Bản án số 296/2026/DS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 296/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 296/2026/DS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 296/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H - Bùi Đức H tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 296/2026/DS-PT Bản án số 296/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 296/2026/DS-PT Bản án số 296/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 296/2026/DS-PT
Ngày 25 - 9 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
và tiền bồi thường tài sản trên đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Thị Kim Anh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 25 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
176/2026/TLPT-DS ngày 14 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất và tiền bồi thường tài sản trên đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số:
14/2026/DS-ST ngày 19/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ bị
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 246/2026/QĐ-
PT ngày 14/8/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1990; số căn cước công dân:
************; địa chỉ: Thôn Q (nay là P), xã B, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Bùi Đức H1, sinh năm 1947, số căn cước công dân:
************ và bà Phạm Thị V, sinh năm 1956, số căn cước công dân:
************;
Người đại diện hợp pháp của ông Bùi Đức H1 và bà Phạm Thị V: Anh
Bùi Mạnh H2, sinh năm 1979, số căn cước công dân: ************ – Là người
đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 17/8/2022) (vắng mặt);
Đều có địa chỉ: Thôn Q (nay là P), xã B, tỉnh Phú Thọ;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Thái Thị N, sinh năm 1965;
3.2. Anh Phạm Văn N1, sinh năm 1984;
Đều trú tại: Thôn Q (nay là P), xã B, tỉnh Phú Thọ.
2
3.3. Chị Phạm Thị H3, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Q, xã T, tỉnh Phú
Thọ.
Người đại diện hợp pháp của bà Thái Thị N, anh Phạm Văn N1, chị Phạm
Thị H3 là: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Q (nay là P), xã B,
tỉnh Phú Thọ - Là người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản uỷ quyền ngày
27/01/2021 và 13/02/2023 ) (có mặt).
3.4. Ông Đặng Vĩnh T, sinh năm 1965 (vắng mặt);
3.5. Bà Bùi Thị P, sinh năm 1968;
3.6. Anh Đặng Vĩnh T1, sinh năm 1993;
Cùng địa chỉ: Thôn Q (nay là P), xã B, tỉnh Phú Thọ.
3.7. Chị Đặng Thị Như C, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Phú
Thọ.
3.8. Chị Đặng Thị N2, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, tỉnh Phú
Thọ.
Người đại diện hợp pháp của bà Bùi Thị P, anh Đặng Vĩnh T1, chị Đặng
Thị Như C, chị Đặng Thị N2 là: Ông Đặng Vĩnh T, sinh năm 1965; địa chỉ:
Thôn Q (nay là P), xã B, tỉnh Phú Thọ - Là người đại diện theo ủy quyền (Theo
văn bản uỷ quyền ngày 13/02/2023 và 12/4/2023) (vắng mặt).
3.9. Anh Bùi Mạnh H4, sinh năm 1984;
3.10. Anh Bùi Anh D, sinh năm 1985;
Cùng địa chỉ: Thôn Q (nay là P), xã B, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện hợp pháp của anh Bùi Mạnh H4 và anh Bùi Anh D là: Anh
Bùi Mạnh H2, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Q (nay là P), xã B, tỉnh Phú Thọ -
Là người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản uỷ quyền ngày 21/4/2023) (vắng
mặt);
3.11. Công ty cổ phần K4; địa chỉ: Số A đường M, phường V, tỉnh Phú
Thọ;
Người đại diện hợp pháp: Ông Văn Hoàng L – Phó Giám đốc công ty cổ
phần K4 (Là đại diện theo ủy quyền) (vắng mặt).
3.12. Công ty TNHH Một thành viên H13; địa chỉ: S, đô thị chùa H14,
phường V, tỉnh Phú Thọ;
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Công H5 – Giám đốc (Là đại diện
theo pháp luật) (vắng mặt).
3.13. Công ty cổ phần X; địa chỉ: Thôn L, xã B, tỉnh Phú Thọ;
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H6 – Chủ tịch Hội đồng quản
trị (Là đại diện theo pháp luật) (vắng mặt).
3.14. Ban Q, tỉnh Phú Thọ; địa chỉ: Số C đường N, phường V, tỉnh Phú
Thọ;
3
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Vũ P1 – Phó giám đốc Ban Q, tỉnh
Phú Thọ (Là đại diện theo ủy quyền) (vắng mặt).
3.15. UBND xã B, tỉnh Phú Thọ; địa chỉ: Thôn C, xã B, tỉnh Phú Thọ;
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần A – Chủ tịch UBND xã B (Là đại
diện theo pháp luật) (vắng mặt);
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn Q, xã B, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt).
4.2. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn Q, xã B, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt).
4.3. Anh Phạm Xuân K, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Q, xã B, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt).
4.4. Ông Dương Công T4, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Q, xã B, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt).
4.5. Ông Hoàng Thanh B, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn Q, xã B, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt).
4.6. Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1952; địa chỉ: Thôn Q, xã B, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt).
5. Người kháng cáo: Anh Phạm Văn H – Là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 6 năm 2022 và các lời khai tiếp
theo, nguyên đơn anh Phạm Văn H trình bày: Năm 1993 theo chính sách giao
đất cho nhân dân của Hợp tác xã Thiện Kế, gia đình anh được Hợp tác xã T11,
huyện T (cũ) giao cho 03 thửa đất để trồng trọt, gồm thửa đất 51.1 và 02 thửa
đất không ghi số thửa; có ghi tên “T5” (tên bố anh) trên bản đồ tại vị trí thửa
51.1, tại tờ bản đồ số 02 lập năm 1999, bản đồ 299 có địa chỉ thôn P, xã T,
huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Thửa 51.1 không ghi diện tích nhưng thực tế sử dụng
khoảng 4.500m
2
, 02 thửa còn lại có ghi diện tích 72m
2
. Tổng diện tích thực tế 03
thửa gia đình anh sử dụng là 4.650m
2
. Gia đình anh sử dụng từ trước năm 1987
cho đến 2022. Thời điểm năm 1999, do 02 hộ liền kề thửa đất của gia đình
không sử dụng đến nên gia đình anh đã sử dụng thửa số 51.2 và 51.3. Toàn bộ
phần đất gồm có 05 thửa ruộng trên được gia đình anh sử dụng và lập bờ ngăn
cách xung quanh và sáp nhập thành 01 thửa tổng diện tích 5172m
2
(căn cứ theo
bản đồ đo đạc năm 2007 tại thửa đất số 20). Thửa đất 51.1 của gia đình anh chưa
được cấp sổ đỏ do thiếu diện tích trên bản đồ 299 tại thời điểm cấp sổ cho nên
Hợp tác xã đã để cấp sau. Tuy nhiên, gia đình vẫn nộp thuế hàng năm theo quy
định của Nhà nước. Năm 2007, gia đình trồng cây lâu năm để giữ đất, cụ thể
khoảng 600 cây mít thái, 100 gốc sắn. Năm 2013, bố anh bị bệnh nhà ông bà
Hạnh V1 là em gái ruột của ông nội anh ở gần đó xin bố anh đến lấy quả về ăn
dần.
4
Về nguồn gốc mảnh đất: Toàn bộ 5 thửa đất 51.1, 51.2, 51.3 và 02 thửa
đất liền kề được Hợp tác xã Thiện Kế giao đất cho các hộ dân để trồng trọt và
sản xuất nông nghiệp, 03 hộ gia đình được chia đất gồm:
- Hộ ông Đặng Vĩnh T được chia 01 thửa ruộng 51.3 với diện tích 72m
2
,
tuy nhiên diện tích thực tế sử dụng 288m
2
.
- Hộ ông Nguyễn Văn T2 được chia 01 thửa ruộng 51.2 diện tích trong sổ
đỏ là 288m
2
.
- Hộ ông Phạm Văn T5 được chia 03 thửa ruộng với diện tích đất được
giao lần lượt là: thửa thứ nhất 72m
2,
thửa thứ 2 là 72m
2
, thửa thứ 3 không ghi
diện tích cụ thể chỉ ghi số thửa 51.1 và tên “Toản”, tuy nhiên diện tích sử dụng
thực tế của cả 3 thửa là 4650m
2
(cả 3 thửa ruộng nằm giữa hai hộ ông Đặng
Vĩnh T và hộ ông Nguyễn Văn T2).
Vị trí thửa đất nằm ở ngoài cánh đồng, hiện nay cả 5 thửa vẫn đang do gia
đình anh quản lý và sử dụng từ năm 1993 đến 2022. Cây cối trên thửa đất được
gia đình trồng ổn định. Hiện nay Nhà nước có kế hoạch lấy 1 phần đất của gia
đình nhưng do gia đình ông bà Hạnh V1 lợi dụng sơ hở về diện tích đất được
giao cho các hộ dân trong sổ đỏ và diện tích sử dụng thực tế của các thửa là
chênh lệch nhau do vậy gia đình ông bà Hạnh V1 ra Uỷ ban nhân dân (gọi tắt là
UBND) xã T để kê khai nhận toàn bộ 5172m
2
là của ông bà là không có căn cứ
chứng minh.
Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm lần 1 năm 2023, anh khởi kiện yêu cầu Tòa
án buộc ông Bùi Đức H1, bà Phạm Thị V trả lại cho gia đình 03 thửa đất mang
tên ông Phạm Văn T5 với tổng diện tích sử dụng thực tế 4650m
2
(sau khi trừ đi
diện tích đất của ông T2 đã thỏa thuận với ông H1 và diện tích đất của ông T đã
thỏa thuận với ông H1, còn lại là 4644m
2
, anh làm tròn thành 4650m
2
) căn cứ
vào tờ bản đồ 02 được lập năm 1999 (bản đồ 299) có tên T5 nhưng không có số
diện tích địa chỉ tại thôn P (nay là thôn Q), xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và căn
cứ vào ông Hoàng Thanh B giao đất cho gia đình anh. Đồng thời đề nghị Tòa án
buộc ông Bùi Đức H1, bà Phạm Thị V phải trả lại số tiền bồi thường tài sản trên
phần đất thu hồi đã nhận là: 225.104.388đ (Hai trăm hai lăm triệu một trăm linh
tư nghìn ba trăm tám tám đồng) sau khi trừ khi tài sản của ông H1, bà V. Đối
với phần tài sản trên phần diện tích đất còn lại chưa thu hồi, anh không yêu cầu
Tòa án xem xét giải quyết. Quá trình giải quyết lại vụ án và tại phiên tòa sơ
thẩm lần 2 anh H sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông
H1, bà V phải trả lại cho gia đình anh 03 thửa đất mang tên ông Phạm Văn T5
với tổng diện tích sử dụng thực tế 4644m
2
căn cứ vào tờ bản đồ 02 được lập năm
1999 (bản đồ 299) có tên T5 nhưng không có số diện tích, địa chỉ tại thôn P (nay
là thôn Q), xã B, tỉnh Phú Thọ, buộc ông H1, bà V phải trả lại toàn bộ số tiền bồi
thường tài sản đã nhận trên phần đất thu hồi là 270.235.072 đồng. Đối với phần
tài sản trên phần diện tích đất còn lại chưa thu hồi, anh không yêu cầu Tòa án
xem xét giải quyết.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H1, bà V là anh H2 trình bày: Từ
năm 1985, gia đình anh có mảnh đất khai hoang tại gò A, diện tích khoảng hơn
5
1000m
2
. Khoảng trước năm 1990 gia đình có được chia 360m
2
đất chuyên màu
và 228m
2
đất trồng sắn liền kề với diện tích đất gia đình đã khai hoang và đang
sử dụng. Thời điểm đó gia đình tiếp tục khai hoang được thêm diện tích khoảng
hơn 4000m
2
ở cạnh vị trí được cấp. Gia đình sử dụng toàn bộ diện tích đất được
chia và diện tích khai hoang để trồng lúa, ngô, khoai, sắn và các loại hoa màu
khác. Đến năm 2003, gia đình thấy những loại cây trồng trên không mang lại giá
trị kinh tế nên đã cải tạo, san lấp để trồng cây ăn quả như ổi, nhãn, bưởi, bạch
đàn... Bên cạnh đó có một số hộ dân có đất trồng sắn tại khu vực cạnh đất của
gia đình anh, do diện tích đất của gia đình bao quanh còn đất của các hộ ở giữa
nên để thuận tiện cho việc canh tác gia đình anh và các hộ gia đình khác đã có
thỏa thuận đổi đất cho nhau, cụ thể:
- Hộ ông Phạm Bá K1 nhận làm diện tích 264m
2
ở xứ đồng G của gia đình
anh và đổi cho gia đình anh làm diện tích 432m
2
tại gò Ao Trạch;
- Hộ ông Nguyễn Văn T3 nhận làm diện tích 120m
2
tại xứ Đ của gia đình
anh và đổi cho gia đình anh làm diện tích đất 72m
2
ở gò A.
- Hộ ông Phạm Văn T5 nhận làm diện tích 120m
2
tại xứ Đ của gia đình
anh và đổi cho gia đình anh sử dụng phần diện tích đất ở gò A; diện tích đất của
hộ ông T5 ở gò A bằng diện tích đất của hộ ông T3 là 72m
2
.
- Bà Đỗ Thị V2 (C1) nhận làm tại xứ đồng G. Vì bà V2 (C1) không có đất
tại gò Ao Trạch mà được ông Nguyễn Văn T2 cho làm nên không có số diện
tích cụ thể và hai bên chỉ đổi cho nhau bằng diện tích ước lượng.
Như vậy gia đình anh đã đổi toàn bộ cho các hộ và sử dụng toàn bộ diện
tích đất tại xứ đồng Gò Ao T6. Gia đình đã cải tạo và san lấp thành 1 thửa và
được rào kín xung quanh để trồng cây ăn quả. Đến năm 2007 nhà nước đo lại
toàn bộ diện tích thửa đất đó và được quy chủ là đất của hộ bà Phạm Thị V + 5
hộ theo sơ đồ quản lý hiện trạng. Đến năm 2011 ông Phạm Bá K1 không có nhu
cầu tiếp tục canh tác đất nên đã viết giấy chuyển nhượng đất cho gia đình anh
với số diện tích là 432m
2
. Ông Nguyễn Văn T3 cũng không có nhu cầu sử dụng
đất đổi của gia đình anh nữa nên đã viết giấy chuyển nhượng căn cứ trên diện
tích đất được chia là 72m
2
. Đối với hộ ông Phạm Văn T5, sau khi đổi đất ở G để
sử dụng đất ở G, ông T5 chỉ sử dụng đất ở G một thời gian sau đó không còn
nhu cầu sử dụng. Tuy ông T5 không sử dụng đất ở G nhưng cũng không đòi lại
đất ở G và ông T5 có nói gia đình anh trồng gì thì trồng nên gia đình anh có cải
tạo trồng cây ăn quả từ đó cho đến nay.
Từ năm 2003 cho đến 2020 trước khi có dự án đường giao thông chạy
qua, gia đình ông H1, bà V đã sử dụng ổn định toàn bộ thửa đất có diện tích
5172,1m
2
và không có bất cứ tranh chấp nào. Cho đến khi gia đình được cán bộ
địa chính đến làm công tác kiểm kê diện tích và tài sản trên đất để thu hồi làm
đường giao thông gia đình anh cùng các hộ Nguyễn Văn T2, Đặng Vĩnh T, Thái
Thị N để xác định diện tích cụ thể của từng hộ. Căn cứ vào hồ sơ quản lý đất đai
của UBND xã T xác minh được: Ông Đặng Vĩnh T có 72m
2
trên sổ đỏ nhưng
không có diện tích đang sử dụng; ông Nguyễn Văn T2 có 288m
2
. Các hộ đòi
như sau: Ông T đòi 288m
2
, ông T2 đòi 288m
2
, anh H đòi 1500m
2
, gia đình anh
6
không đồng ý vì các hộ đòi như vậy là vô lý, không có căn cứ. Quá trình hòa
giải tại UBND xã T gia đình anh nhất trí trả cho hộ ông Nguyễn Văn T2 288m
2
,
hộ ông Đặng Vĩnh T là 240m
2
.
Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn H gia đình anh chỉ chấp
nhận trả 72m
2
diện tích đất đã đổi cho gia đình anh H, diện tích đất còn lại gia
đình anh không nhất trí.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền
của bà P, anh T1, chị C, chị N2 là ông Đặng Vĩnh T trình bày: Gia đình ông
được UBND xã T chia cho 01 thửa đất ở tại xứ Đồng Đình giáp ranh đồng A từ
năm 1993 đã được cấp sổ đỏ. Thửa ruộng của gia đình ông liền kề với thửa
ruộng nhà ông Phạm Văn T5, một bên là đất nông trường Tam Đảo với diện tích
240m
2
đã có xác nhận của UBND xã T. Năm 2007 nhà ông không sử dụng nên
đã cho nhà ông T5 gộp vào chung thành 1 thửa trồng cây ăn quả. Gia đình ông
T5 đã sử dụng 5172m
2
ổn định từ 1993 đến nay. Gia đình ông H1, bà V không
được chia trong toàn bộ khu đất 5172m
2
đang tranh chấp theo đơn của anh H.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn T2 trình bày: Gia đình ông được
UBND xã T chia cho 01 thửa đất tại Đ (giáp ranh với Ao T6) từ năm 1993 đã
được cấp sổ đỏ thửa đất 51.2 và được UBND xã T xác nhận đúng thửa ruộng
của gia đình. Thửa ruộng của gia đình giáp ranh với nhà ông T5 và một bên có
giáp ranh với mương. Thửa đất này nằm trong tổng diện tích đất nhà ông Phạm
Văn H và gia đình ông Bùi Đức H1, bà Phạm Thị V đang tranh chấp. Nay giữa
gia đình ông và gia đình ông H1 đã thỏa thuận được với nhau về diện tích đất
với ông H1, bà V, gia đình ông xác định không còn quyền nghĩa vụ liên quan gì
đối với yêu cầu khởi kiện của anh H, đề nghị Tòa án không đưa gia đình ông vào
tham gia tố tụng tại Tòa án.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn T3 trình bày: Hộ gia đình ông được
chia đất sắn tại Đ (A) có thửa đất giáp ranh nhà ông H1 ở 2 đầu được giao vào
năm 1991. Gia đình làm từ 1991 đến 1995 cho ông T5 mượn trồng sắn đến
khoảng 2005 thì nhà ông và nhà ông T5 đổi cho nhà ông H1 số đất sắn lấy đất
ruộng. Hai nhà cùng làm chung 1 thửa, mỗi nhà làm 1 năm. Đến năm 2011 thì
gia đình ông chuyển nhượng cho gia đình ông H1. Năm ông đổi đất cho gia đình
ông H1 chỉ bằng miệng không có giấy tờ gì còn giữa nhà ông H1 và nhà ông T5
thì ông không biết. Gia đình có 01 thửa đất cấy lúa tại G là đất gò giáp với nhà
ông H1. Phần đất sắn đã chuyển nhượng cho gia đình ông H1 từ 2011 đến nay
không có tranh chấp gì giữa 2 gia đình. Còn gia đình ông H1 và ông T5 tranh
chấp như thế nào ông không rõ.
Người làm chứng anh Phạm Xuân K trình bày: Bố mẹ anh là ông Phạm
Bá K1 và bà Đặng Thị N4 sinh được 6 người con gồm chị Phạm Thị H7, chị
Phạm Thị H8, chị Phạm Thị H9, chị Phạm Thị H10, anh Phạm Bá H11 và anh.
Đối với phần diện tích đất tranh chấp hiện anh Phạm Văn H đang khởi kiện ông
Bùi Đức H1, bà Phạm Thị V, gia đình anh xác nhận có một phần diện tích đất
ruộng ở xứ đồng Gò Ao T6, gia đình anh đã chuyển quyền sử dụng đất cho ông
H1, bà V vào ngày 09/8/2011 với diện tích là 432m
2
, tại số thửa 47, tờ bản đồ số
7
02 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Phạm Bá K1.
Việc chuyển quyền sử dụng đất giữa gia đình anh và gia đình ông H1, bà V có
giấy tờ, có chữ ký của bố anh ông Phạm Bá K1 và có xác nhận của trưởng thôn
Dương Công T4, đến nay không có tranh chấp gì. Anh xác định hiện gia đình
anh không có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gì trên toàn bộ phần diện tích đất
tranh chấp, anh đề nghị Tòa án không đưa hộ gia đình anh tham gia với tư cách
là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Người làm chứng ông Dương Công T4 trình bày: Ông là trưởng thôn Phục
Khải (nay là thôn Q, xã T, huyện B) từ 2006 đến 2014 thì nghỉ. Từ khi ông làm
trưởng thôn thì ông đã thấy ông H1 quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất đang tranh
chấp để trồng ổi, mít, bạch đàn..... Đến năm 2007 đo vẽ bản đồ VN2000 do gia
đình ông T5, ông K1, ông T3 có ý kiến bằng miệng về việc có đất trong diện
tích do gia đình ông H1 quản lý, sử dụng, do các ông không xác định được vị trí
đất nên đoàn đo vẽ đã đo gộp thành 1 thửa, thời điểm đo vẽ bản đồ VN 2000 ông
cũng được ở trong đoàn đo vẽ thống kê đất đai của thôn nên ông biết nội dung
trên. Năm 2011, ông T3, ông K1 có chuyển quyền sử dụng đất cho ông H1, ông
là người ký xác nhận trong giấy chuyển quyền. Ông xác định việc chuyển quyền
sử dụng đất là có thật. Các diện tích đất này có nằm trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của các ông hay không thì ông không nắm được, ông chỉ biết
các ông thỏa thuận về số diện tích và vị trí đất nằm trong phần diện tích hiện nay
đang có tranh chấp. Theo quyển dải thửa của UBND xã quản lý mà ông chụp
được 02 trang ghi dải thửa đất có ghi cụ thể số thửa, xứ đồng, loại đất của hai
gia đình ông Phạm Văn T5 và bà Phạm Thị V thì phần diện tích đất tranh chấp
là tại các xứ đồng Ao Trạch và Gò Ao T6 của gia đình bà Phạm Thị V loại đất
chuyên màu tại số thửa 427, diện tích 360m
2
và loại đất sắn tại số thửa 51.4 diện
tích 288m
2
, ông T5 không có đất tại xứ đồng A, Gò Ao T6. Quyển dải thửa do
UBND quản lý là một trong những căn cứ để được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
Người làm chứng ông Hoàng Thanh B trình bày: Ông là người trực tiếp đi
chia ruộng cho các hộ gia đình năm 1993, hiện ông còn lưu giữ được sổ chia
ruộng, đối với phần diện tích đất tranh chấp theo đơn khởi kiện của anh H là
phần đất sắn. Phần đất sắn theo sổ chia ruộng ông viết, theo đơn đăng ký quyền
sử dụng đất ông Phạm Văn T5 thì gia đình ông T5 được chia 5 thước đất sắn
tương ứng với 120m
2
gồm 03 thửa ở xứ Đ, phần diện tích đất này được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tại số thửa 302.3, tờ bản đồ số 02 đứng tên ông
Phạm Văn T5. Trong sổ ông ghi 03 thửa: 03: 72m
2
, 02: 48m
2
, 03: 72m
2
với tổng
diện tích 192m
2
có thể là ông ghi nhầm số diện tích, ông khẳng định diện tích
đất sắn của ông T5 là 120m
2
đã được cấp bìa, ông T5 đã kê khai, không có diện
tích ngoài bìa đỏ. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông T5
chỉ có 01 thửa đất tại xứ đồng Sau Làng: 100 trừ đi 10 thước đấu thầu còn lại 05
thước cơ bản là 120m
2
là không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
còn lại các phần đất khác được chia đều đã được cấp giấy chứng nhận. Phần đất
tại xứ đồng Sau Làng 5 thước trên không liên quan đến phần diện tích đất tranh
chấp.
8
Đối với hộ gia đình khác ông khẳng định gia đình bà V được chia 288m
2
đất sắn, ông K1 11 thước đất tương đương 264m
2
, ông T được chia 72m
2
đất
sắn, ông T2 không được chia đất sắn trong phần diện tích đất tranh chấp đã đền
bù. Các phần đất sắn được chia của các gia đình ông T5, bà V, ông K1, ông T
đều nằm trong phần diện tích đất hiện đang có tranh chấp ở phần đất đã bị thu
hồi để làm đường, không liên quan đến phần đất hiện ông H1 vẫn còn để trồng
cây vì phần đất này là phần đất ông H1 khai hoang, ủy ban không chia đất ở đó.
Toàn bộ diện tích đất sắn được chia của các hộ trên đã bị thu hồi, qua xem
xét sơ đồ phần cạnh 4-5, 5-6, 6-7, 7-8 đều giáp đất ruộng của các hộ gia đình
khác, cạnh 34, 35, 35-11 giáp đường đi sang nông trường do Ủy ban quản lý.
Sau khi được chia đất theo ông được biết ông T5 cùng gia đình trồng sắn 1-2 vụ
sau đó có đổi đất cho ông H1 xuống đất ruộng 1 lúa, 1 màu ở xứ đồng Đ không
liên quan đến diện tích đất tranh chấp, việc đổi đất giữa ông T5 với gia đình ông
H1 không qua thôn, không qua chính quyền địa phương nên ông không nắm
được nội dung cụ thể như thế nào.
Ông khẳng định các phần diện tích đất sắn được chia cho các hộ gia đình
được chia nằm trong phần diện tích đất tranh chấp đã bị thu hồi làm đường của
ông T5 là 120m
2
, bà V 288m
2
, ông K1 264m
2
, ông T 72m
2
, ngoài ra không có
diện tích nào khác, đề nghị Tòa án căn cứ vào đơn kê khai xin cấp giấy chứng
nhận QSD có chữ ký của chủ hộ và giấy chứng nhận QSD đất của các hộ gia
đình để giải quyết. Tại phiên tòa ngày 10/02/2023, ông B giữ nguyên quan điểm
khẳng định không có việc giao đất cả thửa cho các hộ gia đình, ông khẳng định
diện tích đất của gia đình ông T5 chỉ có 120m
2
cấp bìa, không có diện tích đất
ngoài bìa đỏ. Ông khẳng định các phần diện tích đất được chia nằm trong phần
diện tích đất đã được thu hồi để làm đường.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị N3 trình bày: Bà làm phó thôn P từ năm
1984 đến năm 1992 - 1993 sau khi thực hiện xong việc chia ruộng theo Quyết
định 450. Vào khoảng năm 1992 bà cùng ông B là những người trực tiếp chia
ruộng, ông B ghi sổ còn bà là người trực tiếp chỉ ruộng, nắm rõ số diện tích đất
của các gia đình. Trước khi chia ruộng theo Quyết định 450 toàn bộ đất ruộng
thuộc quản lý của Hợp tác xã, sau khi được chia ruộng các gia đình mới quản lý
sử dụng. Phần diện tích đất tranh chấp bà khẳng định gia đình ông T5 có được
chia đất sắn với số diện tích ghi trong sổ của ông B là 03 thước tương ứng với
72m
2
xứ đồng Đ. Sở dĩ ghi đồng Đ là do gia đình ông T5 được chia 05 thước đất
sắn tại xứ Dốc Đình nên muốn ghi thêm 03 thước ở xứ đồng Gò Ao T6 thành xứ
đồng Đ để sau này tiện quản lý sử dụng. Bà khẳng định phần diện tích đất ở xứ
đồng Gò Ao T6 gia đình ông T5 chỉ được chia đất sắn, không có loại đất khác,
còn gia đình ông H1, bà V thì được chia cả đất sắn và đất chuyên màu, phần đất
chuyên màu chỉ có gia đình ông H1 có, các gia đình khác đều không có; trước
khi chia ruộng gia đình ông H1 có một phần diện tích đất khai hoang ở xứ Gò
Ao T6 không nằm trong các diện tích đất ruộng được chia.
Với nội dung trên, tại Bản án số: 03/2023/DS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa
án nhân dân huyện Bình Xuyên (cũ) đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
9
của anh Phạm Văn H, buộc ông Bùi Đức H1 và bà Phạm Thị V trả lại phần diện
tích đất là 72m
2
trên phần diện tích đất đã thu hồi là 2.788,3m
2
(qua đo đạc thực
tế có diện tích 2.737,1m
2
); không chấp nhận yêu cầu trả lại diện tích đất 4.578m
2
trong tổng số 4.650m
2
, thửa số 51, tờ bản đồ số 02, bản đồ 299, địa chỉ thửa đất:
Thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc của nguyên đơn anh Phạm Văn H;
không chấp nhận yêu cầu trả lại số tiền 225.104.388đ (Hai trăm hai lăm triệu,
một trăm linh tư nghìn, ba trăm tám tám đồng) của nguyên đơn anh Phạm Văn
H. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng.
Ngày 15/5/2023, anh Phạm Văn H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại bản án số 74/2023/DS-PT ngày 22/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc (cũ) đã hủy bản án sơ thẩm số 03/2023/DS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án
nhân dân huyện Bình Xuyên và chuyển hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết
lại theo thủ tục sơ thẩm.
Quá trình giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã bổ sung Ban quản lý
dự án khu vực Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ; UBND xã B, tỉnh Phú Thọ; Công ty cổ
phần K4; công ty TNHH Một thành viên H13; Công ty cổ phần X tham gia tố
tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Trong quá trình giải
quyết vụ án, các đương sự trình bày:
Đại diện hợp pháp của công ty K4 là ông Hoàng Văn L1 trình bày: Ngày
11 tháng 9 năm 2020, công ty K4 nhận được thông báo trúng kết quả gói thầu
xây lắp đường giao thông dự án đường kết nối khu công nghiệp T với khu công
nghiệp B 2 đoạn nối từ nút giao thông đường T với đường N. Sau khi nhận được
thông báo công ty đã ký hợp đồng thi công xây lắp với chủ đầu tư là ủy ban
nhân dân huyện B nội dung chính của hợp đồng là thi công xây dựng tuyến
đường kết nối giữa các khu công nghiệp T Vĩnh Phúc với khu công nghiệp B.
Các văn bản pháp lý kèm theo gồm có: biên bản bàn giao mặt bằng; hợp đồng
thi công xây lắp; hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công. Đối với nội dung khởi kiện của
nguyên đơn, công ty K4 khẳng định không liên quan đến vụ án vì KEHIN chỉ là
đơn vị được thực hiện thi công xây dựng dự án sau khi đã nhận bàn giao mặt
bằng từ phía chủ đầu tư nên không liên quan đến bất kỳ việc chủ đầu tư chi trả
bồi thường giải phóng mặt bằng. Công ty K4 không chi trả cho bất cứ bên nào,
không thỏa thuận bồi thường cho bất kỳ công dân nào. Công ty K4 xác định
không liên quan nội dung gì trong vụ án vì vậy đề nghị Tòa án không triệu tập
lên tòa với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Đại diện hợp pháp của công ty TNHH Một thành viên H13 là ông Trần
Công H5 trình bày: Ngày 21/9/2020, công ty H13 có ký hợp đồng thi công xây
dựng số 12/2020/HĐ-XD giữa bên giao thầu là Ban quản lý dự án ĐTXD huyện
B và bên nhận thầu là Liên danh công ty cổ phần K4 và công ty TNHH một
thành viên H13 (trong đó công ty H13 là nhà thầu thành viên liên danh) thi công
đường giao thông dự án: Đường kết nối khu công nghiệp T Vĩnh Phúc với khu
công nghiệp B, đoạn nối từ nút giao đường T với đường N đến ĐT.310. Đối với
nội dung nguyên đơn khởi kiện trong vụ án này, tôi khẳng định công ty H13
10
không liên quan vì công ty H13 chỉ là đơn vị thực hiện việc thi công xây dựng
dự án sau khi đã nhận bàn giao mặt bằng từ phía chủ đầu tư. Giữa chủ đầu tư và
nhà thầu thi công đã có biên bản bàn giao mặt bằng vào ngày 23/9/2020. Công
ty H13 không thực hiện việc chi trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng cho bên
nào, không thỏa thuận bồi thường cho bất kỳ người dân nào khi thực hiện thi
công dự án. Tất cả những công việc công ty H13 thực hiện tại dự án này đã thể
hiện rõ trong hợp đồng xây lắp. Tôi nhận thấy công ty H13 không liên quan đến
vụ án tranh chấp này nên đề nghị Tòa án không triệu tập lên Tòa án làm việc với
tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Đại diện hợp pháp của công ty cổ phần X là ông Nguyễn Văn H6 trình
bày: Ngày 21/9/2020, công ty X có ký hợp đồng thầu phụ số 276/HĐTP ngày
06/10/2020 giữa công ty cổ phần K4 và công ty X thi công đường giao thông dự
án: Đường kết nối khu công nghiệp T Vĩnh Phúc với khu công nghiệp B, đoạn
nối từ nút giao đường T với đường N đến ĐT.310. Nội dung hợp đồng: Thi công
tất cả các hạng mục trong đoạn từ cọc 34 (Km0+550,9) đến cọc P3 (Km0 +
990,94) trừ hạng mục điện chiếu sáng, TBA, cây xanh, lan can, ATGT. Khi thực
hiện việc thi công dự án, công ty X thực hiện thi công trên cơ sở chủ đầu tư bàn
giao cho thầu chính, thầu chính bàn giao cho thầu phụ. Việc đền bù của dự án
như thế nào thì công ty không biết. Trong quá trình thực hiện dự án do không
nắm được việc nhận đền bù của các hộ dân như thế nào, nhưng do đã nhận bàn
giao từ chủ đầu tư và hộ ông Bùi Đức H1 tự nguyện để cho đơn vị thi công thực
hiện việc thi công làm đường, nên đại diện công ty X đã lập một văn bản thỏa
thuận ghi nhận việc tự nguyện của hộ ông Bùi Đức H1 (ông Bùi Đức H1 đại
diện cho hộ ký tên). Biên bản lập vào ngày tháng năm nào, đại diện công ty
không nhớ rõ do thời gian đã lâu. Việc thanh toán tiền bồi thường cho các hộ
dân, công ty X không có liên quan gì và cũng không chi trả cho bất kỳ ai khoản
tiền gì. Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Ban Q, tỉnh Phú Thọ trình bày: Dự án đường kết nối khu công nghiệp T
với khu công nghiệp B, đoạn nối từ nút giao đường T với đường N đến ĐT.310
được UBND tỉnh V phê duyệt tại Quyết định số 2759/QĐ-UBND ngày
30/10/2019 trong đó giao UBND huyện B là chủ đầu tư. Thực hiện chỉ đạo của
UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1047/QĐ-UBND ngày 18/9/2025 về
việc chuyển Ban Q làm chủ đầu tư các dự án theo Quyết định số 1530/QĐ-
UBND ngày 28/6/2025 của UBND tỉnh V cũ (trong đó có dự án nêu trên), Ban
Q đã tiếp tục triển khai thực hiện dự án. Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, dự án đã
dừng triển khai thi công từ năm 2023 do vướng mắc công tác bồi thường, giải
phóng mặt bằng đồng thời phải làm thủ tục gia hạn thời gian thực hiện dự án.
Hiện tại dự án vẫn chưa tiếp tục triển khai thi công do vướng mặt bằng. Công
tác bồi thường, giải phóng mặt bằng được UBND huyện B bàn giao cho UBND
xã B (đơn vị hành chính sau sáp nhập) tiếp tục thực hiện. Để thuận tiện cho việc
cung cấp nội dung thông tin liên quan đến công tác bồi thường, giải phóng mặt
bằng trước và sau khi bàn giao thực hiện dự án, Ban quản lý dự án khu vực Vĩnh
Phúc đề nghị Tòa án liên hệ với UBND xã B để làm rõ.
11
UBND xã B trình bày: Theo quy định phân cấp quản lý dự án khi thực
hiện chính quyền địa phương 2 cấp, dự án Đường K Vĩnh Phúc với K5, đoạn nối
từ nút giao đường T với đường N đến ĐT.310 hiện nay do Ban Q làm chủ đầu
tư. UBND xã B có vai trò tiếp nhận và chỉ đạo thực hiện công tác bồi thường
GPMB phần diện tích còn lại để thực hiện dự án (nhiệm vụ trước đây do Ban
Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện B cũ thực hiện). Hồ sơ thực hiện công tác
giải phóng mặt bằng dự án này thể hiện: cho đến nay UBND huyện B mới ban
hành Quyết định thu hồi đất (đợt 1 – lần 1) số 4333/QĐ-UBND ngày
30/12/2022. Trong Quyết định thu hồi đất này không có diện tích 2.788,3m
2
của
thửa số 94 trên bản đồ thu hồi. Theo Biên bản làm việc ngày 21/12/2022 giữa
Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên và Ban Quản lý dự án ĐTXD huyện B cũ,
UBND xã B được biết đối với thửa đất số 94, diện tích 5.630m
2
, trong chỉ giới
thu hồi 2.788,3m
2
, ngoài chỉ giới thu hồi 2.841,7m
2
, loại đất CLN, tên chủ sử
dụng: "Phạm Thị V + 5 hộ" thể hiện trên sổ diện tích, sau khi lên danh sách quy
chủ và tính diện tích thu hồi đất thì ông H có khởi kiện nên đã dừng giải quyết
do đó diện tích này chưa có Quyết định thu hồi mà đang chờ phán quyết của
Tòa. Theo quy định hiện hành, mức bồi thường và các chính sách hỗ trợ tùy
thuộc vào giá đất cụ thể do đơn vị tư vấn phối hợp với cơ quan chuyên môn của
UBND xã xác định; tùy thuộc vào số nhân khẩu được hỗ trợ ổn định đời sống và
các khoản hỗ trợ khác của mỗi hộ gia đình tại thời điểm phê duyệt phương án do
đó thời điểm hiện tại chưa xác định được mức bồi thường, hỗ trợ. Các nội dung
liên quan đến việc thi công công trình làm đường thì tại Biên bản làm việc ngày
21/12/2022 nêu trên, Ban Quản lý dự án ĐTXD huyện B cung cấp thông tin là
do Công ty K6 là nhà thầu thi công tự tiến hành không liên quan đến Ban Quản
lý dự án ĐTXD huyện B. UBND xã B không có tài liệu hồ sơ hay thông tin nào
khác. Các nội dung về người chi trả số tiền 270.235.072 đồng đã được thể hiện
tại Biên bản làm việc ngày 08/5/2023 mà Ban Quản lý dự án ĐTXD huyện B
cung cấp, UBND xã B không có hồ sơ nào thể hiện nội dung khác. Việc chi trả
này diễn ra trước khi UBND xã B nhận bàn giao dự án do đó UBND xã không
nắm được lý do tại sao phiếu chi trả tiền thể hiện góc trái có đóng dấu Ban Quản
lý dự án ĐTXD huyện B. Về trình tự thủ tục thu hồi đất để thực hiện dự án theo
quy định của pháp luật như sau: 1. Xây dựng kế hoạch thu hồi đất; 2. Tổ chức
họp với người có đất trong khu vực thu hồi; 3. Thông báo thu hồi đất và gửi
Thông báo thu hồi đất; 4. Điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; 5. Xác định giá
đất cụ thể, lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; 6. Niêm yết công khai
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; 7. Lấy ý kiến về phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư; 8. Thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư; 9. Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; 10. Phổ
biến, niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư; 11. Gửi phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; 12. Thực hiện bồi
thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư; 13. Ban hành quyết định thu hồi đất.
Xứ đồng Đ và xứ đồng Ao T6 là 02 xứ đồng khác nhau có vị trí cách nhau
con đường nội đồng (hai xứ đồng ở hai bên đường). Thửa đất số 94 đang có
tranh chấp nêu trên tại bản đồ VN2000 không thể hiện xứ đồng, chỉ ghi thông tin
12
của các hộ dân thôn P và có vị trí nằm gần xứ đồng A. Bản đồ đóng hai dấu treo
mà tòa án yêu cầu xác minh không phải là bản photo từ bản đồ xanh 299 của xã,
không có tỷ lệ. Trên bản đồ VN2000 và bản đồ hiện trạng thu hồi chỉ thể hiện
diện tích chung (thửa số 94 – diện tích 5.630m
2
trên bản đồ thu hồi), không thể
hiện thửa đất số 51.1 vì vậy không xác định được diện tích và vị trí hiện tại của
thửa đất 51.1 trên các bản đồ này.
Trong toàn bộ hồ sơ của dự án được nhận bàn giao cũng như qua quá trình
liên hệ với các cơ quan, đơn vị liên quan để tìm kiếm hồ sơ bổ sung, UBND xã
B không tìm thấy bản vẽ kèm theo biên bản bàn giao tim, mốc và mặt bằng thi
công ngày 23/9/2020. Tuy nhiên, có thể thấy tại biên bản này thể hiện nội dung
công việc bàn giao cụ thể gồm có: vị trí của tuyến đường; cao độ và vị trí mốc;
các cọc chi tiết của tuyến đường (tim tuyến) theo hồ sơ thiết kế xây dựng được
phê duyệt, không có việc bàn giao mặt bằng sạch.
Kết quả xác minh:
Tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) thể hiện: Theo tài liệu tại
UBND xã T hiện còn lưu giữ thì hiện nay Ủy ban còn lưu giữ đơn đăng ký
quyền sử dụng đất, sổ quản lý đất ruộng thôn P gồm 49 hộ thì hộ ông Phạm Văn
T5 được chia 05 khẩu tương ứng với 4920m
2
và 5280m
2
, hộ bà Phạm Thị V
được chia 5 khẩu với 4584m
2
và 4896m
2
, hộ ông Đặng Văn T7 được chia 5 khẩu
với diện tích 3672m
2
và 3936m
2
. Có sự khác nhau về số diện tích tại đơn xin
đăng ký quyền sử dụng ruộng đất và sổ quản lý ruộng thôn Phục K2 là do lịch
sử để lại, hiện địa phương không nắm được. Ngoài ra ủy ban còn lưu danh sách
các hộ cắt đất đấu thầu chuyển sang cơ bản là đất được chia bổ sung năm 1995
được công nhận là đất được chia hợp pháp của các hộ nhưng không nằm trong
giấy chứng nhận QSD đất của các hộ gia đình vì được chia sau các diện tích đất
này do thôn tự điều chỉnh.
Theo bản đồ 299 hiện lưu giữ tại Ủy ban có ghi cụ thể tên các hộ gia đình
tại tờ bản đồ số 02 là do lịch sử để lại đã có tên, hiện địa phương không xác định
được ai là người ghi tên vào trong bản đồ. Bản đồ 02 là bản đồ đất nông nghiệp
có ghi tên H1, T7, T3, T5, K1, riêng đất ông T5 không ghi số diện tích, lý do vì
sao thì hiện địa phương không nắm được. Thời điểm chia đất thì ông Dương
Đức L2 làm cán bộ địa chính hiện đã chết, địa phương hiện không biết được để
cung cấp cho Tòa án.
Theo bản đồ địa chính VN B thì toàn bộ diện tích đất tranh chấp đã thành
một thửa ghi tên Phạm Thị V + 5 hộ gồm những hộ nào địa phương không năm
được.
Năm 2019 Ủy ban nhân dân tỉnh V có quyết định phê duyệt dự án đường
kết nối KCN T - Vĩnh Phúc với Khu C Vĩnh Phúc. Toàn bộ việc thu hồi là do
UBND huyện B làm chủ đầu tư nên việc thu hồi, đền bù như thế nào thì UBND
xã không nắm được. Toàn bộ số tiền chi trả tiền đất bồi thường hiện chưa chi trả
tiền, toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc là đất sắn, không có
loại đất nông nghiệp nào khác.
13
Ngoài ra còn có sổ cấp giấy năm 1993 có ghi tên các hộ tổng số thửa và
tổng số diện tích nhưng không có từng loại đất cụ thể của từng xứ đồng.
Về bản đồ mà UBND xã T cung cấp cho Tòa án có ghi tên T5, thửa 51.1
không có số diện tích là bản đồ pho tô lại từ bản đồ 299, được ghi để biết, không
có giá trị pháp lý. UBND xã T chỉ công nhận giá trị 02 loại bản đồ là 299 và bản
đồ giấy can. Bản đồ xanh được đo vẽ năm 1987 tại thôn P hiện UBND không
lưu giữ do bị thất lạc. Bản đồ giấy can là bản đồ 299 có ghi số thửa, số diện tích
không có ghi tên các hộ gia đình. Theo bản đồ 299 gốc thì diện tích đất tranh
chấp có tổng diện tích là 4379m
2
tại số thửa 51, tờ bản đồ số 02, theo đường đen
đậm những đường kể phía trong là được vẽ thêm sau này vào bản đồ gốc bằng
bút mực xanh, ủy ban chỉ công nhận bản đồ có đường kẻ gốc màu đen.
Theo sổ mục kê đất thể hiện không có ngày tháng, năm còn lưu giữ tại
UBND xã T thì tại trang số 53, tờ bản đồ số 02 thôn P thể hiện tại thửa số 51,
tên chủ sử dụng là “hộ gia đình” có diện tích 4379m2 là đất 2 vụ, không phải đất
sắn. UBND xã T khẳng định thửa số 51 của bản đồ 299 và thửa số 302,3 theo
đơn đăng ký quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn T5, giấy chứng nhận QSD
đất của ông T5 là 02 thửa khác nhau, 02 loại đất khác nhau (thửa 51 là thửa đất 2
vụ còn thửa 302,3 là đất sắn).
Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất của ông Phạm Bá K1 ngày
15/9/1993 thể hiện sổ nhân khẩu là 9, tại số thứ tự 14, tờ bản đồ 02 số thửa 256,
xứ đồng Gò Ao T6, diện tích 432m
2
, loại đất sắn, nguồn gốc đất là Quyết định
450 và các loại đất khác với tổng diện tích 6264m
2
.
Theo như thăm nắm thông tin từ các cụ cao tuổi trên địa bàn thôn P thì
chính quyền địa phương được biết trên phần diện tích đất 2 lúa có diện tích đất
sắn, tuy nhiên số diện tích đất sắn này là rất nhỏ, như cung cấp của ông Hoàng
Thanh B là người trực tiếp chia ruộng thời điểm năm 1993.
Theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông T5 năm 1993 thì diện
tích đất 120m2 sắn tại xứ Đ không thuộc diện tích đất đang tranh chấp là xứ
đồng Gò Ao T6.
Ông Nguyễn Văn T8 là cán bộ địa chính của xã T từ cuối 1996 đến cuối
2011 trình bày: Ông là người nhận bàn giao công tác địa chính từ ông Dương
Đức L2, ông L2 là cán bộ địa chính từ năm 1989 đến giữa năm 1996. Thời điểm
ông L2 làm cán bộ địa chính thì ông Vũ Duy B1 là chủ tịch UBND xã từ năm
1989 đến 1999. Đối với bản đồ 299 có ghi tên các hộ gia đình do UBND xã T
cung cấp cho Tòa án ông khẳng định bản đồ này không có giá trị pháp lý, thời
điểm ông nhận bàn giao công tác địa chính từ ông Dương Đức L2 ông khẳng
định không nhận bàn giao bản đồ này. Từ thời điểm ông làm cán bộ địa chính
đến khi ông chuyển sang làm công việc khác cũng không có bản đồ có ghi tên
trên, ông không biết bản đồ này. Trên hệ thống quản lý nhà nước về đất đai
không công nhận bản đồ có ghi tên, bản đồ xanh là bản đồ vẽ từ năm 1989 mới
là bản đồ làm căn cứ để cấp giấy chứng nhận QSD đất có giá trị pháp lý. Theo
ông bản đồ có ghi tên hiện UBND có lưu giữ do đội trưởng đội sản xuất thời
điểm chia đất photo ra ghi tên vào bản đồ để dễ theo dõi, có thể là chữ của ông
14
Hoàng Thanh B đội trưởng đội sản xuất chia đất thời điểm đó, sau khi ghi để lại
ủy ban, đây là bản đồ photo lại có số thửa, ghi chú thích trên bản đồ để biết
không có giá trị pháp lý. Sau khi chuyển công việc khác ông bàn giao lại công
tác địa chính cho ông Lê Văn T9 hiện đang là công chức văn hóa của ủy ban,
bản đồ có ghi tên này có từ sau thời điểm ông làm nên ông không biết, ông
không bàn giao bản đồ nào là bản đồ có ghi tên cho ông T9. Ông khẳng định bản
đồ có ghi tên có hộ gia đình không phải bản đồ 299, bản đồ 299 là bản đồ có số
thửa và diện tích.
Tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) thể
hiện: Ngày 30/10/2019 Ủy ban nhân dân tỉnh V có Quyết định số 2759/QĐ-
UBND về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình đường kết nối Khu
công nghiệp T - Vĩnh Phúc với Khu C Vĩnh Phúc đoạn nối từ nút giao đường T
với đường N đến ĐT 310. Sau khi có Quyết định UBND tỉnh V đã giao cho
UBND huyện B làm chủ đầu tư, UBND huyện B đã ký hợp đồng thi công với
công ty K6 để công ty K6 thi công công trình tuy nhiên nội dung hợp đồng như
thế nào thì Ban quản lý không nắm được.
UBND huyện B đã thuê công ty cổ phần Đ1 tiến hành đo đạc và vẽ bản
đồ thu hồi theo hiện trạng thực tế. Bản đồ thu hồi này đã được Sở tài nguyên và
môi trường thẩm định ngày 16/11/2020.
Sau khi có bản đồ thu hồi thì ban quản lý mới về thực tế để quy chủ và
tính diện tích thu hồi đất, lên phương án bồi thường. Khi về thực tế để tiến hành
quy chủ thì các tài sản trên đất là do Công ty K6 nhà thầu thi công thỏa thuận
với ông H1 nên Ban quản lý không biết. Đến thời điểm hiện tại Ban quản lý
không biết tài sản trên đất có những gì và của ai. Đối với thửa đất quy chủ Ban
quản lý lập danh sách là thửa số 94, tổng diện tích 5630m
2
, trong danh giới thu
hồi 2788,3m
2
, ngoài ranh giới thu hồi là 2841,7m
2
, loại đất trồng cây lâu năm.
Sau khi lên danh sách quy chủ và tính diện tích thu hồi đất thì anh H có đơn
khởi kiện nên ban quản lý đã dừng giải quyết. Ngày 8/6/2022, UBND huyện B
mới có Thông báo thu hồi đất, chưa có QĐ bồi thường nên đến thời điểm hiện
tại phần đất bồi thường vẫn chưa chi trả cho ai, chờ phán quyết của Tòa án. Đối
với phần đất thu hồi ban quản lý tính đơn giá 433.000đ/1m
2
, không bồi thường
tài sản trên đất vì ban quản lý không nắm được. Việc thi công công trình là do
Công ty K6 thực hiện.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2026/DS-ST ngày
29/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ đã quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Phạm Văn H về việc buộc
ông Bùi Đức H1, bà Phạm Thị V trả lại diện tích đất nông nghiệp 4644m
2
, địa
chỉ thửa đất: Thôn Q, xã B, tỉnh Phú Thọ và số tiền 270.235.072 đồng.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng
cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/6/2026, nguyên đơn anh Phạm Văn H kháng cáo đề nghị cấp
phúc thẩm Hủy bản án sơ thẩm.
15
Quá trình xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án phúc thẩm đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ,
quyết định đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và tiến hành
giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Phạm Văn H. Giữ nguyên Bản án dân
sự sơ thẩm 14/2026/DS-ST ngày 29/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 -
Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm
sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn nằm trong thời
hạn luật định. Việc thụ lý kháng cáo đúng quy định của pháp luật nên được xem
xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Anh Bùi Mạnh H2 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và một số
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
hai. Tuy nhiên, vụ án được đưa ra xét xử lần thứ nhất vào ngày 09/9/2026 nhưng
anh Bùi Mạnh H2 có đơn xin hoãn phiên tòa, sau đó vụ án được thông báo mở
lại phiên tòa vào ngày 22/9/2026, anh H2 tiếp tục có đơn xin hoãn phiên tòa với
lý do anh chưa nhận được quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất và anh nhận
được thông báo mở lại phiên tòa vào ngày 18/9/2026 quá sát ngày mở phiên tòa
ngày 22/9/2026 nên anh chưa có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc tham gia
phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy anh H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2
và quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất không ấn định thời gian mở lại phiên
tòa nên Tòa án đã ra thông báo mở lại phiên tòa để xét xử vụ án vào ngày
22/9/2026. Việc anh H2 chưa nhận được quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất
và anh nhận được thông báo mở lại phiên tòa lần 2 giáp ngày xét xử (03 ngày)
nên không có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc tham gia phiên tòa, đây không
phải lý do chính đáng để hoãn phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vụ án vắng mặt anh H2.
Ngoài ra, trong vụ án còn có một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần, một số người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan vắng mặt không có lý do, phía đại diện UBND xã B có đơn đề nghị xét
xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2]. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn kiện đòi bị đơn trả diện tích đất là
4644m
2
đất và tiền bồi thường tài sản trên đất là 270.235.072 đồng. Vì vậy, quan
16
hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp quyền sử dụng đất và tiền bồi thường tài
sản trên đất theo quy định tại khoản 2, 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về nội dung vụ án: Nguyên đơn kiện đòi bị đơn trả diện tích đất là
4644m
2
đất thuộc 03 thửa đất là thửa số 51.1 và 02 thửa đất liền kề không có số
thửa thuộc tờ bản đồ số 02 (bản đồ 299) và số tiền đã được Nhà nước bồi thường
tài sản trên phần đất trên, địa chỉ thửa đất tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh
Phúc, nay là thôn Q (nay là P), xã B, tỉnh Phú Thọ. Do các thửa đất trên được
Nhà nước giao cho gia đình anh từ năm 1993. Bị đơn cho rằng phần diện tích
đất trên có một phần gia đình được Nhà nước giao, một phần khai hoang và một
phần đổi cho các hộ gia đình khác, trong đó có hộ gia đình ông T5 nên chỉ chấp
nhận trả lại 72m
2
(là phần đất đã đổi), tuy nhiên, diện tích 72m
2
trên nằm vào
phần Nhà nước đã làm đường. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo:
Nội dung kháng cáo bị đơn đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm với lý
do cấp sơ thẩm không công nhận bản đồ 299 có đóng dấu treo của UBND xã T
(cũ), việc sử dụng và không sử dụng các lời khai của những người làm chứng là
không đúng. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[3.1]. Nguyên đơn đề nghị Tòa án căn cứ vào bản đồ địa chính tại bút lục
số 07, đơn xin xác nhận (BL 163) và bản đồ địa chính tại bút lục số 165 để xác
định quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp là của hộ gia đình anh.
Hai tờ bản đồ trên (BL 07, 165) là tờ bản đồ số 02, có đóng dấu treo của UBND
xã T (cũ), hai tờ bản đồ này có hình thể giống nhau ở thửa số 51. Tuy nhiên, tờ
bản đồ tại bút lục 07 có ghi tên người sử dụng đất vào các thửa đất thuộc thửa số
51, còn tờ bản đồ tại bút lục 165 chỉ ghi tên tại thửa số 51.1 đứng tên “Toản”,
còn thửa 51, 51.1, 51.2, 51.3, 51.4 đều không ghi tên.
[3.1.1]. Qua xác minh tại địa phương và địa phương cung cấp bản đồ số
02 (bản đồ 299) là bản đồ màu xanh và xác định là bản đồ gốc (BL 299), trong
đó thửa 51 có diện tích 4379m
2
và được chia thành nhiều phần (địa phương xác
định phần ghi thêm là do cán bộ tự kẻ vào, nhưng không rõ ai), các phần trên
đều không ghi tên hộ gia đình nào, các phần chia tương đối giống với tờ bản đồ
do nguyên đơn cung cấp tại (BL 07). UBND cũng khẳng định, trên tờ bản đồ chỉ
ghi số thửa, diện tích đất, không ghi tên người sử dụng đất trên bản đồ. Theo bản
đồ 299 gốc thì xác định được thửa 51 tờ bản đồ 02 được chia thành nhiều thửa
gồm 51.1, 51.2, 51.3, 51.4 và 51 (BL 07, 299).
Theo lời khai của ông Nguyễn Văn T8 nguyên cán bộ địa chính thể hiện
tờ bản đồ có thể được pho to ra để ghi tên của một số hộ gia định để tiện cho
việc theo dõi việc các hộ gia đình đang sử dụng đất. Theo lời khai của bị đơn
xác định, tại đồng Ao Trạch trước năm 1990 bị đơn được giao 288m
2
đất giáp
với phần diện tích đất đã khai hoang và các phần diện tích đất mà các hộ gia
đình khác sử dụng, bị đất của bị đơn bao quanh nên năm 2003 gia đình bị đơn và
các hộ gia đình có việc đổi đất, trong đó có đổi với thửa đất của gia đình ông T5
để gia đình ông T5 sử dụng một thửa đất ở nơi khác, đổi với hộ ông K1, hộ ông
T3, hộ bà V2 (Cửu) (hộ bà V2 được ông T2 cho làm). Theo tờ bản đồ 02 (BL
07) thể hiện thửa đất 51.4 và thửa 59.1 đứng tên “Hạnh”, nằm giữa hai thửa đất
17
trên là thửa 51.3 tên T7, 51.2 tên T3, 51.1 tên T5, 51.2 tên C1, 51 và 51.3 tên
K1. Theo bản đồ VN 2000 khi đo đạc phần diện tích đất đang tranh chấp, tương
ứng với thửa 51 (gốc) tờ bản đồ 02, trong đó có thể hiện thửa 237 tên “Phạm Thị
V + 5 hộ”, cũng phù hợp với đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của hộ ông
Nguyễn Văn T2 (BL 148), hộ ông Đặng Văn T7 (BL 149), hộ ông Nguyễn Văn
T3 (Bl 152), hộ bà Phạm Thị V (BL 154) đều có các thửa đất trong thửa 51 tờ
bản đồ 02. Như vậy, lời trình bày trên của bị đơn về việc phần diện tích đất đang
tranh chấp có phần diện tích đất của gia đình bị đơn sử dụng là phù hợp với bản
đồ 02 tại bút lục 07, bản đồ VN2000, lời trình bày của những người đã đổi đất
cho bị đơn là ông T3, ông T2, ông K1 và thực tế các bên đã sử dụng. Việc ông
Đặng Vĩnh T cho rằng gia đình ông H1 không được giao đất, sử dụng phần diện
tích đất đang tranh chấp là không có căn cứ.
Nguyên đơn cho rằng gia đình đã được giao thửa 51.1 và sử dụng hai thửa
đất giáp với thửa 51.1, không có số thửa nhưng đều có diện tích đất là 72m
2
nhưng theo tài liệu nguyên đơn cung cấp bản đồ địa chính (BL 07) thì hai thửa
tiếp giáp với thửa 51.1 đều có diện tích 72m
2
là thửa 51.2 đứng tên Tuệ, 51.3
đứng tên T được thể hiện tại đơn đăng ký quyền sử dụng đất, lời khai của những
người sử dụng các thửa đất trên. Ngoài ra, nguyên đơn cho rằng thửa 51.1 đứng
tên T5 có diện tích khoảng 4500m
2
đất, tuy nhiên theo bản đồ 299 gốc thì xác
định được thửa 51 tờ bản đồ 02 có diện tích là 4379m
2
được chia thành nhiều
thửa gồm 51.1 (không ghi diện tích), 51.2 (72m
2
), 51.2 (96m
2
), 51.3 (120m
2
),
51.4 (diện tích 288m
2
) và 51 (diện tích 120m
2
), ngoài ra còn phần đất trống
thuộc thửa 51 (gốc) (BL 07, 299). Theo bản đồ tại bút lục 07, 299 thì thửa 51.1
là một phần rất nhỏ so với thửa 51 (gốc). Như vậy, diện tích thửa 51.1 mà
nguyên đơn cho rằng có diện tích khoảng 4500m
2
nhưng lại lớn hơn diện tích
toàn bộ thửa đất 51 (gốc) nên trình bày trên của nguyên đơn không có căn cứ.
[3.1.2]. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày
27/11/1993 đứng tên ông Phạm Văn T5 (BL 20), đơn đăng ký quyền sử dụng đất
22/9/1993 của hộ ông Phạm Văn T5 (BL 436) thì không có thửa đất nào tại thửa
số 51 tờ bản đồ 02. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cũng xác định phần
diện tích đất đang tranh chấp nguyên đơn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
Theo lời khai của ông Hoàng Thanh B (Trưởng thôn Quang K3, người
trực tiếp giao đất năm 1993) và sổ chia ruộng do ông B lưu giữ đều đồng nhất
thể hiện: Hộ ông Phạm Văn T5 chỉ được giao diện tích 05 thước đất sắn (tương
đương 120m²) tại xứ đồng Đ. Diện tích này đã được kê khai, đăng ký và cấp
GCNQSD đất tại thửa số 302.3, tờ bản đồ số 02. Đối với việc ghi nhận tổng diện
tích 192m² của hộ ông T5 trong sổ chia ruộng, ông B khẳng định đây là do nhầm
lẫn số liệu khi ghi chép; thực tế hộ ông T5 không có diện tích đất sắn nào khác
nằm ngoài GCNQSD đất. Đối với diện tích 05 thước đất (120m²) tại xứ đồng
Sau Làng chưa được cấp GCNQSD đất của hộ ông T5, phần đất này hoàn toàn
độc lập, không liên quan đến phần diện tích đất sắn đang tranh chấp theo đơn
khởi kiện của nguyên đơn.
18
Anh H cho rằng xứ Đ và đồng Gò Ao T6 là một, tuy nhiên trong các đơn
đăng ký quyền sử dụng ruộng đất năm 1993 mà Tòa án đã thu thập được thể
hiện rất rõ xứ Đồng Đ và xứ đồng Ao Trạch là hai địa giới khác nhau, UBND xã
B cũng xác nhận xứ Đ và xứ đồng Ao Trạch nằm ở vị trí khác nhau, cách nhau
bằng một con đường nội đồng.
Tờ bản đồ phô tô có đóng 02 dấu treo của UBND xã T, huyện B, tỉnh
Vĩnh Phúc (cũ) (BL 165), phần diện tích đất tranh chấp được ghi chú thửa
“51.1” tên “Toản” không có số diện tích cụ thể, đối với 02 thửa còn lại không
ghi tên của ai sử dụng và không có số diện tích cụ thể để xác định quyền sử
dụng đất của hộ ông T5. Tuy nhiên, đây không phải là căn cứ để xác định được
quyền sử dụng đất của ông T5 đối với thửa đất đang tranh chấp bởi: Qua xác
minh, UBND xã T (cũ) cung cấp về bản đồ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là
bản đồ pho tô lại từ bản đồ 299, được ghi để biết, không xác định được ai là
người ghi, ghi vào thời điểm nào, lý do ghi.
[3.1.3]. Ngoài ra căn cứ vào lời khai của bà N3, người trực tiếp đi chỉ đất
thời điểm chia đất thì sau khi được chia đất, gia đình ông T5 (nguyên đơn) chỉ
sử dụng 72m² để trồng sắn, sau đó bỏ trống và gia đình ông H1 đã tiếp quản và
lời khai của nguyên trưởng thôn ông Dương Công T4 xác nhận gia đình ông H1
(bị đơn) trồng các loại cây lâu năm (ổi, mít, bạch đàn...) ổn định liên tục từ năm
2006 đến nay. Quá trình đo vẽ bản đồ VN2000 năm 2007, phía gia đình ông T5
chỉ có ý kiến bằng miệng về quyền sử dụng đất, hoàn toàn không đòi hỏi hay
tranh chấp về tài sản trên đất đối với gia đình ông H1. Năm 2011 ông K1, ông
T3 khi chuyển nhượng đất cho ông bà Hạnh V1 cũng đã thể hiện nội dung hai
thửa đất của nhà ông K1, ông T3 nằm trong vườn ổi gia đình bà V1 đang quản
lý, sử dụng. Nên xác định gia đình bị đơn đã sử dụng liên tục phần diện tích đất
đang tranh chấp từ những năm 2006 cho đến nay.
[3.1.4]. Như vậy, nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất thực tế của
thửa số 51.1 (bản đồ 299) tương ứng với bản đồ VN 2000 có diện tích là
5172m
2
, được trừ đi phần diện tích đất của ông Nguyễn Văn T2 = 288m
2
, ông
Đặng Vĩnh T = 240m
2
, để xác định toàn bộ diện tích 4644m
2
thuộc sở hữu hợp
pháp của gia đình nguyên đơn là không có căn cứ.
[3.1.5]. Mặc dù những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa
không đủ căn cứ để chứng minh quyền sử dụng đất của gia đình nguyên đơn,
nhưng theo như lời khai nhận của nguyên đơn, bị đơn, các hộ canh tác liền kề là
ông Đặng Vĩnh T, ông Nguyễn Văn T2 đều xác định hộ ông T5 có 01 thửa đất
sắn tại xứ đồng Gò Ao T6. Điều này phù hợp với cung cấp của bà Nguyễn Thị
N3 là người trực tiếp đi chia ruộng tại xứ đồng Gò Ao T6 xác định hộ gia đình
ông T5 được chia 03 thước = 72m
2
và phù hợp với lời khai của bị đơn khẳng
định thời điểm từ 2003 đến 2008 gia đình bị đơn đã đổi 01 thửa đất tại xứ đồng
Đình diện tích 120m
2
để lấy phần diện tích 72m
2
tại xứ đồng Gò Ao T6 của gia
đình nguyên đơn để canh tác. Do vậy xác định gia đình nguyên đơn có 01 thửa
đất có diện tích đất 72m
2
tại xứ đồng Gò Ao T6 thuộc thôn Q, xã T, huyện B,
tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn P, xã B, tỉnh Phú Thọ).
19
Qua xem xét thẩm định tại chỗ, hiện nay phần diện tích đất đang tranh
chấp đã được giải phóng mặt bằng, phần lớn đã được làm đường giao thông,
mốc giới các thửa đất không còn nên không thể xác định được vị trí chính xác
của các thửa đất trên. Ngoài ra, không có tài liệu nào thể hiện phần diện tích đất
của gia đình nguyên đơn được giao bao nhiêu. Căn cứ vào sự thừa nhận của bị
đơn là trong phần diện tích đất đang tranh chấp có phần đất của gia đình nguyên
đơn là 72m
2
nhưng nằm tại vị trí đã làm đường giao thông (BL 130).
Như vậy, xác định được con đường nằm trên phần đất 72m
2
của hộ ông
T5 thuộc dự án Đường kết nối khu công nghiệp T Vĩnh Phúc với khu công
nghiệp B, đoạn nối từ nút giao đường T với đường N đến ĐT.310, hiện nay do
Ban Q, tỉnh Phú Thọ làm chủ đầu tư. Mặc dù phần đất này đã thực hiện làm
đường, đã có thông báo thu hồi đất tuy nhiên chưa có quyết định thu hồi. Chủ
đầu tư cũng chưa thực hiện chi trả tiền bồi thường đất cho các hộ dân. Trong hồ
sơ vụ án có thu thập được biên bản thỏa thuận giữa công ty X và ông Phạm Văn
H12 về việc ông H12 tự nguyện để phía nhà thầu thực hiện làm đường dù chưa
được đền bù nhưng đó không phải là căn cứ chứng minh việc ông H12 đồng ý
cho nhà thầu thực hiện việc làm đường trong phần đất của hộ ông T5. Do hiện
tại phần đất này ông H12, bà V1 không quản lý, sử dụng, cũng chưa nhận tiền
đền bù đất từ cơ quan có thẩm quyền và cũng chưa được cơ quan nhà nước quy
chủ để bồi thường nên việc anh Phạm Văn H yêu cầu ông H12, bà V1 phải trả
lại phần diện tích đất này là không có căn cứ, nên không được chấp nhận.
Về quyền lợi của gia đình anh H đối với diện tích 72m
2
đất đã làm đường
sẽ được xem xét khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất và bồi thường theo quy
định.
[3.2] Xét yêu cầu đòi số tiền 270.235.072 đồng là tiền bồi thường đối với
tài sản trên đất đã làm đường:
Theo Biên bản xác minh ngày 08/5/2023 của Ban quản lý dự án đầu tư
xây dựng huyện B: Ngày 21/7/2020, Tổ công tác đã tiến hành kiểm kê tài sản
thực địa để thực hiện dự án đường kết nối KCN Thăng Long V với K5. Buổi
kiểm kê được thực hiện công khai, có sự tham gia của đại diện chính quyền địa
phương (ông Lê Văn T9 – cán bộ địa chính xã T; ông Lê Trung T10 – trưởng
thôn Q) và đại diện gia đình bị đơn (ông H12, anh H2). Kết quả kiểm kê xác
định diện tích đất thu hồi 2.788,3m² đã được rào tôn, có ranh giới tách biệt và
toàn bộ tài sản trên đất do gia đình ông H12 quản lý, sử dụng ổn định từ trước
thời điểm kiểm kê. Do đó, lời khai của nguyên đơn cho rằng việc kiểm kê không
thông báo, không có chính quyền tham gia và gia đình nguyên đơn quản lý đất
đến năm 2022 là hoàn toàn không có cơ sở.
Nguyên đơn có xuất trình các giấy xác nhận nguồn gốc tài sản được đánh
máy sẵn nội dung. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm lần 1 người làm chứng ông
Đặng Vĩnh T xác nhận trên đất chỉ có lều nứa không có nhà kho. Lời khai trực
tiếp của người làm chứng mâu thuẫn văn bản đã ký trước đó. Nên các giấy xác
nhận nguồn gốc tài sản này do nguyên đơn cung cấp có nội dung không khách
quan nên không được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án mà cần căn cứ vào lời
20
khai trực tại phiên tòa của người làm chứng là ông T để làm căn cứ giải quyết vụ
án.
Nguyên đơn khai vợ chồng ông H12, bà V1 là em ruột của ông nội
nguyên đơn nên cây cối do gia đình nguyên đơn trồng thì hoa lợi, lợi tức gia
đình nguyên đơn để bị đơn thu hoạch nhưng không hề có ý kiến gì, năm 2013
ông T5 chết, sau đó anh H là con cũng không có ý kiến gì, mà đến khi Nhà nước
có chủ trương thu hồi đất để làm đường thì năm 2021 anh H bắt đầu có đơn về
việc tranh chấp. Mặc dù gia đình nguyên đơn và bị đơn có quan hệ gia đình
nhưng việc một gia đình trồng cây rồi cho gia đình khác thu hoạch trong một
thời gian dài là không phù hợp với thực tế.
Ngoài ra, như đã phân tích tại mục [3.1.3], xác định gia đình bị đơn đã sử
dụng liên tục phần diện tích đất đang tranh chấp từ những năm 2006 cho đến
nay. Vì vậy, xác định tài sản trên đất tranh chấp là của bị đơn tạo dựng được.
Nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi số tiền 270.235.072 đồng là tiền
bồi thường tài sản trên phần đất đang tranh chấp của nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Về chi phí tố tụng: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên nguyên
đơn phải chịu toàn bộ.
[5]. Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm nên đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa có căn cứ nên được chấp
nhận.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện và nội dung kháng cáo của nguyên đơn nên nguyên đơn phải chịu theo
quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Phạm Văn H.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 14/2026/DS-ST ngày 29/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ.
Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 236 của
Luật Đất đai năm 2024; Điều 147; khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Phạm Văn H về việc
buộc ông Bùi Đức H1, bà Phạm Thị V trả lại diện tích đất nông nghiệp 4644m
2
,
địa chỉ thửa đất: Thôn Q (nay là P), xã B, tỉnh Phú Thọ và số tiền 270.235.072
đồng (Hai trăm bảy mươi triệu, hai trăm ba lăm nghìn, không trăm bảy mươi hai
đồng).
21
2. Về chi phí tố tụng: Anh Phạm Văn H phải chịu 7.000.000 đồng (Bảy
triệu đồng) tiền xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, xác nhận anh H đã
nộp đủ.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm Văn H phải chịu 28.184.000 đồng
(Hai mươi tám triệu một trăm tám mươi tư nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm
nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.000.000 đồng (Ba mươi
sáu triệu đồng) theo biên lai thu số 0003855 ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là Thi hành án
dân sự tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho anh H số tiền tạm ứng án phí còn lại là
7.816.000 đồng (Bảy triệu tám trăm mười sáu nghìn đồng).
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Phạm Văn H phải nộp 300.000đồng
được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005606 ngày
11/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Anh H đã nộp đủ án phí dân sự
phúc thẩm.
4. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 8 - Phú Thọ;
- VKSND khu vực 8 - Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ (Phòng THADS
khu vực 8 - Phú Thọ);
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Nghĩa
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 296/2026/DS-PT Bản án số 296/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 296/2026/DS-PT Bản án số 296/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất