Bản án số 131/2026/HS-ST ngày 25/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 131/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 131/2026/HS-ST ngày 25/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 131/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vũ Đức H 175
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 131/2026/HS-ST Bản án số 131/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 131/2026/HS-ST Bản án số 131/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
Bản án số: 131/2026/HS-ST
Ngày 25 – 8 – 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Trần Minh Thêu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Bá Thức
Bà Đinh Thị Ng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 12 – Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị N Lê, bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú
Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
118/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 139/2026/HSST - QĐ ngày 11 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Vũ Đức H; sinh ngày 09/09/1997 tại Phú Thọ. Căn cước công dân số
************ do Cục cảnh sát QLHC về trật tự xã hội cấp ngày 15/9/2021. Nơi
ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: tổ 12, phường Hoà Bình, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp:
Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch:
Việt Nam. Con ông Vũ Xuân Hùng, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm
1977. Có vợ là Nông Thị Trang (đã ly hôn;) có 01 con sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm gi, tam giam từ ngày 05/03/2026 đến nay. Hiện đang tạm
giam tại Trại tạm giam số 3 – Công an tỉnh Phú Thọ. Được trích xuất, có mặt tại
phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Văn T – Văn phòng luật sư Trần N
Quang, đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
Bị hại:
2
+ Ông Khiếu Đình S, sinh năm 1978; địa chỉ: xóm Ruộng Dềnh, xã Quyết
Thắng, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Anh Nguyễn TA, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ dân phố số 1 (tổ 2 cũ), phường
Kỳ S, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1977; địa chỉ: tổ dân phố số 12 (thuộc tổ 13
phường Đồng Tiến cũ), phường Hoà Bình, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt, có đơn xin xét
xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn N Cường, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ 11, phường Hoà Bình,
tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Vũ Duy N, sinh năm 1972; địa chỉ: tổ 10, phường Thống Nhất, tỉnh
Phú Thọ. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/10/2025, ông Khiếu Đình S thuê 01 xe ô tô nhãn hiệu VINFAST,
BKS: 70A-633.51 của Công ty Trách nhiệm hu hạn đầu từ sản xuất thương mại
THT Phú Thọ, có địa chỉ tại số nhà 64, đường Hùng Vương, thị trấn Lâm Thao
(cũ), tỉnh Phú Thọ để kinh doanh vận cHển hành khách. Sau khi thuê chiếc xe trên,
ông S thuê anh Nguyên TA làm lái xe và giao chiếc xe ô tô trên cho anh TA quản
lý, bảo quản và chở khách thuê cho ông S.
Đến khoảng gia tháng 01/2026, ông S mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu
VINFAST, BKS 19A-903.41. Sau đó, ông S thuê Vũ Đức H làm lái xe và giao
chiếc xe ô tô BKS 19A-903.41 cùng toàn bộ giấy xe cho Vũ Đức H quản lý, bảo
quản và chở khách thuê cho ông S.
Buổi trưa ngày 25/02/2026, H điều khiển chiếc xe ô tô BKS 19A-903.41 đi
bảo dưỡng định kỳ. Trong khi ngồi đợi đến lượt đưa xe vào bảo dưỡng, do bản thân
H không có tiền để sử dụng cá nhân, nên H nảy sinh ý định đem chiếc xe đi cầm cố
để lấy tiền sử dụng cá nhân. Sau đó, H điều khiển xe ô tô BKS 19A-903.41 đi đến
cửa hàng cầm đồ N Hà do ông Vũ Duy N làm chủ. Sau khi gặp ông N, H cho biết:
chiếc xe ô tô này là của gia đình H mua lại của người khác, nhưng chưa làm thủ tục
sang tên, đổi chủ, đồng thời H đưa cho ông N xem đăng ký của xe. Do tin tưởng H
và sau khi đối chiếu, kiểm tra xe ô tô trùng khớp với thông tin trên đăng ký xe, ông
N đồng ý nhận cầm cố chiếc xe ô tô này với số tiền là 21.000.000đ, lãi suất thỏa
3
thuận là 1,5%/01 tháng. Sau đó, ông N và H cùng ký vào hợp đồng cầm cố chiếc xe
này, ông N đưa cho H số tiền 21.000.000đ, H để lại chiếc xe ô tô tại nhà ông N. Số
tiền 21.000.000đ, H đã sử dụng cá nhân hết.
Buổi tối cùng ngày 25/02/2026, do có việc phải sử dụng đến xe ô tô, nhưng
không có xe, H liền gọi điện thoại cho anh Nguyễn TA hỏi mượn chiếc xe ô tô
BKS: 70A-633.51 của ông S giao cho anh TA quản lý đi có việc.
Do tin tưởng H, nên anh TA đồng ý. Khoảng 21h00 cùng ngày, H đi đến nhà
anh TA được anh TA giao chiếc xe BKS: 70A-633.51 cùng giấy tờ xe cho H mượn.
Sau khi giải quyết công việc cá nhân xong, H nảy sinh ý định mang chiếc xe này đi
cầm cố lấy tiền sử dụng cá nhân. Sau đó, H gọi điện thoại cho anh Nguyễn N
Cường hỏi vay tiền, thì được anh Cường đồng ý. H điều khiển chiếc xe ô tô này đi
đến nhà anh Cường. Khi gặp anh Cường, H nói: xe ô tô này là của gia đình H mua
lại của người khác, nhưng chưa làm thủ tục sang tên, đổi chủ, đồng thời H đưa cho
anh Cường xem đăng ký của xe. Do tin tưởng H và sau khi đối chiếu, kiểm tra xe ô
tô trùng khớp với thông tin trên đăng ký xe, anh Cường đồng ý cho H vay số tiền
60.000.000đ nhưng H phải để lại chiếc xe ô tô này cho anh Cường quản lý và viết
một giấy bán xe ô tô này cho anh Cường để làm tin cho khoản vay, H đồng ý. Sau
đó, H viết 01 giấy bán chiếc xe ô tô BKS: 70A-633.51 cho anh Cường đồng thời
nhận số tiền 60.000.000đ từ anh Cường rồi đi về. Số tiền 60.000.000đ vay của anh
Cường, H đã sử dụng cá nhân hết.
Ngày 26/02/2026, biết không thể che giấu được việc đã cầm cố 02 chiếc xe ô
tô của ông S, nên H đã gọi điện thoại cho ông S nói cho ông S biết việc H đã đem
cầm cố 02 chiếc xe ô tô của ông S. Ông S yêu cầu H trả lại 02 chiếc xe ô tô này,
nhưng H không trả. Sau đó, H bỏ trốn, tới ngày 05/3/2026 thì đến Công an tỉnh Phú
Thọ đầu thú về hành vi của bản thân.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Vũ Đức H đã thành
khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với toàn bộ tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án.
Tại Biên bản họp định giá tài sản số 12/BB-HĐĐGTS ngày 09/3/2026 của
Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ
kết luận:
+ 01 chiếc xe ô tô BKS: 70A-633.51 nhãn hiệu VINFAST có trị giá tại thời
điểm tháng 02/2026 là 800.000.000đ.
+ 01 chiếc xe ô tô BKS 19A-903.41 nhãn hiệu VINFAST có trị giá tại thời
điểm tháng 02/2026 là 650.000.000đ.
4
Tống giá trị hai chiếc xe là: 1.450.000.000đ (Một tỷ, bốn trăm năm mươi
triệu đồng).
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu gi 02 chiếc xe ô tô
gồm 01 chiếc xe ô tô BKS 70A-633.51 và 01 chiếc xe ô tô BKS 19A-903.41 do anh
Nguyễn N Cường và ông Vũ Duy N giao nộp.
Về trách nhiệm dân sự:
- Sau khi vụ việc xảy ra, bà Nguyễn Thị Ng – mẹ đẻ bị cáo H đã bồi thường
cho ông S số tiền 12.000.000đ, ông S đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu H phải
bồi thường thêm khoản tiền nào khác.
- Ông Vũ Duy N yêu cầu bị cáo H phải hoàn trả cho ông số tiền 21.000.000đ,
anh Nguyễn N Cường yêu cầu H phải hoàn trả cho anh số tiền 40.000.000đ. Đến
nay, H chưa bồi thường cho ông N và anh Cường.
Cáo trạng số 226/CT-VKSPTO-P2 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ
truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", quy
định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12, tỉnh Phú Thọ: gi
nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi
phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị
cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 4 Điều 175, điểm s khoản 1 khoản 2
Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt Vũ Đức H từ
13 năm đến 13 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị
cáo.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo phải hoàn trả cho ông Vũ Duy N số tiền
21.000.000đ, hoàn trả cho anh Nguyễn N Cường số tiền 40.000.000đ
Về án phí: buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.
Luật sư Vũ Văn Túc bào cha cho các bị cáo nêu quan điểm: Nhất trí với cáo
trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên luật sư đề nghị Hội đồng xét
xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo tuổi đời còn trẻ; phạm tội do bồng
bột; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân
thân tốt; đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo; bản thân được tặng thưởng bằng khen khi thực hiện công an
nghĩa vụ; có bố đẻ được tặng thưởng H chương H chương chiến sĩ vẻ vang của
Công an nhân dân….Đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, b khoản 1
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức án
Viện kiểm sát đề nghị.
5
Kiểm sát viên đối đáp với bào cha của luật sư: đối với tình tiết điểm b khoản
1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: trong trường hợp này bị cáo chỉ khắc phục được một
phần nhỏ hậu quả mà không phải do thiệt hại trực tiếp của hành vi phạm tội nên
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ này tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự là phù hợp, Viện kiểm sát gi nguyên quan điểm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; không bổ sung
lời bào cha của Luật sư. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội
và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về
với gia đình và xã hội.
Ông Khiếu Đình S tại đơn xin xét xử vắng mặt nêu ý kiến: không yêu cầu gì
về phần trách nhiệm dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị
cáo.
Bà Nguyễn Thị Ng tại đơn xin xét xử vắng mặt, trình bày: số tiền 12.000.000đ
bà Ng giao cho ông Khiếu Đình S là do bà tự nguyện thay bị cáo H bồi thường cho
bị hại, bà không yêu cầu bị cáo trả lại bà số tiền này.
Anh Nguyễn N Cường tại đơn xin xét xử vắng mặt trình bày: Yêu cầu bị cáo
trả lại số tiền 40.000.000 đồng; còn số tiền 20.000.000 đồng anh cho bị cáo, không
yêu cầu bị cáo trả lại, việc cho bị cáo 20.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện
không đề nghị Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn TA và ông Vũ Duy N gi nguyên lời khai tại cơ quan điều tra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra,
của Điều tra viên công an tỉnh Phú Thọ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ
thẩm các bị cáo và nhng người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Vũ Đức H khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong
6
quá trình điều tra và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết
luận: Do có sự quen biết và tin tưởng của ông Khiếu Đình S, ngày 25/02/2026, lợi
dụng việc bản thân là lái xe thuê và được ông S Khiếu Đình S giao cho quản lý, sử
dụng chiếc xe ô tô BKS 19A-903.41, H nảy sinh ý định mang chiếc xe ô tô này đi
cầm cố lấy tiền sử dụng cá nhân. Sau đó, H điều khiển xe ô tô đến hiệu cầm đồ do
ông Vũ Duy N làm chủ cầm cố được số tiền 21:000.000đ. Lợi dụng sự quen biết và
tin tưởng của anh Nguyễn TA là đồng nghiệp cùng lái xe thuê cho ông Khiếu Đình
S, chiều cùng ngày, H tiếp tục gọi điện thoại cho anh Nguyễn TA hỏi mượn chiếc
xe ô tô BKS 70A-633.51 do ông S giao cho anh TA quản lý, sử dụng để giải quyết
việc cá nhân. Sau khi giải quyết công việc cá nhân xong, H điều khiển chiếc xe này
đi đến cầm cố cho anh Nguyễn N Cường lấy số tiền 60.000.000đ. Toàn bộ số tiền
cầm cố xe ô tô H đã sử dụng cá nhân hết. Trị giá hai chiếc xe được định giá là
1.450.000.000 đồng.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo về tội Lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn
cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của
mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực
hiện, bất chấp hậu quả. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho
xã hội xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hu tài sản cá nhân được pháp luật bảo vệ.
Hiện nay tội phạm về xâm phạm quyền sở hu tài sản với số tiền lớn ngày càng gia
tăng với tính chất phức tạp, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Do đó cần
phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo;
cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo
và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong
vụ án:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng được quy định tại
điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là: phạm tội 02 lần trở lên.
- Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; có nhân thân tốt chưa có
tiền án tiền sự; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hiện đang chu cấp nuôi con nhỏ; tài
sản đã thu hồi được; Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường
7
cho bị hại, bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có thành tích
tốt, được tặng Bằng khen, Giấy khen trong thời gian tham gia Nghĩa vụ công an
nhân dân… đây là nhng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo.
Đối với ý kiến bào cha của luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b
khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo xét thấy: Bị cáo đã tác động gia đình
bồi thường số tiền 12.000.000 đồng cho ông Khiếu Đình S, ông S yêu cầu bị cáo
bồi thường do thiệt hại nhng ngày không có xe trở khách, xét đây là việc bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không phải việc khắc phục hậu quả trực tiếp từ
hành vi phạm tội bị cáo gây ra, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm
nhẹ này cho bị cáo tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề
nghiệp ổn định và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền
theo quy định tại Khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6].Về xử lý vật chứng: xác định xe ô tô BKS 70A-633.51 nhãn hiệu
VINFAST thuộc quyền quản lý hợp pháp của ông Khiếu Đình S và xe ô tô BKS
19A-903.41 nhãn hiệu VINFAST là tài sản cá nhân của ông S, Cơ quan cảnh sát
điều tra Công an tỉnh Phú Thọ trả lại ông S 02 chiếc xe ô tô theo Quyết định xứ lý
vật chứng số B1416 ngày 27/3/2026 là có căn cứ, đúng quy định nên Hội đồng xét
xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại ông Khiếu Đình S đã nhận số tiền 12.000.000đ do mẹ đẻ bị cáo là bà
Nguyễn Thị Ng tự nguyện bồi thường thay bị cáo; nay không có ý kiến đề nghị gì
nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với số tiền 21.000.000 đồng của ông Vũ Duy N và 40.000.000 đồng
của anh Nguyễn N Cường cần buộc bị cáo trả lại cho ông N và anh Cường.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với ông Vũ Duy N và anh Nguyễn N Cường: là nhng người nhận cầm
cố 02 chiếc xe ô tô do Vũ Đức H phạm tội mà có. Xét khi đến gặp ông N và anh
Cường, H đều nói 02 chiếc xe ô tô này đều là của gia đình H mua lại của người
khác, chưa làm thủ tục sang tên, đổi chủ, đồng thời đưa giấy đăng ký xe ô tô cho
ông N và anh Cường xem và đối chiếu với xe ô tô, không phải là xe ô tô di H phạm
tội mà có. Do tin tưởng H và kết quả đối chiếu gia đăng ký xe ô tô và xe ô tô nên
ông N và anh Cường đã đồng ý để H cầm cố 02 chiếc xe ô tô với số tiền lần lượt là
8
21.000.000đ và 60.000.000đ. Ông N và anh Cường không biết đó là tài sản của
người khác, do H phạm tội mà có. Hành vi của ông N và anh Cường không đủ căn
cứ để xử lý về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại
điều 323 Bộ luật hình sự. Việc Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông N và anh
Cường là có căn cứ, đúng quy định.
Đối với số tiền 20.000.000 đồng mà anh Nguyễn N Cường không yêu cầu bị
cáo hoàn trả. Tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Cường chỉ yêu cầu bị cáo trả lại
40.000.000 đồng, còn 20.000.000 đồng anh Cường cho bị cáo không yêu cầu bị cáo
trả lại. Xét đây là giao dịch dân sự gia anh Cường và bị cáo nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
Đối với hành vi nhận cầm cố tài sản của ông Vũ Duy N và anh Nguyễn N
Cường nhận cầm cố tài sản của người khác nhưng không có ủy quyền hợp lệ của
người có tài sản đi cầm cố là vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề đầu tư
kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. Do vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét có
văn bản kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cử lý vi phạm hành chính theo quy định.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Vũ Đức H phạm tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1
Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Đức H 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
05/03/2026.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 123, 131
Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Vũ Đức H có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Nguyễn N Cường số
tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
Buộc bị cáo Vũ Đức H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Vũ Duy N số tiền
21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
9
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi
hành án dân sự và người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 36 và Điều 72 luật thi hành án dân sự,
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 luật thi hành án dân
sự.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình
sự sơ thẩm và 3.050.000đ (ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân
sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo theo
quy định pháp luật. Bị hại, nhng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh PT;
- VKSND tỉnh PT;
- Sở tư pháp tỉnh PT;
- VKSND KV12-PT;
- CQ THADS tỉnh PT;
- Phòng PC 10 – CATPT;
- Phòng PV06-CATPT;
- Trại TG số 3 – CATPT;
- Phòng THADS12-PT;
- Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Minh Thêu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 131/2026/HS-ST Bản án số 131/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 131/2026/HS-ST Bản án số 131/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất