Bản án số 295/2026/DS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 295/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 295/2026/DS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 295/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị D - Nguyễn Trung T tranh chấp ranh giới là quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 295/2026/DS-PT Bản án số 295/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 295/2026/DS-PT Bản án số 295/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 295/2026/DS-PT
Ngày 25 - 9 - 2026
V/v Tranh chấp ranh giới là quyền sử
dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng và ông Nguyễn Duy Sơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà
Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ
sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 181/2026/TLPT-DS
ngày 24 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp ranh giới là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2026/DS-ST ngày 12/6/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 9 - Phú Thọ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm số: 253/2026/QĐ-PT ngày 17/8/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Thọ giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1982, căn cước công dân:
************; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1981, Căn cước công dân:
************; địa chỉ: Số nhà F, ngách A, ngõ F đường N, tổ dân phố T,
phường V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị T1, sinh năm
1983, Căn cước công dân: ************; địa chỉ: Số nhà F, ngách A, ngõ F
đường N, tổ dân phố T, phường V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963 (vắng mặt) và bà Lê Thị S, sinh
năm 1962 (vắng mặt); địa chỉ: P, tầng C, tòa nhà A, phường V, tỉnh Phú Thọ.
4.2. Ông Hoàng Xuân T2, sinh năm 1974; địa chỉ: Số nhà A, ngách A,
ngõ F N, phường V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
2
5. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị D – là nguyên đơn, ông Nguyễn
Trung T – Là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 4 năm 2024, đơn khởi kiện bổ sung và
các lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày: Thửa đất số: 889,
tờ bản đồ số: 36, diện tích 77,5m
2
; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Phú
Thọ được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh V (nay là tỉnh Phú Thọ) cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/5/2015 đứng tên bà, có nguồn gốc là do
bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị S vào
khoảng tháng 02 năm 2015. Thời điểm nhận chuyển nhượng là đất trống, chỉ có
tường bao loan quanh đất, còn phía giáp đất nhà ông A, bà V thì được ngăn cách
bằng tường nhà do gia đình bà V xây, tường xây bao loan xung quanh đất là do
gia đình ông H xây từ trước khi bà nhận chuyển nhượng. Thời điểm nhận
chuyển nhượng giữa bà và ông H, bà S có đo đạc hiện trạng, bàn giao mốc giới
không có sự chứng kiến của cán bộ địa chính. Khi bà nhận chuyển nhượng đất
của vợ chồng ông H, bà S thì phần đất giáp nhà ông T, bà T1 đã có tường bao
loan cao khoảng gần 01m do ông H xây trước đó. Bà mua đất vào khoảng tháng
02/2015 thì cuối năm 2015 bà xây nhà. Đất là do một mình bà mua và thuộc sở
hữu của một mình bà. Khi làm nhà bà có để lại một phần đất ở phía sau giáp đất
nhà ông T khoảng trên 3m
2
. Lý do bà để lại là vì đất bà mua bị xéo, không
vuông nên khi xây bà đã để lại phần sau cho vuông nhà, ngoài ra bà để lại để
tiện cho việc lên xuống sửa nhà. Sau khi xây nhà xong do tính chất công việc
nên bà chưa về ở ngay. Được khoảng 05 năm sau thì bà mới chuyển về ở. Khi về
ở bà phát hiện gia đình ông T đã đập tường bao loan phía sau nhà bà để lập mái
tôn, bắc ống nước, lát gạch, làm mái nhà vào đất nhà bà. Bà có trực tiếp gặp yêu
cầu tháo dỡ, phá bỏ nhưng gia đình ông T không có ý định trả lại nên bà đã làm
đơn đề nghị Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc cũ giải
quyết, hòa giải. Quá trình giải quyết vụ việc tại Ủy ban ngày 09/01/2025 được
sự động viên, hòa giải của chính quyền địa phương nên bà đã đồng ý giữ nguyên
hiện trạng, khi nào bà xây nhà mới sẽ lấy lại phần đất gia đình ông T xây sang.
Biên bản trên cho bà về suy nghĩ trong thời hạn 10 ngày. Trong thời gian 10
ngày bà không đồng ý với ý kiến tại biên bản hòa giải ngày 09/01/2025 và yêu
cầu gia đình ông T phải tháo dỡ, phá bỏ các công trình xây sang để trả lại đất đã
lấn chiếm cho bà. Tuy nhiên, gia đình ông T không trả và bà đã khởi kiện đến
Tòa án đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Trung T phải tháo dỡ, phá bỏ mái tôn,
ống nước, sân gạch và mái nhà trên phần diện tích 2,9m
2
đất đã lấn chiếm sang
đất nhà bà, vị trí lấn chiếm có chiều cạnh cụ thể như sau: Phía Đông giáp đất gia
đình ông T có chiều dài 5,31m; phía Đông Bắc giáp đất ông L có chiều rộng
1,32m; phía Đông Nam giáp đất gia đình ông A, bà V có chiều rộng khoảng
0,65m để trả lại hiện trạng đất cho bà theo đúng mốc giới của thửa đất số: 889,
tờ bản đồ số: 36; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc
(Nay là phường V, tỉnh Phú Thọ) theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số
CA 060985 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (nay là tỉnh Phú Thọ) cấp
ngày 15/5/2015 đứng tên bà.
3
Nay qua đo đạc ngày 23/10/2025 thì trên thực tế vợ chồng ông T, bà T1
sử dụng lấn chiếm sang đất nhà bà diện tích 5,4m
2
ở vị trí đất phía sau giáp đất
nhà ông T, bà T1. Nay bà khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông T, bà T1 phải tháo
dỡ, phá bỏ, di dời phần mái tôn, sân gạch và phần nhà 02 tầng xây sang đất nhà
bà có diện tích 5,4m
2
thuộc thửa đất số: 889, tờ bản đồ số: 36; địa chỉ: Tổ dân
phố T, phường V, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn ông Nguyễn Trung T trình bày: Như ông đã trình bày trước đây ở
Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) vào ngày
09/01/2025, việc gia đình ông xây sang đất nhà bà D là do: Bà D xây nhà trước
gia đình ông (Bà D xây nhà vào khoảng năm 2015, gia đình ông xây nhà năm
2017). Thời điểm bà D xây nhà thì bà D có để lại một phần diện tích đất phía
giáp với đất của gia đình ông. Phần đất bà D để trống nên mưa gió, rác bẩn bay
về phía nhà ông nên gia đình ông có tận dụng bắn mái tôn bịt lại và lát sân gạch
để với mục đích sạch sẽ, tránh nước mưa hắt vào nhà. Nay bà D khởi kiện ông
đề nghị đo toàn bộ thửa đất ban đầu ông H, bà S mua của ông Hoàng Văn Đ, bà
Dương Thị T3 (Chủ đất cũ bán cho ông H, bà S, sau đó ông H, bà S bán lại đất
cho bà D). Nếu sau khi đo mà nhà ông xây lấn chiếm sang đất nhà bà D bao
nhiêu diện tích thì ông đồng ý tháo dỡ theo yêu cầu khởi kiện của bà D. Ngoài
ra, ông yêu cầu bà D không mở cửa sổ nhìn về phía đất của gia đình ông.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông T trình bày: Theo ông được biết trước đây vợ
chồng ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị S nhận chuyển nhượng đất của gia đình
ông Hoàng Văn D1, bà Dương Thị T3 với diện tích khoảng 160m
2
(sau đó ông
H, bà S chuyển nhượng lại cho ông T4 và bà D mỗi người một nửa đất). Do đất
phía sau bên phần chuyển nhượng cho ông T4 bị xéo nên ông và ông H có thống
nhất đổi đất cho nhau để cho vuông đất. Theo đó vị trí đất phía gia đình ông T4
(nay đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Vũ A, bà V) đang sử dụng có một
phần là đất của gia đình ông, còn gia đình ông sẽ được sử dụng phần đất của vợ
chồng ông H về phía đất của bà D. Việc thỏa thuận đổi đất giữa ông và ông H
chỉ bằng miệng, không có giấy tờ hay văn bản gì.
Nay, theo kết quả đo đạc của Tòa án thì hiện tại gia đình ông đang làm
một số công trình, tài sản sang đất của bà D với diện tích là 5,4m
2
. Ông không
có ý kiến gì về kết quả đo đạc trên, ông đề nghị được giữ nguyên hiện trạng như
gia đình ông đang sử dụng, phần đất của nhà bà D gia đình ông xây sang thì ông
đồng ý thanh toán tiền đất cho bà D theo giá đất do Hội đồng định giá ngày
23/10/2025 đưa ra. Về yêu cầu bà D không được mở cửa sổ nhìn về phía đất của
gia đình ông thì ông sẽ xem xét để khởi kiện bà D bằng một vụ kiện khác, ông
không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T1 trình bày: Bà là
vợ của ông Nguyễn Trung T. Bà được biết hiện tại bà Nguyễn Thị D đang làm
đơn khởi kiện vợ chồng bà xây lấn sang đất của bà D ở vị trí sau nhà bà D giáp
với đất nhà bà. Bà D xây nhà trước gia đình bà (Bà D xây nhà vào khoảng năm
2015), gia đình bà xây nhà năm 2017. Khi xây nhà bà D có để lại một phần diện
tích đất sau nhà chị D. Phần này để không, mưa gió, rác bẩn nên gia đình bà có
tận dụng bắn mái tôn bịt lại và lát gạch với mục đích sạch sẽ, tránh nước mưa
4
hắt vào nhà. Bà đề nghị đo toàn bộ thửa đất ban đầu ông H mua của ông Hoàng
Văn Đ, bà Dương Thị T3 (Chủ đất cũ thửa đất của bà D). Nếu sau khi đo mà nhà
bà xây lấn chiếm sang đất nhà bà D bao nhiêu diện tích thì bà đồng ý tháo dỡ
theo yêu cầu khởi kiện của bà D.
Người làm chứng:
- Ông Hoàng Xuân T2 trình bày: Ông là con trai của ông Hoàng Văn Đ,
sinh năm 1954 (chết năm 2001) và bà Dương Thị T3, sinh năm 1952 (chết năm
2009). Bố mẹ ông khi còn sống có tạo lập được một thửa đất có tổng diện tích
khoảng 600m
2
ở tổ dân phố T, phường V, tỉnh Phú Thọ. Sau đó bố mẹ ông có
chuyển nhượng một phần đất cho ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị S, sau đó ông
H và bà S chuyển nhượng một phần đất đã mua của bố mẹ ông cho bà Nguyễn
Thị D. Khi mua bán hai bên có cắm mốc giới, đo đạc và bàn giao hiện trạng hay
không thì ông không được biết. Do thửa đất bố mẹ ông đã chuyển nhượng từ lâu
cho bà D nên ông xác định không còn quyền và lợi ích gì liên quan đến thửa đất
trên. Hiện tại bà D và ông T, bà T1 xảy ra tranh chấp, ông xác định ai là chủ sở
hữu của thửa đất thì có quyền khởi kiện. Ông xác định gia đình ông không có
quyền lợi gì liên quan đến thửa đất đã chuyển nhượng cho ông H, bà S.
- Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị S trình bày: Về nguồn gốc thửa đất
chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị D trước đây là thửa đất số: 178A, tờ bản đồ
số: 36; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Phú Thọ có nguồn gốc là do ông
bà nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Văn Đ, bà Dương Thị T3 ở tổ dân phố
T, phường V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi nhận chuyển nhượng của ông Đ, bà T3 thì
vợ chồng ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông bà để đất
trống, không xây dựng công trình gì trên đất. Đến ngày 11/02/2015 vợ chồng
ông bà đã chuyển nhượng thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị D. Khi chuyển
nhượng thì vợ chồng ông bà và bà D có đến để chỉ hiện trạng, đo đạc và bàn
giao mốc giới, trên đất không có tài sản gì chỉ có tường bao loan cao khoảng
01m. Từ khi nhận chuyển nhượng đất từ ông Đ, bà T3 thì vợ chồng ông bà vẫn
quản lý, sử dụng không có tranh chấp với các hộ liền kề. Vợ chồng ông bà xác
định đã chuyển nhượng cho bà D nên thửa đất trên thuộc quyền sở hữu, sử dụng
của bà D, ông bà không còn quyền lợi gì liên quan. Nay giữa bà D và ông T, bà
T1 xảy ra tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất thì bà D có toàn quyền khởi
kiện đối với gia đình ông T, bà T1.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2026/DS-ST ngày
12/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D.
Buộc ông Nguyễn Trung T và bà Hoàng Thị T1 phải tháo dỡ, di dời phần
mái tôn, sân gạch, mái le bằng khung sắt, lợp ngói và bê tông cốt thép xây sang
thửa đất số: 889, tờ bản đồ số: 36; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Phú
Thọ để trả lại đất cho bà D có diện tích cụ thể như sau: Mái le nhà bằng khung
sắt, lợp ngói và bê tông cốt thép có diện tích 1,7m
2
; mái tôn có diện tích 4,3m
2
;
sân gạch có diện tích là 4,7m
2
.
5
- Giao cho ông Nguyễn Trung T và bà Hoàng Thị T1 quản lý, sử dụng
phần nhà 02 tầng diện tích 1,8m² đất trồng cây lâu năm xây lấn chiếm sang thửa
đất số: 889, tờ bản đồ số: 36; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Phú Thọ có
kích thước cụ thể như sau: Cạnh 3 - 4 = 0,19m; Cạnh 4 – 3B = 4,20m; cạnh 3B –
3A = 0,34m; Cạnh 3A – 3 = 4,16m.
(Có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
- Buộc ông Nguyễn Trung T và bà Hoàng Thị T1 liên đới thanh toán cho
bà Nguyễn Thị Duyên S1 tiền 18.000.000 đồng là giá trị quyền sử dụng đất đối
với diện tích 1,8m² bị lấn chiếm.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu
thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/6/2026, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D kháng cáo đề nghị sửa bản
án sơ thẩm.
Ngày 24/6/2026, bị đơn ông Nguyễn Trung T kháng cáo đề nghị hủy bản
án sơ thẩm.
Quá trình xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện, nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án phúc thẩm đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ,
quyết định đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và tiến hành
giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D, chấp nhận một
phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trung T. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm
29/2026/DS-ST ngày 12/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ theo
hướng ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về ranh giới giữa hai thửa đất và ông
T không phải thanh toán giá trị đất cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm
sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn nằm trong
thời hạn luật định. Việc thụ lý kháng cáo đúng quy định của pháp luật nên được
xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn kiện đòi bị đơn trả diện tích đất là
5,4m
2
của thửa đất số 889 tờ bản đồ số 36 tiếp giáp với thửa đất của bị đơn đang
quản lý, sử dụng là thửa đất số 659 tờ bản đồ 37 và buộc tháo dỡ các tài sản trên
đất. Vì vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ranh giới là quyền sử
dụng đất.
6
[3]. Về nội dung vụ án: Nguyên đơn kiện đòi bị đơn trả diện tích đất là
2,9m
2
của thửa đất số 889 tờ bản đồ số 36 tiếp giáp với thửa đất của bị đơn đang
quản lý, sử dụng là thửa đất số 659 tờ bản đồ 37 và buộc tháo dỡ các tài sản trên
đất tại tổ dân phố T, phường V, tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ
án tại cấp sơ thẩm, sau khi tiến hành đo đạc thì nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ
sung và yêu cầu bị đơn trả lại 5,4m
2
của thửa đất số 889 tờ bản đồ số 36 tiếp
giáp với thửa số 659 tờ bản đồ 37 được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6 trên
sơ đồ hiện trạng. Vì vậy, để xem xét giải quyết dứt điểm vụ án, cấp sơ thẩm xem
xét giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về việc đề nghị bị đơn trả lại 5,4m
2
phần
diện tích tiếp giáp với đất của bị đơn là có căn cứ.
Nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất trên thuộc thửa đất 889 tờ bản đồ
số 36 mà nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần diện
tích đất trên, khi nguyên đơn xây nhà đã để lại vì do thửa đất không vuông. Còn
bị đơn cho rằng, cần phải xác định mốc giới thửa đất của nguyên đơn từ đó mới
có căn cứ xác định có việc gia đình bị đơn xây lấn đất của nguyên đơn không.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn kháng cáo:
Nội dung kháng cáo nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm
theo hướng buộc bị đơn phải thanh toán giá trị 1,8m
2
đất mà bị đơn đã xây lấn
theo giá là 150.000.000đ, trường hợp bị đơn không trả thì buộc bị đơn phải tháo
dỡ di dời nhà 02 tầng để trả lại 1,8m
2
. Bị đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ
thẩm vì cấp sơ thẩm chưa làm rỗ mốc giới thửa đất của nguyên đơn. Hội đồng
xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[3.1]. Thửa đất số 889, tờ bản đồ số 36, diện tích 77,5m
2
được Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất ngày
15/5/2015 cho bà Nguyễn Thị D, có nguồn gốc là do bà D nhận chuyển nhượng
của ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị S vào ngày 11/02/2015.
Thửa đất số 659 tờ bản đồ 37, diện tích 230,5m
2
được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất ngày 26/9/2017 cho
ông Nguyễn Trung T. Nguồn gốc thửa đất trên được gộp từ hai thửa đất gồm
thửa đất số 474 tờ bản đồ 37 (của ông T) và thửa số 476 tờ bản đồ 37, do bà
Nguyễn Thị Hồng P tặng cho ông T; thửa số 474 tờ bản đồ 37 được UBND
thành phố V (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/01/2014 đứng
tên ông T, do được nhận tặng cho từ hộ ông Nguyễn Văn K; thửa số 476 tờ bản
đồ 37 được UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
14/01/2014 đứng tên bà Nguyễn Thị Hồng P.
Theo bản đồ địa chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được đối
chiếu với sơ đồ hiện trạng thì ban đầu thửa đất số 889 tờ bản đồ số 36 của
nguyên đơn tiếp giáp với thửa đất số 474 tờ bản đồ 37 của bị đơn, nay là thửa số
659 tờ bản đồ 37.
Qua lời khai của nguyên đơn, người làm chứng và sự thừa nhận của bị
đơn xác định: Năm 2015, nguyên đơn xây dựng ngôi nhà trên thửa đất số 889, tờ
bản đồ số 36 thì phía sau đất tiếp giáp với thửa đất của gia đình bị đơn có bức
tượng cao khoảng 01m của bị đơn để ngăn cách ranh giới giữa hai thửa đất. Khi
nguyên đơn xây dựng nhà đã xây không hết đất, để lại một phần đất trống phía
7
tiếp giáp với đất của bị đơn và có 01 bức tường ngăn cách với đất của bị đơn.
Năm 2017, gia đình bị đơn xây dựng nhà hai tầng như hiện nay thì đã phá bỏ
bức tường ngăn cách giữa hai thửa đất và xây dựng sân gạch, lợp mái… như
hiện trạng. Như vậy, xác định bị đơn đang quản lý, sử dụng một phần đất của
nguyên đơn về phía Đông Bắc của thửa đất.
Tại cấp phúc thẩm, bị đơn xác định khi bị đơn xây nhà năm 2017 đã phá
dỡ bức tường của nguyên đơn, là bức tường ngăn cách giữa hai thửa đất thì đã
đào cả móng của bức tường đó. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành thẩm định
xem xét đối với móng của bức tường để làm căn cứ xác định ranh giới hai thửa
đất.
Theo hiện trạng quyền sử dụng đất mà gia đình bị đơn đang quản lý, sử
dụng có diện tích là 237,1m
2
(bao gồm cả phần diện tích đất đang tranh chấp)
lớn hơn diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 6,6m
2
; Phần diện
tích đất mà nguyên đơn đang quản lý bao gồm cả ngôi nhà 02 tầng có diện tích
là 75,3m
2
nhỏ hơn 2,2m
2
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xác định phần cạnh ngôi nhà hướng
Đ đã xây hết đất và điểm “6” trong sơ đồ hiện trạng là mốc giới giữa hai thửa
đất; phần cạnh ngôi nhà hướng T xây chưa hết đất, còn thiếu về phía đất của bị
đơn là 0,7m, cách đầu đốc nhà là điểm “1” là 0,7m trên sơ đồ hiện trạng. Ranh
giới hai thửa đất là một đường thằng nối điểm “6” với điểm cách đầu đốc nhà
0,7m và được ông T và bà T1 xác nhận. Vì vậy, đây là tình tiết mới tại cấp phúc
thẩm nên cấp phúc thẩm sẽ sửa án sơ thẩm theo sự thừa nhận của các bên về xác
định ranh giới giữa hai thửa đất.
[3.2]. Nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bị đơn phải có nghĩa vụ tháo dỡ, di
dời toàn bộ công trình, tài sản xây lấn sang đất của nguyên đơn; bị đơn ông T đề
nghị được giữ nguyên hiện trạng gia đình ông đang sử dụng sang phần đất của
bà D, ông đồng ý thanh toán tiền đất cho bà D theo giá đất do Hội đồng định giá
ngày 23/10/2025 đưa ra. Việc ông T xây dựng công trình lấn sang phần đất của
bà D mà không được sự đồng ý của chủ sử dụng đất hợp pháp, làm hạn chế
quyền sử dụng đất của bà D được quy định tại Điều 26 Luật đất đai và vi phạm
về nghĩa vụ của người sử dụng đất được quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật đất
đai. Nên đề nghị của ông T không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Tuy nhiên, khi buộc ông T phải tháo dỡ các công trình xây lấn sang đất
của nguyên đơn thấy các công trình đã xây dựng gồm: Phần mái le bằng khung
sắt lợp ngói và bê tông cốt thép; phần sân gạch. Đây là các công trình phụ trợ do
gia đình ông Tư tự lắp dựng, làm từ năm 2017 với mục đích che chắn, chống
nước mưa và giữ gìn vệ sinh khu vực giáp ranh giữa hai gia đình. Kết cấu mái
tôn đơn giản, độc lập với công trình nhà chính và có thể tháo dỡ, di dời được mà
không ảnh hưởng đến kết cấu, công năng sử dụng của cả ngôi nhà của gia đình
ông T. Do đó, cần buộc ông T, bà T1 tháo dỡ, di dời phần mái tôn, phần mái le
và sân gạch này để trả lại hiện trạng quyền sử dụng đất cho bà D.
[3.3]. Do xác định ngôi nhà 02 tầng của bị đơn không xây dựng lên phần
đất của bà D nên không phải giao đất của bà D cho nguyên đơn quản lý, sử dụng
8
và nguyên đơn không phải thanh toán giá trị đất cho nguyên đơn nên phần nội
dung kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận.
[4]. Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa Bản
án sơ thẩm.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định.
Án phí dân sự phúc thẩm: Mặc dù không chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn nhưng do sửa án sơ thẩm nên nguyên đơn và bị đơn không phải chịu án phí
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D, chấp nhận
kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trung T.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 29/2026/DS-ST ngày 12/6/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ.
Căn cứ Điều 26, 31 và Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; các Điều 175,
176, 579, 585, 357 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 147, 157, 165 Bộ luật tố
tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D.
Buộc ông Nguyễn Trung T và bà Hoàng Thị T1 phải tháo dỡ, di dời các
công trình trên đất được giới hạn bởi mốc giới 1,2,2A,6,1 để trả lại 1,9m
2
đất
thuộc thửa đất số 889, tờ bản đồ số: 36; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh
Phú Thọ cho bà Nguyễn Thị D.
Xác định ranh giới giữa thửa đất số 889 tờ bản đồ 36 đứng tên bà Nguyễn
Thị D và thửa đất số 659 tờ bản đồ 37 đứng tên ông Nguyễn Trung T là đoạn
thẳng được giới hạn bởi các mốc giới 2A,6 trên sơ đồ hiện trạng.
(Có sơ đồ kèm theo).
2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Trung T và bà Hoàng Thị T1 phải trả
cho bà Nguyễn Thị D 6.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định và định giá.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà
Duyên số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.450.000 đồng theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí số: 0006601 ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án
dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thi hành án dân sự tỉnh Phú
Thọ).
9
- Ông Nguyễn Trung T và bà Hoàng Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án
phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu tranh chấp ranh giới
quyền sử dụng đất.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Trung T không phải chịu, hoàn trả cho
bà D, ông T mỗi người 300.000đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tương
ứng với biên lai thu số 0006171 ngày 24/6/2026 và số 0006296 ngày 26/6/2026
của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
4. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7,
8, 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui
định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 9 - Phú Thọ;
- VKSND khu vực 9 - Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ (Phòng THADS
khu vực 9 - Phú Thọ);
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Nghĩa
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 295/2026/DS-PT Bản án số 295/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 295/2026/DS-PT Bản án số 295/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất