Bản án số 951/2026/HS-PT ngày 30/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 951/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 951/2026/HS-PT ngày 30/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 951/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên BAST
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 951/2026/HS-PT Bản án số 951/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 951/2026/HS-PT Bản án số 951/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Ch ta phiên ta: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm;
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2026, ti trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh (Cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số
836/2026/TLPT-HS ngày 21 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo Tống Xuân T, do
có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 390/2026/HS-ST ngày
11 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo: Tống Xuân T, sinh năm 1979 ti tỉnh Thanh Hóa;
thường trú: D khu phố B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao
động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc:
Kinh; tôn giáo: Không; con ông Tống Xuân D, đã chết và bà Lê Thị M, đã chết;
bị cáo có vợ tên Vũ Thị L, sinh năm 1979 và có 03 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ
sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 30/9/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình
Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh) xử pht 04
tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bc” theo Bản án số
323/2016/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình pht bổ sung và án phí vào ngày
31/7/2017.
Bị cáo bị bắt tm giam từ ngày 11/8/2026 cho đến nay. Bị cáo có mặt ti
phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng V - Luật sư Công ty
L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 951/2026/HS-PT
Ngày 30-9-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hi; 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Toà án
không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến ti phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Tống Xuân T có thời gian làm việc ti bãi xe G, địa chỉ: Đường B, khu phố
B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh là bãi đỗ xe của Công ty TNHH T2, địa
chỉ: Số D, đường số G, tổ F, khu phố E, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh do
ông Lê An H làm Giám đốc, là người đi diện theo pháp luật (chủ sở hữu Công
ty là ông Vũ Trường H1, là em vợ của T). Quá trình làm việc, T biết được bãi xe
không có bảo vệ trông coi, quản lý tài sản, do đó T nảy sinh ý định trộm cắp xe ô
tô tải ti bãi đỗ xe để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Thực hiện ý định trên, khoảng 02 giờ 20 phút ngày 15/3/2026, T đi bộ từ
nhà, địa chỉ: Số D, khu phố B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh đến bãi xe Gò
Chai. Khi đến bãi xe, T đi ven theo bờ rào bãi nhằm mục đích tránh camera ghi
hình rồi lén lút đột nhập vào bên trong bãi xe. Ti đây, T mở cửa xe ô tô tải gắn
cẩu biển số 57K-5125 leo lên cabin, do có cắm sẵn chìa khóa nên T khởi động nổ
máy rồi điều khiển xe chy ra khỏi bãi xe Gò C đi tìm nơi cất giấu. T điều khiển
xe ô tô tải gắn cẩu biển số 57K-5125 đi hướng đường M - T đến bãi xe Phương
N, địa chỉ: Số A, đường M - T, khu phố G, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh
của ông Nguyễn Đức H2 gửi xe trên.
Khoảng 08 giờ ngày 15/3/2026, ông Vũ T1 H1 đến bãi xe thì không thấy
xe ô tô tải gắn cẩu biển số 57K-5125 nên kiểm tra camera an ninh ti bãi xe, phát
hiện có đối tượng (đội mũ lưỡi trai, bịt khẩu trang che mặt) lén lút đi vào bên
trong bãi xe rồi chiếm đot điều khiển xe ô tô tải gắn cẩu biển số 57K-5125 đi nên
ông H1 báo cho ông Lê An H biết. Nhận được tin báo của ông H1, ông H đến
Công an phường B trình báo vụ việc.
Ngày 17/3/2026, T đi đến Công an phường B đầu thú về hành vi phm tội,
Cơ quan điều tra thu giữ xe ô tô tải có gắn cẩu, biển số 57K-5125 theo chỉ dẫn
của T.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc xe ô tô tải có gắn cẩu, biển số 57K-5125,
số máy: W04DB-49043, số khung: FC114S-11379, nhãn hiệu: Hino, loi xe: gắn
cẩu.
Ti Bản Kết luận định giá tài sản số: 08/KL-HĐĐGTS ngày 16/4/2026 của
Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự phường B, Thành phố Hồ Chí
Minh, kết luận “01 (một) chiếc xe ô tô tải có gắn cẩu, biển số 57K-5125, số máy:
W04DB-49043, số khung: FC114S-11379, nhãn hiệu: Hino, loi xe: gắn cẩu, năm
sản xuất: 2003, niên hn sử dụng: 2028, đã qua sử dụng, ti thời điểm định giá
ngày 15/3/2026 có trị giá là 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng).
3
Ti Cáo trng số 239/CT-VKS-KV16 ngày 22 tháng 7 năm 2026 của Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Tống Xuân
T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định ti khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ti Bản án hình sự sơ thẩm số 390/2026/HS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Tống Xuân T phm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025);
Xử pht bị cáo Tống Xuân T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm
cắp tài sản”. Thời hn chấp hành hình pht tù tính từ ngày 11/8/2026.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình pht.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
ta trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Về thời hn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hn luật định
nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục
phúc thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định ti các Điều 331, 333 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo: hành vi của bị cáo Tống Xuân T thực
hiện đã xâm phm quyền sở hữu tài sản của bị hi được pháp luật bảo vệ, gây mất
trật tự trị an ti địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi
chiếm đot tài sản của người khác là vi phm pháp luật, nhưng vì muốn nhanh
chóng có tiền sử dụng cho bản thân mà bị cáo đã cố tình thực hiện tội phm với
trị giá tài sản chiếm đot là 46.000.000 đồng. Đồng thời, năm 2016, bị cáo từng
bị xét xử về tội “Đánh bc” nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ
và hành vi phm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo tuyên mức hình pht 01 năm 03 tháng tù
là không nặng. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ để xem xét.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều
356 của Bộ luật Hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tống
Xuân T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 390/2026/HS-ST ngày 11 tháng 8
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người bào chữa cho bị cáo trình bày bài bào chữa có nội dung: Thống
nhất tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo
có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo phm tội lần đầu thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã
thu hồi trả li cho bị hi; ngoài ra, bị cáo có cha là người có công với cách mng,
bị cáo mặc dù đã có nhân thân nhưng đã được xóa án tích; bị cáo không có tình
tiết tăng nặng, đủ điều kiện được áp dụng hình pht cải to không giam giữ. Do
4
đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển hình pht
sang cải to không giam giữ cho bị cáo.
* Bị cáo không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận
kháng cáo cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng ti phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hn luật định nên
đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: ti phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phm tội như nội
dung bản án sơ thẩm, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ 20 phút ngày
15/3/2026, ti bãi xe G, địa chỉ: đường B, khu phố B, phường B, Thành phố Hồ
Chí Minh, bị cáo Tống Xuân T đã có hành vi lén lút chiếm đot 01 (một) chiếc xe
ô tô tải có gắn cẩu, biển số 57K-5125, số máy: W04DB-49043, số khung:
FC114S-11379, nhãn hiệu: Hino, loi xe: gắn cẩu, trị giá 46.000.000 đồng của
Công ty TNHH T2. Hành vi của bị cáo Tống Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội
“Trộm cắp tài sản” quy định ti khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Tống Xuân T về
tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm
đã đánh giá tính chất, mức độ phm tội và xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tài sản bị cáo chiếm đot có giá trị lớn; bị
cáo là người có nhân thân, đã từng bị xét xử về hành vi phm tội khác nhưng
không lấy đó làm bài học để rèn luyện thành công dân tốt mà li thực hiện hành
vi phm tội mới, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật còn hn chế. Hành vi của bị
cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phm đến quyền sở hữu
tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ti địa phương.
Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết mới bổ sung cho yêu cầu
kháng cáo của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình pht cấp sơ thẩm
đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng, đảm bảo tính răn đe đối với bị
cáo và phòng ngừa, giáo dục chung trong xã hội. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra
khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thể sửa chữa bản thân và đảm bảo công tác
phòng ngừa tội phm. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
[4] Đi diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không
chấp nhận kháng cáo của bị cáo là cùng quan điểm với Hội đồng xét xử nên chấp
nhận.
5
[5] Người bào chữa cho bị cáo đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo,
chuyển hình pht sang cải to không giam giữ cho bị cáo là chưa đủ căn cứ nên
không chấp nhận.
[6] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hn kháng cáo, kháng
nghị.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp
nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tống Xuân T. Giữ nguyên Bản án
hình sự sơ thẩm số 390/2026/HS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều
38 của Bộ luật Hình sự;
Xử pht bị cáo Tống Xuân T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm
cắp tài sản”. Thời hn chấp hành hình pht tù tính từ ngày 11/8/2026.
2. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội
Bị cáo Tống Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Phòng Hồ sơ - Công an TP.HCM;
- TAND khu vực 16 - TP.HCM;
- VKSND khu vực 16 - TP.HCM;
- Tri tm giam Bố Lá (Cơ sở 1);
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Phòng THADS khu vực 16 - TP.HCM;
- Lưu hồ sơ vụ án, VP, 25. (54)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huỳnh Đức
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 951/2026/HS-PT Bản án số 951/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 951/2026/HS-PT Bản án số 951/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất