên giữ nguyên.
[4] Về án phí:
Án phí thẩm thực hiện theo Bản án sơ thẩm. Do bác kháng cáo nên
người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 203, điểm a Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều
271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm
2025;
- Căn cứ Điều 310, Điều 311 Luật thương mại năm 2005;
- Căn cứ Điều 422, Điều 507 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm
2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về
án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu
vực 7, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, Công ty TNHH T. Giữ
nguyên Bản án thẩm số 181/2025/KDTM-ST ngày 30/10/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T về
việc yêu cầu buộc bị đơn Công ty Cphần P tiếp tục thực hiện Hợp đồng hợp
tác đầu tư số 04-01-2019/HĐHTĐT/P-T ngày 04/01/2019.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần P:
2.1 Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng hợp tác đầu số 04-01-
2019/HĐHTĐT/P-T ngày 04/01/2019.
2.2. Do nguyên đơn vi phạm nghĩa vụ làm hợp đồng bị chấm dứt nên số
tiền góp vốn đã thanh toán là 4.500.000.000 đồng thuộc sở hữu của bị đơn.
3. Án phí sơ thẩm:
13
- Nguyên đơn Công ty TNHH T phải chịu án phí thẩm là: 118.500.000
đồng (Bằng chữ: Một trăm mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) nhưng được
cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 86.500.000 đồng theo biên lai thu số
0014957 ngày 30/10/2024 của Chi cục thi hành án dân squận Vấp, Thành
phố Hồ Chí Minh. Công ty TNHH T còn phải nộp thêm 32.000.000 đồng (Bằng
chữ: Ba mươi hai triệu đồng).
- Hoàn tiền tạm ứng án phí 57.750.000 đồng (Năm mươi bảy triệu bảy
trăm năm mươi nghìn đồng) cho Công ty Cổ phần P theo biên lai thu số
0010568 ngày 22/8/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh .
4. Án phí phúc thẩm:
Người kháng cáo, Nguyên đơn Công ty TNHH T phải chịu án phí phúc
thẩm là: 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) nhưng đươc trừ vào tiền tạm ứng án p
đã nộp là 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 0038994 ngày 17/11/2025 của Thi
hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Tp. Hồ
Chí Minh;
- VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
- Viện Công tố và kiểm sát xét xử
phúc thẩm tại Tp. Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 7 Tp. Hồ Chí Minh;
- Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7
Tp. Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phùng Thị Như Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 235/2026/KDTM-PT Bản án số 235/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 235/2026/KDTM-PT Bản án số 235/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất