Bản án số 911/2026/HS-PT ngày 28/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 911/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 911/2026/HS-PT ngày 28/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 911/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cưỡng đoạt tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 911/2026/HS-PT Bản án số 911/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 911/2026/HS-PT Bản án số 911/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 911/2026/HS-PT
Ngày 28-9-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Trịnh Hoàng Anh
Ông Hoàng Trí Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Đài Trang – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 779/2026/TLPT-HS ngày 03
tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Sơn T do có kháng cáo của bị cáo đối
với Bản án hình sự sơ thẩm số 207/2026/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Sơn T, sinh năm 1968 tại tỉnh Long An. Căn cước công dân số:
************ do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày
10/7/2023; nơi thường trú: số 120/1/2a Đ, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh
(xóa khẩu ngày 26/4/2024); chỗ ở hiện nay: khu phố H, phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N
(đã chết) và bà Triệu Thị H, sinh năm 1949; có vợ là Nguyễn Thị T1 (đã ly hôn)
và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1999.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại bản án số 43/2011/HS-PT ngày 24/3/2011 của Tòa án nhân
dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T 03 tháng tù về tội
“Bắt người trái pháp luật” và 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp
hình phạt, T phải chấp hành 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử
thách 28 tháng 02 ngày, thời hạn tính từ ngày tuyên án.
Bị cáo bị bắt từ ngày 25/02/2025, tạm giam tại Trại tạm giam số 01, Công
an Thành phố H (bị cáo có mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 9/2023, Trần Văn C – đang là bị can trong vụ án “Đánh
bạc” xảy ra tại khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) và đang chờ Tòa án đưa ra xét xử. Trong thời
gian chờ xét xử, C muốn xin được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo
đối với hành vi “Đánh bạc” nêu trên nên C đã liên hệ với Nguyễn Sơn T để nhờ T
tìm cách liên hệ với cá nhân, tổ chức có thẩm quyền giúp C được hưởng án treo.
Mặc dù không quen biết với cá nhân, tổ chức có thẩm quyền để giúp cho C nhưng
T vẫn đồng ý và hứa hẹn với C sẽ liên hệ giúp. Sau đó, T nói với Trần Văn T2 nhờ
T2 liên hệ giúp cho C, T2 cũng không có khả năng liên hệ với cá nhân, tổ chức có
thẩm quyền để làm theo yêu cầu của C nhưng vẫn đồng ý rồi nói với Lê Thị Ngọc
Đ – người quen của T2, là người có nhiều mối quan hệ với những người làm việc
tại cơ quan nhà nước, T2 nhờ Đ giúp C, Đ đồng ý. T, T2, Đ và Lê Tấn P đã nhiều
lần gặp nhau tại quán C2 ơ xã C, Thành phố Hồ Chí Minh để bàn bạc về việc giúp
C “chạy án”. Sau khi bàn bạc xong, Đ đã liên hệ với Đoàn Minh T3 để nhờ T3
giúp cho C, T3 nói với Đ rằng phải có giấy tờ liên quan đến người này thì mới
xem xét được.
Ngày 18/9/2023, Đ, T2, T3 và P đi nhậu tại quán N1 ơ phường H, thị xã P,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại đây, Đ
trao đổi với T3 về việc giúp cho C được hưởng án treo, sau đó Đ nhờ T2 chạy về
nhà Đ lấy Cáo trạng của C đã đưa trước đó, mang đến quán nhậu cho T3 xem. Một
lúc sau, T2 mang Cáo trạng đến cho T3 xem, T3 đọc Cáo trạng thấy ghi Cần có
nhân thân xấu (trước đây đã bị xử lý về hành vi Đánh bạc) nên T3 nói với Đẹp
trường hợp của C không xin được án treo. Đ nói với T3 là C bị bệnh nặng, muốn
được ở nhà nên T3 nói nếu có bệnh thì phải có hồ sơ bệnh án thì mới giúp được.
Sau đó, cả nhóm ngồi nhậu được một lúc thì ra về.
Đến ngày 22/9/2023, Đ và T2 bàn bạc thống nhất, thông báo cho T giá để
“chạy án treo” cho C là 400.000.000 đồng, T báo lại cho C nhưng C không đồng ý,
C nói với T chỉ lo được 300.000.000 đồng, T báo lại với T2 là C chỉ lo được
250.000.000 đồng, T2 báo lại với Đ. T2 và Đ đồng ý giá “chạy án treo” cho C với
giá 250.000.000 đồng. Sau đó, C đã nhờ bà Đỗ Thị T4 – là vợ của C, chuyển
khoản cho T số tiền 300.000.000 đồng.
Ngày 23/9/2023, T liên hệ và hẹn T2 đến nhà T tại xã C, Thành phố Hồ Chí
Minh để nhận tiền. Lúc này, Đ, T2, P ngồi với nhau tại quán cà phê, do trời mưa
nên Đ nhờ P thuê xe ô tô rồi cả ba người cùng đi xe ô tô đến nhà T. P không biết
việc Đ và T2 đến nhà T để lấy tiền “chạy án treo” cho C. Khi đến nhà T, Đ và P
ngồi trên xe, một mình T2 đi vào nhà gặp T để nhận tiền nhưng T yêu cầu T2 nhận
3
tiền bằng hình thức chuyển khoản, T2 đi ra xe ô tô hỏi Đ để lấy số tài khoản, Đ
không có số tài khoản nên nhờ P cho mượn số tài khoản để T2 nhận tiền, P đồng ý
nên cung cấp số tài khoản của P cho T2. Trước khi T chuyển khoản thì T nói với
T2 cho T xin 10.000.000 đồng chi phí đi lại, T2 báo lại với Đ, Đ đồng ý nên T
chuyển khoản cho T2 qua số tài khoản của P số tiền 240.000.000 đồng. T yêu cầu
T2 phải viết giấy nhận nợ để xác nhận đã nhận số tiền 240.000.000 đồng, T2 đồng
ý, viết “giấy mượn tiền” đưa cho T.
Sau đó, T2 lên xe ô tô về cùng với P và Đ, trên xe Đ đưa cho P số tài khoản
của T3 và nói: “chuyển vào tài khoản của bạn chị một trăm triệu”, P làm theo yêu
cầu của Đ. Khi P chuyển tiền xong thì T3 gọi lại cho Đ hỏi “sao chuyển cho tao
nhiều vậy?”, Đ nói: “cứ lo cho em nó đi” (ý là lo chạy án treo cho C), T3 trả lời:
“vậy để tao xem”, còn nhóm Đ cùng nhau đi về quán H1 tại xã C, Thành phố Hồ
Chí Minh để nhậu. Tại đây, P nói với T2, Đ “để em đi rút tiền mặt về đưa cho anh
chị”, T2 không nói gì, Đ đồng ý nói P đi rút tiền. Khoảng 15 phút sau, P đi rút số
tiền 140.000.000 đồng về đưa cho Đ. Thấy Đ và T2 có tiền nên P hỏi vay
40.000.000 đồng của T2 và Đ. Cả hai đồng ý cho P vay tiền, số tiền còn lại Đ đưa
cho T2 50.000.000 đồng, còn Đ cầm 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận
tiền của C, nhóm T, T2, Đ và T3 không liên hệ với cá nhân, tổ chức có thẩm quyền
để giúp cho C mà chia nhau tiêu xài hết số tiền trên.
Ngày 02/10/2023, T3 xem lại Cáo trạng thì thấy C có nhân thân xấu, khó có
khả năng được án treo nên báo lại cho Đ là không giúp C được hưởng án treo, Đ
báo lại cho T2 việc T3 không giúp được cho C, yêu cầu T2 đưa số tài khoản để T3
chuyển tiền trả lại. T2 đưa số tài khoản cho Đ, Đ đưa lại cho T3 nhưng T3 chỉ
chuyển trả số tiền 20.000.000 đồng đến tài khoản của T2, số tiền 80.000.000 đồng
còn lại thì T3 vẫn giữ và sử dụng vào mục đích cá nhân. Khi T2 nhận được tiền, Đ
mượn lại của T2 5.000.000 đồng, còn 15.000.000 đồng Thanh giữ lại. Mặc dù đã
biết không thể giúp cho C được hưởng án treo nhưng T2, Đ và T3 vẫn không trả
lại tiền cho C mà giữ lại tiêu xài cá nhân.
Đến ngày 30/10/2023, Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ đưa vụ án ra xét xử
và tuyên phạt Trần Văn C 03 năm tù về tội “Đánh bạc”. Lúc này, C yêu cầu T trả
lại tiền, T yêu cầu T2, Đ phải trả lại tiền để T trả cho C nhưng T2, Đ chưa có tiền
để trả ngay nên đã hẹn với T sẽ gom tiền lại để trả. T đã ứng tiền của T ra trả lại
cho C 300.000.000 đồng.
Ngày 07/11/2023, T2 góp 30.000.000 đồng, Đ góp 20.000.000 đồng đưa
cho P để P chuyển khoản 90.000.000 đồng cho T (Trong đó có 40.000.000 đồng
mà P vay của T2, Đ). Do trước đó T2 đã nhiều lần đưa cho T tổng số tiền
25.000.000 đồng nên T2 cấn trừ với T, tổng cộng ngày 07/11/2023 T2, Đ, P đã trả
cho T số tiền 115.000.000 đồng. Đối với số tiền còn lại, T2 hẹn T đến ngày
20/11/2023 sẽ trả đủ nhưng đến hẹn thì T2, Đ chưa gom đủ tiền để trả cho T nên
T2 tiếp tục hẹn T ngày 20/11/2023 sẽ trả số tiền còn lại. Đến ngày 22/11/2023, T2
4
mang theo số tiền 125.000.000 đồng và đi cùng Đ, P đến quán C2 để trả tiền cho
T. Tuy nhiên, khi T2 đưa tiền thì T không đồng ý nhận mà có hành vi chửi bới, đe
dọa T2 phải trả thêm số tiền 100.000.000 đồng (tiền phạt), nếu T2 không chịu đưa
tiền theo yêu cầu trên của T thì T sẽ làm đơn tố giác vụ việc “chạy án” đến Cơ
quan Công an. T2 sợ T làm đơn tố giác đến Cơ quan Công an, phải ở tù nên T2
chấp nhận yêu cầu của T nhưng do T2 không có đủ tiền ngay nên đã đưa trước cho
T 100.000.000 đồng, T yêu cầu T2 xác nhận số tiền nợ còn lại là 125.000.000
đồng bằng việc viết “Giấy thoả thuận” đề ngày 20/10/2023 với nội dung: T2 xác
nhận nợ T số tiền 125.000.000 đồng, do lo việc của C không hoàn thành, T2 phải
viết giấy bán nhà và đất cho T, cam kết đến ngày 20/12/2023 nếu không trả đủ tiền
thì thửa đất và căn nhà của T2 sẽ thuộc về T. Đồng thời, T yêu cầu T2 phải viết
thêm “Giấy chuyển nhượng đất và nhà” đối với thửa đất số 1022, tờ bản đồ số
7,11, diện tích 134,2m
2
tại phường K, thành phố B cho T để làm tin và đưa cho T
giữ toàn bộ giấy tờ mua bán đất của T2 và ông Đinh Văn B và bà Trần Thị Kim
C1 (chủ cũ của thửa đất).
Do Đ không có tiền trả lại cho T2, cùng với việc T2 bị T ép nhận phạt thêm
100.000.000 đồng, phải thế chấp nhà và đất cho T nên T2 yêu cầu Đ phải chịu
cùng mình 60.000.000 đồng, Đ đồng ý ký tên vào “Giấy nhận nợ” của T2 số tiền
này. Tuy nhiên, T2, Đ vẫn không có đủ tiền để trả cho T như thỏa thuận nên T đã
lấy đất và nhà của T2, không cho T2 ở tại căn nhà trên thửa đất nêu trên tại
phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Thành phố Hồ Chí Minh).
Sau đó, T bán nhà và thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị Thanh T5 với giá
125.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 207/2026/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s
khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn
T 09 (chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 04 (bốn) năm 06 (sáu)
tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung xử phạt
bị cáo 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày 25/02/2025.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên hình phạt tội danh của các bị cáo khác, biện
pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 28/7/2026, bị cáo Nguyễn Sơn T có đơn kháng cáo xin xem xét tội
danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xin giảm nhẹ hình phạt đối với tội Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
5
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Bị cáo có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét
theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên toà bị cáo xác định kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, còn tội “Cưỡng đoạt tài sản” bị cáo
không kháng cáo; xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T 09
(chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản
3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị
cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới đủ căn cứ để được giảm nhẹ
hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355,
Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
5. Bị cáo không tranh luận gì thêm, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho
bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Sơn T làm và gửi trong
thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự
phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình
phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được
thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:
Vào khoảng tháng 9/2023 tại thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), Trần Văn C là bị can trong vụ án “Đánh
bạc”, trong thời gian đang chờ TAND thị xã Phú Mỹ đưa vụ án ra xét xử, C có
mong muốn được “hưởng án treo” nên ngày 23/9/2023 C đã đưa cho Nguyễn Sơn
T số tiền 300.000.000 đồng để T liên hệ với người có chức vụ, quyền hạn tác động
cho C được hưởng án treo.
Mặc dù không có khả năng để liên hệ với cá nhân, tổ chức làm theo yêu cầu
của Trần Văn C nhưng Nguyễn Sơn T, Lê Thị Ngọc Đ, Trần Văn T2, Đoàn Minh
T3, Lê Tấn P vẫn đưa ra thông tin gian dối, hứa hẹn sẽ làm theo yêu cầu của C để
C đưa tiền, rồi chia nhau tiêu xài cá nhân.
6
Sau khi yêu cầu của C không thực hiện được, T, Đ, T2, T3 và P đã gom lại
tiền, trả nhiều đợt cho C. Đến ngày 22/11/2023 khi T2 trả số tiền còn lại là
125.000.000 đồng cho T (để thanh toán hết số tiền 240.000.000 đồng mà T2 đã
nhận của T) thì T không đồng ý nhận mà yêu cầu T2 phải đưa thêm cho T số tiền
100.000.000 đồng, nếu T2 không đưa thì T sẽ làm đơn tố giác đến Cơ quan Công
an. Do bị T đe doạ làm đơn tố giác đến Cơ quan Công an nên T2 phải chấp nhận
đưa thêm cho T 100.000.000 đồng, còn lại 125.000.000 đồng, T2 phải viết giấy
nhận nợ và chuyển nhượng nhà, đất (thuộc một phần thửa 1022 tờ bản đồ số 7, 11
tọa lạc tại phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - nay là phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh) cho T, sau đó T chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị
Thanh T5 lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Như vậy: Tổng số tiền Trần Văn C đưa hối lộ là 300.000.000 đồng; tổng số
tiền Nguyễn Sơn T đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của Trần Văn C là
300.000.000 đồng; tổng số tiền Nguyễn Sơn T đã cưỡng đoạt của Trần Văn T2 là
100.000.000 đồng; tổng số tiền Trần Văn T2, Lê Thị Ngọc Đ, Lê Tấn P đã dùng
thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của Trần Văn C là 250.000.000 đồng; tổng số tiền
Đoàn Minh T3 đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của Trần Văn C là
100.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị
cáo với các tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về kháng cáo xin xem xét tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và xin
giảm nhẹ hình phạt đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bị cáo cho rằng mình không bàn bạc, đồng phạm với các bị cáo khác nên
xin xem xét tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cho bị cáo; tại phiên toà phúc
thẩm bị cáo đã nhận ra hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của mình
và bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; như đã phân tích
nêu trên thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm
đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu
đến trật tự xã hội địa phương. Toà án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét toàn
diện hành vi của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn,
hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả theo điểm b, s khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự cho bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T 09 (chín) năm tù về tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 và 04 (bốn) năm 06
(sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật
7
Hình sự là đúng người, đúng tội. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không cung cấp
thêm tài liệu, chứng cứ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp
nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Sơn T; giữ nguyên Bản
án hình sự sơ thẩm số 207/2026/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 12 Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s
khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn
T 09 (chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 04 (bốn) năm 06 (sáu)
tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình
phạt chung cho cả 2 tội là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày 25/02/2025.
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 207/2026/HS-ST
ngày 22 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 Thành phố Hồ Chí
Minh không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Sơn T phải nộp 200.000đ (hai
trăm nghìn đồng).
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hồ Chí Minh;
- Công an TP Hồ Chí Minh;
- Tòa án nhân dân khu vực 12;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12;
- Bị cáo;
- Lưu VT, Tòa HS, hồ sơ vụ án. (59)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Hiếu
8
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN
Hoàng Trí Thức Trịnh Hoàng
Anh
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Hiếu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 911/2026/HS-PT Bản án số 911/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 911/2026/HS-PT Bản án số 911/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất