Bản án số 213/2026/KDTM-PT ngày 29/09/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 213/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 213/2026/KDTM-PT ngày 29/09/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 213/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 213/2026/KDTM-PT ngày 29/9/2026
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 213/2026/KDTM-PT Bản án số 213/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/KDTM-PT Bản án số 213/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 213/2026/KDTM-PT
Ngày 29 tháng 9 năm 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Tuấn
Bà Lê Thị Mỹ Lanh
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Lan Anh – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà
Đinh Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 25 và ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số
118/2026/TLPT-KDTM ngày 01/8/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt
bằng”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 33/2026/KDTM-ST ngày
17/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 693/2026/QĐ- PT ngày
25/8/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 751 ngày 10/9/2026; Quyết định tạm ngừng
phiên tòa số 780 ngày 25/9/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần Đ
Địa chỉ trụ sở: Số A H, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Anh K; Chức danh: Tổng giám đốc
(theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần đăng ký thay đổi lần
thứ 25, ngày 29 tháng 5 năm 2026)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đăng D, ông Đoàn Thành N (theo
Giấy ủy quyền số 32/2026/UQ - IMG 09/9/2026); Ông D, ông N có mặt tại phiên
tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Hà Tuấn V, ông
Trần Hoàng L - Luật sư thuộc Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ:
Số B T, phường C, thành phố Hà Nội; Ông L vắng mặt; Ông V có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Công ty TNHH C1
Địa chỉ trụ sở: Số G ngõ A đường L, phường L, quận Đ (nay thuộc phường L),
thành phố Hà Nội.
2
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hồ Thị Quỳnh N1; Chức danh: Chủ tịch Hội
đồng thành viên kiêm Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Hoàng Mạnh H, sinh năm 1972; Nơi thường trú: P3 – C2 Tập thể Đ,
phường G, thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982; Nơi thường trú: Số A -C1 Tập thể
Trường C2, phường L, thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần Đ1 (tên cũ là
Công ty cổ phần A1).
Địa chỉ: Số A - A phường B, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện pháp luật: Ông Võ Đông T; Chức danh Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị Thanh T1; Địa chỉ: N, khu đô thị
C, phường T, thành phố Hà Nội (theo Giấy ủy quyền số 05/2025/MHL-GUQ ngày
06/10/2025); Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
Công ty cổ phần Đ trình bày:
Tranh chấp giữa Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ) và Công ty TNHH
C1 (gọi tắt là Công ty C1) phát sinh từ Hợp đồng thuê mặt bằng Trung tâm thương
mại có thời hạn số AR-TM/T124-T125-T126/5-2017/HĐ/IMG-VIỆT TÍN ngày
14/05/2017 và các Phụ lục Hợp đồng kèm theo (sau đây gọi là “Hợp đồng”). Theo
đó, Công ty C1 thuê gian hàng số T124, T125, T126 tại Tầng 1 Trung tâm thương
mại, văn phòng V2 (sau đây gọi là “Tòa nhà A”), diện tích thuê 326,115 m2 (sau
đây gọi là “Diện tích thuê”), thời hạn thuê là 10 năm từ ngày 14/05/2017 đến hết
ngày 13/05/2027.
Từ tháng 05/2021, Công ty C1 bắt đầu vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Công ty
Đ, Công ty cổ phần Đ1 (sau đây gọi là “Công ty MHL”), đơn vị quản lý vận hành
Tòa nhà A theo ủy thác của Công ty Đ và luật sư của Công ty Đ là Công ty L1 (sau
đây gọi là “Bizconsult”) đã gửi các văn bản yêu cầu Công ty C1 thanh toán nhưng
Công ty C1 không hợp tác, tiếp tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định. Ngày
01/03/2023, Công ty Đ khởi kiện Công ty C1, buộc Công ty C1 thanh toán tổng số
tiền là 7.086.681.633 đồng (bảy tỷ không trăm tám mươi sáu triệu sáu trăm tám mươi
mốt nghìn sáu trăm ba mươi ba đồng), cụ thể:
1.Buộc Công ty C1 thanh toán ngay lập tức và vô điều kiện cho Công ty Đ
khoản nợ gốc tiền thuê và phí dịch vụ từ ngày 01/05/2021 đến ngày 21/02/2022 cộng
thêm tiền thuế GTGT tương ứng, với tổng trị giá là 3.201.189.742 đồng
2. Thanh toán ngay lập tức và vô điều kiện cho Công ty Đ tiền điện, nước phát
sinh tại phần diện tích thuê là: 1.065.921 đồng;
3. Thanh toán ngay lập tức và vô điều kiện cho Công ty IMG tiền lãi chậm trả
do chậm thanh toán khoản nợ tiền thuê, phí dịch vụ, tiền điện, nước và thuế GTGT
tính đến ngày khởi kiện là 846.004.620 đồng. Lãi suất chậm thanh toán là
3
0,055%/ngày, được tạm tính đến ngày 03/02/2023 và sẽ tiếp tục được cập nhật đến
ngày Nguyên đơn nhận được đủ toàn bộ khoản nợ gốc.
4. Thanh toán ngay lập tức và vô điều kiện cho Công ty Đ tiền phạt bằng 08%
giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm là 2.184.770.892 đồng;
5. Bồi thường thiệt hại cho Công ty Đ các chi phí phát sinh từ hành vi vi phạm
của Công ty C1 (bao gồm chi phí lập vi bằng, chi phí thuê vận chuyển và tháo dỡ lưu
kho, chi phí lưu kho tạm tính từ ngày 23/02/2022 đến 03/02/2023) trị giá 853.650.458
đồng. Chi phí lưu kho được tạm tính đến ngày 03/02/2023, và sẽ tiếp tục được cập
nhật đến ngày Bị đơn di dời tài sản của Bị đơn ra khỏi nhà kho của Nguyên đơn.
Số tiền yêu cầu thanh toán như sau:
* Về khoản nợ gốc, phí dịch vụ (và thuế GTGT tương ứng) từ ngày 01/05/2021
đến ngày 21/02/2022, tổng trị giá là 3.201.189.742 VNĐ; Tiền điện, nước phát sinh
tại phần diện tích thuê là 1.065.921 VNĐ.
- Tiền thuê và phí dịch vụ từ ngày 01/05/2021 – 21/02/2022:
Điều 11.2(s) Hợp đồng quy định về quyền và nghĩa vụ của Bên Thuê: "s. Thanh
toán cho B cho thuê đầy đủ và đúng hạn tiền thuê, phí dịch vụ và các khoản phải trả
khác theo quy định tại Hợp đồng thuê này";
Mục III.2 Phụ lục A4 Hợp đồng quy định về hình thức thanh toán theo đối với
tiền thuê, phí dịch vụ:
"Tiền thuê, phí dịch vụ, thuế Giá trị gia tăng được Bên thuê thanh toán cho Bên
cho thuê hàng tháng trong vòng 07 ngày làm việc đầu tiên của tháng đó bằng hình
thức chuyển khoản vào tài khoản của Bên A";
Mục III.1 Phụ lục A4 Hợp đồng quy định về tiền thuê như sau:
"Giá tiền thuê từ năm thứ 01 đến hết năm thứ 05 là: 310.918.041 VND/tháng.
Được tính bằng 953.400VND/m
2
/tháng (bằng chữ: Chín trăm năm mươi ba ngàn
bốn trăm đồng một mét vuông một tháng) nhân với Diện Tích Thuê: 326,115m
2
.
Giá tiền thuê từ năm thứ 06 đến hết năm thứ 10 sẽ đàm phán lại. Giá tiền thuê
sau khi đàm phán tăng không vượt quá 20%.
Tiền Thuê nêu trên chưa bao gồm Thuế GTGT và P dịch vụ. Trong trường hợp
có sự khác biệt giữa diện tích thuê và diện tích thực tế thì tiền thuê sẽ được điều
chỉnh tương ứng với diện tích thực tế."
Mục III.2 Phụ lục A4 Hợp đồng quy định về phí dịch vụ như sau:
“Phí dịch vụ cho việc sử dụng các dịch vụ và tiện nghi nêu tại Mục A Phụ lục
A6 do Bên cho thuê cung cấp là 40.715.458 VND/tháng (bằng chữ: Bốn mươi triệu
bảy trăm mười lăm nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng một tháng), chưa bao gồm
Thuế, được tính bằng đơn giá tính phí dịch vụ (124.850 VND/m2/tháng) nhân với
diện tích thực tế của phần diện tích thuê. Trong trường hợp có sự khác biệt giữa diện
tích thuê và diện tích thực tế thì phí dịch vụ sẽ được điều chỉnh tương ứng với diện
tích thực tế.”
Theo quy định Hợp đồng, mỗi tháng thuê Công ty C1 phải thanh toán cho Công
ty Đ số tiền thuê và phí dịch vụ tương ứng như sau:
4
+ Tiền Thuê: 310.918.041 VND/tháng
+ Phí Dịch Vụ: 40.715.458 VND/tháng
+ Tổng cộng: 351.633.499 VND/tháng (số tiền này chưa bao gồm VAT)
Tuy nhiên, từ tháng 05/2021 đến ngày 21/02/2022, Công ty C1 không thực hiện
nghĩa vụ thanh toán.
- Chi phí các dịch vụ cung cấp thêm từ ngày 21/06/2021 - 20/07/2021:
Mục B Phụ lục A6 của Hợp đồng quy định về chi phí các dịch vụ mà Công ty
Đ cung cấp thêm và Công ty C1 có nghĩa vụ thanh toán như sau:
"PHỤ LỤC A6 DỊCH VỤ VÀ TIỆN NGHI-PHÍ DỊCH VỤ
B. Các dịch vụ được cung cấp thêm trên cơ sở trả phí của bên thuê (ngoài phí
dịch vụ)
…
2. Điện do Bên thuê sử dụng và tiêu thụ tại phần diện tích thuê được tính theo
chỉ số đồng hồ đo. Tiền điện sẽ được Bên thuê thanh toán cho B cho thuê theo mức
giá điện dùng cho kinh doanh theo thông báo của Bên cho thuê vào từng thời điểm
như quy định tại phần C Phụ lục này.
…
4. Nước do Bên thuê tiêu thụ tại phần diện tích thuê sẽ được xác định theo chỉ
số đồng hồ đo nước do Bên cho thuê lắp đặt và theo mức giá nước dùng cho kinh
doanh theo thông báo của Bên cho thuê vào từng thời điểm".
Như vậy, Công ty C1 có nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ và chi phí ngoài phí
dịch vụ (điện, nước) cho Công ty Đ.
Tuy nhiên, trong giai đoạn tháng 06/2021 – 09/2021, Công ty C1 đã vi phạm
nghĩa vụ thanh toán với số tiền điện, nước phát sinh tại phần diện tích thuê là
1.065.921 đồng, cụ thể:
+ Tiền nước phát sinh (21/06/2021 - 20/07/2021): 431.430 đồng
+ Tiền điện phát sinh (21/08/2021 – 20/09/2021): 634.491 đồng.
- Từ căn cứ trên, Công ty Đ yêu cầu Công ty C1 thanh toán số tiền thuê, phí
dịch vụ (cùng thuế GTGT tương ứng) trong giai đoạn 01/05/2021 – 21/02/2022 là
3.201.189.742 đồng cùng tiền điện, nước phát sinh là: 1.065.921 đồng.
- Tiền lãi chậm trả trên phần giá trị nghĩa vụ vi phạm tạm tính đến ngày
01/04/2026, số tiền là 2.876.715.049 đồng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều III Phụ lục A4:
“Tiền thuê, phí dịch vụ, thuế Giá trị gia tăng được Bên thuê thanh toán cho Bên
cho thuê hàng tháng trong vòng 07 ngày làm việc đầu tiên của tháng đó bằng hình
thức chuyển khoản vào tài khoản của Bên A”
Trong trường hợp Công ty C1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán/chậm thanh toán,
khoản 8.5 Điều 8 Hợp đồng quy định về tiền lãi chậm trả như sau:
5
“8.5 Nếu Bên thuê chậm thanh toán bất kỳ khoản tiền nào, Bên thuê phải trả
cho Bên cho thuê tiền lãi tính theo lãi suất quá hạn đối với khoản chậm thanh toán
đó cho khoảng thời gian tính từ ngày đến hạn thanh toán cho đến ngày Bên thuê thực
tế thanh toán đầy đủ các khoản tiền đó nhưng không được quá 30 ngày kể từ ngày
đến hạn thanh toán. Việc Bên thuê thanh toán tiền lãi chậm thanh toán không ảnh
hưởng đến quyền của Bên cho thuê trong việc áp dụng các biện pháp xử lý, khắc
phục vi phạm này như quy định tại Điều 14 của Hợp đồng thuê.
Để làm rõ “Lãi suất quá hạn” nêu trên là lãi suất phạt do chậm thanh toán là
0.055%/ngày”.
Ngoài ra, Điều 306 Bộ Luật Thương mại cũng quy định về Quyền yêu cầu tiền
lãi do chậm thanh toán
Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh
toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền
yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên
thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp
có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
D1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng, Công ty Đ có quyền yêu
cầu Việt Tín thanh toán tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 01/04/2026 với mức lãi
suất chậm thanh toán 0,055%/ngày, số tiền là 2.876.715.049 VND, cụ thể:
Kỳ
thanh
toán
Giá trị
Lãi
suất
Ngày cuối
cùng
(tạm tính)
Số
ngày
chậm
thanh
toán
Tiền lãi
(VNĐ)
1.
Tháng
05/2021
1.611.813
0,055%
01/4/2026
1.783
1.580.624
2.
Tháng
06/2021
201.902.349
0,055%
01/4/2026
1.734
192.554.270
3.
Tháng
07/2021
386.796.849
0,055%
01/4/2026
1.725
366.973.510
4.
Tháng
08/2021
386.796.849
0,055%
01/4/2026
1.694
360.378.624
5.
Tháng
09/2021
386.796.849
0,055%
01/4/2026
1.655
352.081.832
6.
Tháng
10/2021
386.796.849
0,055%
01/4/2026
1.629
346.550.637
7.
Tháng
11/2021
386.796.849
0,055%
01/4/2026
1.602
340.806.704
6
8.
Tháng
12/2021
386.796.849
0,055%
01/4/2026
1.572
334.424.556
9.
Tháng
01/2022
386.796.849
0,055%
01/4/2026
1.541
327.829.669
10.
01/02/2
022 -
21/02/2
022
290.097.637
0,055%
01/4/2026
1.510
240.926.088
11.
Tiền
điện
21/8/20
21 -
20/9/20
21
634.491
0,055%
01/4/2026
1.637
571.264
12.
Tiền
nước
21/6/20
21 -
20/7/20
21
431.430
0,055%
01/4/2026
1.677
397.929
13.
Lãi
chậm
trả trên
các
khoản
đã
thanh
toán
9.307.369
TỔNG
2.876.715.049
- Tiền phạt bằng 08% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, số tiền là
2.184.770.892 đồng:
Mục ii Điều 14.2 (f) của Hợp đồng quy định về Vi phạm hợp đồng và phạt vi
phạm Hợp đồng như sau:
“14.2 Trong trường hợp (i) Bên Thuê không khắc phục vi phạm và/hoặc không
hoàn thành việc khắc phục vi phạm trong vòng mười (10) ngày làm việc kể từ khi
nhận được văn bản thông báo về vi phạm của Bên Cho Thuê hoặc một thời hạn khác
ghi trên thông báo này; hoặc (ii) vi phạm đó là không thể khắc phục được; hoặc (iii)
vi phạm đó vẫn tái diễn; hoặc (iv) chậm thanh toán bất kỳ khoản tiền nào, Bên Cho
Thuê sẽ được quyền áp dụng một hoặc các biện pháp sau:
…
f) Phạt vi phạm hợp đồng đối với Bên Thuê theo quy định sau:
7
…
(ii) Trường hợp Bên cho thuê thực hiện quyền chấm dứt Hợp đồng thuê do hành
vi vi phạm của Bên thuê, Bên thuê phải chịu phạt vi phạm Hợp đồng thuê. Trong
trường hợp này, Bên thuê phải trả cho B cho thuê số tiền tương đương 8% giá trị
phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”.
Như đã trình bày, do Công ty C1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Công ty Đ có
quyền yêu cầu Công ty C1 thanh toán khoản tiền phạt tương đương 8% giá trị phần
nghĩa vụ Hợp đồng mà Công ty C1 vi phạm, cụ thể:
+ Phạt vi phạm do không thực hiện thanh toán từ 01/05/2021 đến 21/02/2022 là:
245.546.174 đồng
Phạt vi phạm trên các tháng bắt đầu từ kỳ thuê 22/02/2022 đến khi hết hạn Hợp
Đồng: 1.939.224.718 đồng
Tổng giá tiền phạt vi phạm Hợp đồng mà Công ty C1 phải trả cho Công ty Đ là:
2.184.770.892 đồng.
- Khoản bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ gây ra, tạm tính từ
ngày 23/02/2022 đến 01/04/2026, số tiền là: 3.397.208.051 đồng
Theo quy định tại Điều 14.2 (e) Hợp đồng, Công ty Đ có quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại khi Công ty C1 chậm thanh toán bất kỳ khoản tiền nào, cụ thể:
“14.2 Trong trường hợp (i) Bên thuê không khắc phục vi phạm và/hoặc không
hoàn thành việc khắc phục vi phạm trong vòng mười (10) ngày làm việc kể từ khi
nhận được văn bản thông báo về vi phạm của Bên cho thuê hoặc một thời hạn khác
ghi trên thông báo này; hoặc (ii) vi phạm đó là không thể khắc phục được; hoặc (iii)
vi phạm đó vẫn tái diễn; hoặc (iv) chậm thanh toán bất kỳ khoản tiền nào, Bên cho
thuê sẽ được quyền áp dụng một hoặc các biện pháp sau:
…
e) Yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Như đã trình bày, đến ngày 21/02/2022, Công ty C1 không thực hiện nghĩa vụ
thanh toán, không di dời tài sản, khôi phục, hoàn trả phần diện tích thuê cho Công ty
Đ nên Công ty Đ phải tự tiến hành di dời tài sản, khôi phục nguyên trạng phần diện
tích thuê trong thời gian từ ngày 21/02/2022 đến ngày 25/02/2022, đồng thời lập Vi
bằng ghi nhận về việc di dời tài sản của Công ty C1.
Do đó, Công ty Đ có quyền yêu cầu Công ty C1 bồi thường thiệt hại cho các thiệt
hại phát sinh từ hành vi vi phạm của Công ty C1 (bao gồm chi phí lập vi bằng, chi
phí thuê vận chuyển và tháo dỡ lưu kho, chi phí lưu kho tạm tính từ ngày 23/02/2022
đến 01/04/2026) trị giá: 3.397.208.051 đồng. Chi phí lưu kho được tạm tính đến ngày
01/04/2026, và sẽ tiếp tục được cập nhật đến ngày Công ty C1 di dời tài sản của Công
ty C1 ra khỏi nhà kho của Công ty Đ. Cụ thể như sau:
STT
Nội dung
Giá trị
Ghi chú
1.
Lập Vi bằng
29.700.000 VNĐ
2.
Thuê vận chuyển và tháo dỡ
lưu kho
60.000.000 VNĐ
8
3.
Lưu kho từ ngày 23/02/2022
tạm tính đến ngày
01/04/2026 (1498 ngày)
912.387 VNĐ
Đơn giá lưu kho
182.721
VNĐ/m
2
/tháng
TỔNG
3.397.208.051 VNĐ
Như vậy, nguyên đơn buộc Công ty C1 phải thanh toán tổng số tiền tạm tính
đến ngày 01/04/2026 là 11.660.949.656 VND (Mười một tỷ sáu trăm sáu mươi triệu
chín trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm năm mươi sáu đồng), cụ thể:
1. Tiền thuê, phí dịch vụ (và thuế GTGT tương ứng) từ 01/05/2021 –
21/02/2022, số tiền là: 3.201.189.742 đồng.
2. Tiền điện, nước phát sinh tại phần diện tích thuê: 1.065.921 đồng.
3. Tiền lãi chậm trả trên phần nghĩa vụ vi phạm với mức lãi suất 0,055%/ngày,
tạm tính tới ngày 01/04/2026, số tiền là: 2.876.715.049 đồng.
4. Tiền phạt vi phạm tương đương 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi
phạm: 2.184.770.892 đồng.
5. Tiền bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi vi phạm của Công ty C1, số
tiền là: 3.397.208.051 đồng.
* Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, nguyên đơn không đồng ý đề nghị Tòa
án xem xét bác yêu cầu vì không có căn cứ.
Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo, đại diện theo ủy quyền của bị đơn
trình bày:
Công ty TNHH C1 ( sau đây gọi là công ty C1) có ký Hợp đồng thuê mặt bằng
TTTM với Công ty cổ phần Đ ( gọi là Công ty Đ ) số: AR-TM/T124-T125-T126/5-
2017/HĐ/IMG-Việt Tín ngày 14/05/2017. Sau khi sửa chữa, làm mới nội thất ngày
19/05/2017 gian hàng chính thức đi vào hoạt động. Trong suốt quá trình hoạt động
các bên đều hợp tác và không có vướng mắc gì.
Tại cuộc họp ngày 23/09/2021, gồm có đại diện Công ty C1 (ông Hoàng Mạnh
H) và đại diện bên cho thuê (ông Hà Thanh T2), Công ty C1 có một số đề nghị:
+ Cần khắc phục và bảo đảm hệ thống điều hòa được hoạt động thông suốt vì
hoạt động kinh doanh của V rất cần điều kiện này.
+ Đề nghị phía IMG xem xét miễn tiền thuê nhà trong thời gian phải thực hiện
giãn cách theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ.
Tuy nhiên, Công ty Đ không chấp nhận và đến ngày 27/09/2021 Công ty Đ đã
khóa toàn bộ khu vực kinh doanh của Công ty C1 không cho hoạt động. Đồng thời
thu giữ toàn bộ tài sản của Công ty C1.
Ngày 01/3/2023 Công ty Đ khởi kiện Công ty C1 và yêu cầu bồi thường vì vi
phạm hợp đồng thuê.
Ngày 18/5/2023 Công ty C1 có đơn phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Công
ty Đ do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật buộc Công ty Đ phải bồi
thường giá trị tài sản gồm:
Giá trị thiết bị: 7.023.153.000 đồng
9
Hàng hóa khác: 5.983.570.833 đồng
Tổng cộng: 13.006.723.833 đồng
Bồi thường phần doanh thu lợi nhuận bị thiệt hại do hành vi giam giữ tài sản
của công ty Đ gây ra là 1.175.267.394,28 đồng/tháng x 12 tháng = 14.103.208.731,36
đồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của công ty Đ kiện công ty C1:
Chúng tôi chấp nhận trả tiền thuê mặt bằng và dịch vụ theo những tháng thực
tế thuê trừ hai tháng không được hoạt động do giãn cách xã hội đến ngày 27/9/2021
( ngày công ty Đ khóa cửa niêm phong tài sản của chúng tôi ). Ngoài khoản này
chúng tôi không chấp nhận thanh toán cho các khoản nào khác bởi căn cứ pháp lý
sau:
- Đại dịch C3 và lệnh tạm ngừng hoạt động các cơ sở kinh doanh là sự kiện bất
khả kháng theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, đó là sự kiện khách quan
mang lại không thể lường trước được, nằm ngoài phạm vi kiểm soát và không thể
khắc phục. Thực hiện chỉ thị 15 & 16 của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch thành phố
Hà Nội ký ban hành chỉ thị 17 ngày 23/7/2021 và công điện 18 ngày 06/8/2021 theo
đó từ 24 -7 đến 20-09-2021 toàn thành phố Hà Nội thực hiện giãn cách xã hội đóng
cửa hoàn toàn các dịch vụ không thiết yếu, việc kinh doanh của công ty C1 cũng phải
dừng hoạt động theo chỉ đạo của Chính P1 và Ủy ban nhân dân thành phố H.
- Điều 16.1 Trường hợp bất khả kháng tại hợp đồng ký giữa công ty Đ và
công ty C1 cũng nêu rõ “việc một trong các bên không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng, không đầy đủ hay chậm thực hiện các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng
thuê này do sự kiện bất khả kháng thì sẽ không bị coi là vi phạm hợp đồng thuê này..”
- Công ty C1 chúng tôi đã tha thiết đề nghị công ty Đ hỗ trợ chúng tôi miễn
giảm tiền thuê mặt bằng do ảnh hưởng đại dịch covid 19 ( gửi nhiều văn bản và đàm
phán trực tiếp ) nhưng công ty Đ không hợp tác.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Yêu cầu phản tố của Công ty C1 đối với Công ty Đ:
- Trong khoảng thời gian từ 14/5/2021 đến 27/9/2021 Công ty Đ đã cho Ban Q
cắt điều hòa của chúng tôi từ 19h đến 22h hàng ngày trong khoảng thời gian từ
14/5/2021 đến khi công ty Đ đơn phương khóa cửa không cho chúng tôi hoạt động
vào ngày 27/9/2021. Các khung giờ cắt điều hòa đó đều là những thời điểm chúng
tôi có lượng khách đông nhất. Quản lý cửa hàng phản ánh lên bộ phận chăm sóc
khách hàng và Ban quản lý TTTM thì đều không trả lời thỏa đáng hoặc trả lời “chỉ
có mình Việt Tín hoạt động và hệ thống C điều hòa nếu chạy thì chi phí rất tốn kém”
trong khi đó chúng tôi vẫn đang phải đóng đầy đủ phí dịch vụ theo hợp đồng thuê.
Như vậy, đây là hành vi có chủ ý gây ức chế, cố ý vi phạm hợp đồng thuê.
Thực hiện chỉ thị 15 & 16 của Thủ tướng Chính phủ Chủ tịch Ủy ban nhân dân
thành phố H ký ban hành chỉ thị 17 ngày 23/7/2021 và công điện 18 ngày 06/8/2021
theo đó từ 24-7 đến 20-09-2021 toàn thành phố thực hiện giãn cách xã hội đóng cửa
hoàn toàn các dịch vụ không thiết yếu và chúng tôi cũng buộc phải đóng cửa.
10
Từ ngày 21/9/2021, thành phố Hà Nội thực hiện theo chỉ thị 15 được phép mở
cửa thì chúng tôi vẫn bị tình trạng cắt điều hòa ở những khung giờ như trên. Sau quá
trình mở cửa trở lại chúng tôi đã có cuộc họp giữa đại diện Công ty C1 là ông Hoàng
Mạnh H và đại diện bên cho thuê là ông Hà Thanh T2 ngày 23/9/2021, nội dung cuộc
họp trao đổi về việc xin miễn giảm tiền thuê từ thời gian 24/7 đến hết 20/9/2021 và
các công nợ liên quan nhưng không được đại diện công ty Đ chấp thuận. Trong quá
trình vẫn tiếp tục đàm phán thì Ban quản lý dùng khóa cửa, niêm phong gian hàng
và thu giữ hàng hóa của chúng tôi từ ngày 27/9/2021.
- Ngày 01/11/2021, chúng tôi có gửi Đơn đề nghị xin thanh lý hợp đồng trước
thời hạn và sau đó ngày 15/11/2021 Công ty Đ có gửi văn bản số 94/2021/CV-IMG
yêu cầu chúng tôi phải thanh toán số tiền rất lớn mà IMG đổ lỗi cho chúng tôi là vi
phạm hợp đồng. Theo chúng tôi số tiền phải thanh toán đó là hoàn toàn không phù
hợp vì công ty Đ đã cố ý vi phạm hợp đồng, việc niêm phong khóa cửa chiếm giữ tài
sản bất hợp pháp của chúng tôi, đồng nghĩa công ty Đ đã đơn phương chấm dứt hợp
đồng trái pháp luật từ ngày 27/9/2021.
Căn cứ pháp lý IMG chiếm giữ tài sản trái pháp luật: Việc IMG viện dẫn
Điều 14.2 Hợp đồng để thu giữ, di dời và lưu giữ tài sản của Việt T3 là trái pháp luật,
xâm phạm quyền sở hữu tài sản được bảo vệ theo các Điều 158; Điều 163 Bộ luật
Dân sự năm 2015; thỏa thuận cho phép IMG chiếm giữ tài sản vi phạm điều cấm của
luật nên vô hiệu theo Điều 123 Bộ luật này. Tài sản bị thu giữ gồm nhiều máy móc
chuyên dụng cần được bảo trì theo quy trình nghiêm ngặt và hàng hóa kính mắt có
giá trị lớn; tuy nhiên, IMG đã đóng gói, di chuyển và bảo quản không đúng cách, dẫn
đến tài sản bị hư hỏng. Vì vậy, căn cứ các Điều 584; Điều 585 Bộ luật Dân sự năm
2015 và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
- Bác yêu cầu bồi thường vi phạm hợp đồng của nguyên đơn.
- Buộc Công ty Cổ phần Đ:
+ Trả lại khoản tiền mà Việt T3 đã đặt cọc;
+ Trả lại toàn bộ tài sản đã bị thu giữ trái pháp luật và bồi thường thiệt hại do
tự ý thu giữ tài sản trị giá 13.006.723.833 đồng (Mười ba tỷ, sáu triệu, bảy trăm hai
ba ngàn và tám trăm ba mươi ba đồng). Tài sản của công ty chúng tôi gồm các máy
móc có độ chính xác cao Cần được bảo trì liên tục, Việc công ty Đ thu giữ tài sản
của chúng tôi thời gian dài gây hỏng hóc không thể khôi phục được.
+ Bồi thường phần doanh thu lợi nhuận bị thiệt hại do hành vi giam giữ tài sản
của công ty Đ gây ra là 1.175.267.394,28 đồng/tháng x 12 tháng = 14.103.208.731,36
đồng
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đại diện theo ủy quyền bà T1
trình bày:
Chúng tôi thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng ủy thác dịch vụ quản lý vận hành
trung tâm thương mại số 01/2028/IMG-ACCTL/HĐUT giữa Công ty cổ phần Đ và
Công ty cổ phần A1. Theo đó, chúng tôi thực hiện thu giữ tài sản của bị đơn do bị
đơn không tự chuyển tài sản khỏi mặt bằng thuê theo các thông báo của nguyên đơn.
Việc thu giữ các tài sản của bị đơn đã được lập vi bằng số 307/2002/VB-TPLSĐ ngày
11
21/02/2022 của Văn phòng T6. Theo đó, có kiểm kê, đóng gói, niêm phong, di dời
tài sản về kho trung tâm thương mại A2. Chúng tôi quản lý tài sản của bị đơn từ khi
thu giữ đến nay tại kho trung tâm thương mại A2. Chúng tôi cam kết tài sản thu giữ
của bị đơn vẫn nguyên trạng từ khi thu giữ đến nay như thể hiện tại vi bằng đã lập.
Tại phiên tòa:
* Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, nguyên đơn có thay đổi
một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể :
- Nguyên đơn bổ sung yêu cầu bị đơn phải bồi thường do đơn phương chấm
dứt hợp đồng;
- Nguyên đơn xin rút yêu cầu buộc bị đơn phải trả tiền thuê mặt bằng và phí
dịch vụ từ tháng 11/2021 đến ngày 21/02/2022;
- Nguyên đơn xin rút yêu cầu buộc bị đơn phải trả tiền phạt vi phạm tương
đương 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm;
Sau khi thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện thì yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn như sau:
1. Nguyên đơn xác nhận thời gian chấm dứt hợp đồng là trước ngày
01/11/2021 theo Đơn đề nghị chấm dứt hợp đồng trước thời hạn của bị đơn.
2. Công ty Đ giảm 50% số tiền thuê mặt bằng trong giai đoạn thực hiện giãn
cách xã hội theo chỉ thị 15 & 16 của Thủ tướng Chính phủ và chỉ thị 17 ngày
23/7/2021 của Chủ tịch U, tính từ ngày 24/7/2021 đến ngày 20/9/2021 là 59 ngày;
Đối với phí dịch vụ vẫn giữ nguyên số tiền là 40.715.458 VND/tháng ( Chưa bao
gồm thuế giá trị gia tăng). Cụ thể:
- IMG giảm 50% tiền thuê giai đoạn giãn cách từ ngày 24/7/2021 - 31/7/2021
tương đương số tiền 45.601.313 đồng.
- IMG giảm 50% tiền thuê giai đoạn giãn cách từ ngày 01/8/2021 - 30/8/2021
tương đương số tiền 171.004.923 đồng.
- IMG giảm 50% tiền thuê giai đoạn giãn cách từ ngày 01/9/2021 - 20/9/2021
tương đương số tiền 114.003.282 đồng.
Tổng số tiền thuê mặt bằng được giảm là 330.609.518 đồng.
Sau khi giảm trừ, Công ty C1 còn phải thanh toán cho Công ty Đ là
1.420.092.041 đồng.
Tổng số tiền Công ty C1 phải thanh toán cho Công ty Đ tạm tính đến ngày
17/04/2026 là 4.813.097.639 đồng, trong đó:
1.Tiền T4, Phí Dịch V1 (và thuế GTGT tương ứng) từ ngày 01/05/2021 đến
ngày 31/10/2021 là 1.420.092.041 đồng.
2. Tiền điện, nước phát sinh tại phần diện tích thuê là 1.065.921 đồng;
3. Tiền lãi chậm trả trên phần nghĩa vụ thanh toán vi phạm với lãi suất
20%/năm, tạm tính đến ngày 17/04/2026 là 1.324.598.590 đồng.
4. Tiền bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn
do vi phạm của Công ty C1 tạm tính đến ngày 17/04/2026 là 1.054.900.497 đồng.
12
5. Các chi phí phát sinh tổng cộng là 1.012.440.591 đồng (Chi phí lập vi bằng
là 29.700.000 đồng; Chi phí thuê vận chuyển và tháo dỡ lưu kho là 60.000.000; Chi
phí lưu kho là 922.740.591 đồng).
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 33/2026/KDTM-ST ngày
17/4/2026, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Đ đối với Công
ty TNHH C1 theo Hợp đồng Thuê mặt bằng TTTM có thời hạn số AR-TM/T124-
T125-T126/5-2017/HĐ/IMG-VIỆT TÍN ngày 14/05/2017 và các Phụ lục Hợp đồng
kèm theo.
2. Buộc Công ty TNHH C1 phải thanh toán cho Công ty cổ phần Đ tổng số tiền
tạm tính đến ngày 17/4/2026 là 5.843.365.514 đồng (Năm tỷ tám trăm bốn mươi ba
triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm mười bốn đồng). Trong đó, Công ty
TNHH C1 đã đặt cọc số tiền 1.030.267.875 đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu
hai trăm sáu mươi bảy nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng) cho Công ty cổ phần Đ.
Công ty TNHH C1 còn phải trả Công ty cổ phần Đ 4.813.097.639 đồng (Bốn
tỷ tám trăm mười ba triệu không trăm chín mươi bảy nghìn sáu trăm ba mươi chín
đồng), gồm:
- Tiền nợ gốc là 1.420.092.041 đồng (Một tỷ bốn trăm hai mươi triệu không
trăm chín mươi hai nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng).
- Tiền điện, nước phát sinh tại phần diện tích thuê là 1.065.921 đồng (Một triệu
không trăm sáu mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi mốt đồng) ;
- Tiền lãi chậm trả là 1.324.598.590 đồng (Một tỷ ba trăm hai mươi tư triệu năm
trăm chín mươi tám nghìn năm trăm chín mươi đồng).
- Tiền bồi thường thiệt hại do vi vi phạm hợp đồng là 1.054.900.497 đồng (Một
tỷ không trăm năm mươi tư triệu chín trăm nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).
- Các chi phí phát sinh tổng cộng là 1.012.440.591 đồng (Một tỷ không trăm
mười hai triệu bốn trăm bốn mươi nghìn năm trăm chín mươi mốt đồng).
- Chi phí lưu kho hàng hóa của Công ty cổ phần Đ tiếp tục được tính cho đến
khi Công ty TNHH C1 di dời tài sản khỏi nhà kho lưu giữ.
3. Đình chỉ yêu cầu của Công ty cổ phần Đ buộc Công ty TNHH C1 phải trả
phạt vi phạm tương đương 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm là
1.420.092.041 đồng (Một tỷ bốn trăm hai mươi triệu không trăm chín mươi hai nghìn
không trăm bốn mươi mốt đồng);
Đình chỉ yêu cầu của Công ty cổ phần Đ buộc Công ty TNHH C1 phải trả tiền
thuê mặt bằng và phí dịch vụ từ tháng 11/2021 đến ngày 21/02/2022.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty TNHH C1 yêu cầu Tòa án
giải quyết buộc Công ty cổ phần Đ bồi thường thiệt hại số tiền 27.109.932.564,36
đồng;
Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH C1 được nhận lại tài sản hiện Công ty
cổ phần Đ đang lưu giữ.
5. Về tiền cọc: Công ty cổ phần Đ được hưởng số tiền cọc là 1.030.267.875
13
đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn tám trăm bảy
mươi lăm đồng) của Công ty TNHH C1 đã đặt cọc.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn tiếp tục phải trả lãi theo
thuận cho đến khi tất toán khoản nợ.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền thi hành án và quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 24/4/2026, bị đơn là Công ty TNHH C1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm.
Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 11/9/2026, người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn trình bày:
Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đối với phần Bản án sơ thẩm xác định Việt T3 vi
phạm Hợp đồng thuê và buộc Việt Tín phải chịu các nghĩa vụ tài chính phát sinh do
lỗi vi phạm hợp đồng, cũng như việc bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn. Theo người đại diện ủy quyền của bị đơn, tại điểm e khoản 15.2 Hợp
đồng quy định, Hợp đồng chấm dứt khi xảy ra sự kiện bất khả kháng thuộc trường
hợp quy định tại Điều 16.3. Điều 16.3 cho phép một trong các bên chấm dứt Hợp
đồng nếu sau 03 tháng liên tiếp kể từ ngày xảy ra sự kiện bất khả kháng mà bên chịu
ảnh hưởng không thể khắc phục được hậu quả. Dịch bệnh Covid-19 phát sinh sau
khi các bên ký kết Hợp đồng, là sự kiện khách quan, nằm ngoài ý chí và khả năng
kiểm soát của V. Quyết định số 447/QĐ-TTg ngày 01/4/2020 của Thủ tướng Chính
phủ công bố dịch Covid-19 trên phạm vi toàn quốc, xác định thời gian xảy ra dịch từ
ngày 23/01/2020. Trong thời gian dịch bệnh, V phải thực hiện các biện pháp phòng,
chống dịch bắt buộc của cơ quan nhà nước, đặc biệt phải đóng cửa gian hàng theo
Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 23/7/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố
H, làm cho hoạt động kinh doanh bị đình trệ và hậu quả kéo dài không thể khắc phục.
Tại thời điểm Hợp đồng chấm dứt ngày 02/11/2021, Quyết định số 447/QĐ-TTg vẫn
còn hiệu lực và đến ngày 29/10/2023 mới bị bãi bỏ bởi Quyết định số 1269/QĐ-TTg.
Từ những căn cứ trên, V cho rằng Hợp đồng chấm dứt do sự kiện bất khả kháng theo
điểm e khoản 15.2 dẫn chiếu Điều 16.3, không phải do lỗi vi phạm của Việt T3. Bị
đơn đồng ý về thời điểm Hợp đồng chấm dứt từ ngày 02/11/2021 và không kháng
cáo về nội dung này, nhưng đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại căn cứ chấm dứt Hợp
đồng và các hậu quả tài chính mà cấp sơ thẩm xác định phát sinh từ lỗi của V.
Đối với tiền thuê mặt bằng, phí dịch vụ, tiền điện, nước và lãi chậm thanh toán, V
xác định có trách nhiệm thanh toán các nghĩa vụ thực tế phát sinh đến thời điểm Hợp
đồng chấm dứt. Do đó, bị đơn tự nguyện rút kháng cáo đối với 1.420.092.041 đồng
tiền thuê mặt bằng, phí dịch vụ; 1.065.921 đồng tiền điện, nước và 1.324.598.590
đồng tiền lãi chậm thanh toán, tổng cộng 2.745.756.552 đồng; đề nghị giữ nguyên
quyết định của Bản án sơ thẩm đối với các khoản tiền này.
Đối với khoản tiền 1.054.900.497 đồng, tương đương 03 tháng tiền thuê và phí dịch
vụ, V giữ nguyên kháng cáo. Bị đơn cho rằng khoản tiền này là hậu quả áp dụng đối
với trường hợp Hợp đồng chấm dứt do lỗi vi phạm; trong khi Hợp đồng giữa các bên
14
chấm dứt do sự kiện bất khả kháng theo điểm e khoản 15.2 và Điều 16.3, Việt T3
không có lỗi làm chấm dứt Hợp đồng. Vì vậy, bị đơn đề nghị không buộc Việt Tín
thanh toán khoản tiền nêu trên.
Đối với tiền đặt cọc, V xác định IMG đang giữ 1.030.267.875 đồng. Do Hợp đồng
chấm dứt vì sự kiện bất khả kháng, V cho rằng IMG không có căn cứ giữ lại toàn bộ
tiền đặt cọc. Tuy nhiên, trên tinh thần thiện chí, chia sẻ khó khăn với IMG và mong
muốn giải quyết dứt điểm vụ án, Việt T3 tự nguyện rút một phần kháng cáo, chấp
nhận để IMG giữ lại 50% tiền đặt cọc và chỉ yêu cầu được hoàn trả 515.133.938 đồng
còn lại.
Đối với chi phí lập vi bằng 29.700.000 đồng, chi phí tháo dỡ, vận chuyển 60.000.000
đồng và chi phí lưu kho 922.740.591 đồng, tổng cộng 1.012.440.591 đồng, Việt T3
cho rằng việc IMG đơn phương lựa chọn đơn vị thực hiện, xác định đơn giá và
phương thức lưu giữ tài sản mà không có sự tham gia, thống nhất của Việt T3 là chưa
bảo đảm tính khách quan và minh bạch. Mặc dù vậy, nhằm thể hiện thiện chí và chia
sẻ một phần chi phí thực tế phát sinh, V tự nguyện rút kháng cáo đối với 50% tổng
số chi phí nêu trên, chấp nhận thanh toán 506.220.296 đồng; đồng thời đề nghị IMG
phối hợp kiểm kê, bàn giao lại toàn bộ tài sản để chấm dứt việc tiếp tục phát sinh chi
phí lưu kho.
Đối với yêu cầu phản tố, Việt T3 giữ nguyên và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
chấp nhận. Trên cơ sở xác định lại căn cứ chấm dứt Hợp đồng, phạm vi rút kháng
cáo và các khoản tiền còn tranh chấp, Việt T3 đề nghị Hội đồng xét xử tính lại nghĩa
vụ thanh toán cuối cùng của bị đơn đối với IMG.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 25/9/2026: Người đại diện theo ủy quyền của Công
ty cổ phần Đ và Công ty TNHH C1 cùng đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên
tòa để các bên có thêm thời gian thương lượng, thống nhất phương án giải quyết toàn
bộ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận đề nghị tạm ngừng phiên tòa của các đương sự.
Sau khi thảo luận, xét thấy đề nghị của các đương sự là tự nguyện và phù hợp với
quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa.
Tại phiên tòa phúc thẩm tiếp tục ngày 29/9/2026: Người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn và bị đơn xác nhận các bên đã cùng lập Biên bản thỏa thuận về việc
giải quyết toàn bộ vụ án vào ngày 25 tháng 9 năm 2026; đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 33/2026/KDTM-ST ngày
17/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội theo hướng công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự.
Nội dung thỏa thuận cụ thể như sau:
1. Các bên cùng thống nhất, Công ty TNHH C1 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty
cổ phần Đ các khoản giá trị sau:
1.1. Tiền nợ gốc Tiền thuê, P dịch vụ trị giá: 1.420.092.041 đồng;
1.2. Tiền dịch vụ và tiện nghi (điện, nước) phát sinh tại diện tích thuê trị giá:
1.065.921 đồng.
15
1.3. Tiền lãi do chậm thanh toán tính đến ngày xét xử 25/09/2026 là: 1.449.971.979
đồng (IMG thống nhất không tiếp tục tính lãi chậm thanh toán đối với tiền nợ gốc
Tiền thuê, P dịch vụ trị giá: 1.420.092.041 đồng và tiền điện, nước trị giá: 1.065.921
đồng).
1.4. Tiền chi phí lập vi bằng trị giá: 29.700.000 đồng
1.5. Chi phí thuê vận chuyển và tháo dỡ để lưu kho trị giá: 60.000.000 đồng
1.6. Tổng chi phí lưu kho hàng hóa tính đến ngày xét xử sơ thẩm (17/04/2026) trị
giá: 922.740.571 đồng, hai bên thống nhất Công ty C1 phải chịu một nửa chi phí lưu
kho trị giá: 461.370.286 đồng (Công ty Đ thống nhất chi phí lưu kho hàng hóa chỉ
tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 17/04/2026).
1.7. Công ty Đ không yêu cầu Việt T3 phải thanh toán khoản tiền 1.054.900.497
đồng, tương đương 03 tháng tiền thuê và phí dịch vụ.
1.8 Hai bên thống nhất, Công ty Đ không phải bồi thường theo nội dung yêu cầu
phản tố của Công ty C1 với tổng số tiền là 27.109.932.564 đồng.
Tổng cộng Công ty cổ phần Đ và Công ty TNHH C1 có nghĩa vụ thanh toán cho
Công ty cổ phần Đ khoản tiền trị giá: 3.422.200.226 đồng (“Giá trị Thỏa thuận”).
2. Công ty TNHH C1 hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ thanh toán Giá trị thỏa thuận
muộn nhất vào ngày 25/10/2026. Quá thời hạn nêu trên, kể từ ngày 26/10/2026, nếu
Công ty C1 không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận thì Công ty C1
phải chịu lãi suất đối với số tiền còn phải trả là 3.422.200.226 đồng, tương ứng với
thời gian chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật
Dân sự.
3. Công ty Đ và Công ty C1 cùng thống nhất, Công ty Đ được hưởng toàn bộ số tiền
cọc là 1.030.267.875 đồng mà Công ty C1 đã đặt cọc thực hiện Hợp đồng. Hai bên
thống nhất khoản tiền này không nằm trong Giá trị thỏa thuận của Biên bản này và
không được đối trừ vào khoản Công ty C1 phải thanh toán.
4. Về hoàn trả lại tài sản: Hai bên thống nhất, Công ty Đ có nghĩa vụ hoàn trả cho
Công ty C1 toàn bộ tài sản hiện do Công ty Đ đang quản lý, lưu giữ tại kho của tòa
nhà Artemis theo danh mục, số lượng và tình trạng được ghi nhận theo Biên bản xem
xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/08/2025 và Bảng kê tài sản kèm theo. Thời hạn hoàn
trả là 10 ngày kể từ ngày Công ty C1 hoàn tất thanh toán Giá trị thỏa thuận và lãi
(nếu có). Công ty C1 có trách nhiệm phối hợp với Công ty Đ kiểm đếm, tiếp nhận và
vận chuyển tài sản, hai bên lập biên bản giao nhận. Trường hợp Công ty C1 không
thực hiện việc di dời tài sản thì phải tiếp tục chịu phí lưu kho cho đến ngày thực tế
di dời tài sản.
5. Trường hợp các bên vi phạm nghĩa vụ tại Biên bản này thì bên còn lại có quyền
đề nghị Cơ quan thi hành án thi hành.
6. Các bên cam kết bảo mật toàn bộ nội dung thỏa thuận này.
7. Về án phí đối với nội dung thỏa thuận nêu trên của các bên, đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định pháp luật.
16
Ngoài các quyền và nghĩa vụ được xác định trong văn bản này, các bên không còn
yêu cầu tòa án giải quyết bất kỳ nội dung nào khác phát sinh từ Hợp đồng thuê mặt
bằng TTTM có thời hạn số AR-TM/T124-T125-T126/5-2017/HĐ/IMG-VIỆT TÍN
và các phục lục Hợp đồng kèm theo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quan điểm và đề xuất
hướng giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng:
+ Đơn kháng cáo của bị đơn làm và nộp trong thời hạn luật định, đã nộp dự phí
kháng cáo. Như vậy, kháng cáo là hợp lệ, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý
và giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 285
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và
những người tham gia tố tụng:
Từ khi thụ lý và trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công
đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn
bị xét xử phúc thẩm đảm bảo theo quy định tại Điều 286 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa
án đã chuyển hồ sơ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát đúng thời
hạn theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, Bị
đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành quy định tại các Điều 70,
Điều 71; Điều 72 và Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đai diện Công ty cổ phần Đ và đại diện Công ty TNHH C1
đã tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự
là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Do đó, căn cứ vào Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử sửa
Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 33/2026/KDTM-ST ngày 17/4/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Công ty cổ
phần Đ khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH C1 thanh toán tiền thuê, phí dịch vụ, tiền
điện, nước, lãi chậm trả và các chi phí phát sinh từ Hợp đồng thuê mặt bằng Trung
tâm thương mại ngày 14/5/2017; bị đơn có yêu cầu phản tố, đề nghị nguyên đơn trả
lại tài sản và bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc niêm phong, di dời, lưu giữ tài
sản. Các yêu cầu nêu trên đều phát sinh trực tiếp từ quá trình thực hiện và chấm dứt
Hợp đồng thuê mặt bằng giữa hai doanh nghiệp nhằm mục đích lợi nhuận, do đó
thuộc tranh chấp kinh doanh, thương mại theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân
sự và được điều chỉnh bởi Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015.
17
Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là Công ty TNHH C1 có trụ sở tại số G, ngõ A
đường L, phường L, quận Đ, thành phố H. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35
và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận
Đống Đa, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội) thụ lý, giải
quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.
+ Sau khi xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH C1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản
án. Việc kháng cáo được thực hiện trong thời hạn luật định, đơn do người đại diện
hợp pháp của Công ty K1; đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ các Điều
272; Điều 273; Điều 274; Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, xác định kháng cáo
của bị đơn là hợp lệ. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án theo
thủ tục phúc thẩm là đúng thẩm quyền.
+ Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho
các đương sự. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn đã có mặt theo Giấy triệu tập. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về tính pháp lý của Hợp đồng thuê mặt bằng
Ngày 14/5/2017, Công ty cổ phần Đ và Công ty TNHH C1 đã ký Hợp đồng thuê mặt
bằng Trung tâm thương mại số AR-TM/T124-T125-T126/5-2017/HĐ/IMG-VIỆT
TÍN, theo đó Công ty C1 thuê các gian hàng T124, T125 và T126 tại tầng 1 Trung
tâm thương mại, văn phòng V3 (gọi tắt là Tòa nhà A) để kinh doanh. Ngoài ra, các
bên còn ký các Phụ lục hợp đồng, quy định cụ thể về diện tích, thời hạn thuê, tiền
thuê, phí dịch vụ, tiền đặt cọc và quyền, nghĩa vụ của mỗi bên.
Việc quản lý, vận hành Tòa nhà A được Công ty Đ ủy thác cho Công ty cổ phần Đ1
theo Hợp đồng ủy thác dịch vụ quản lý, vận hành Trung tâm thương mại số
01/2018/IMG-ACCTL/HĐUT ngày 24/4/2018. Công ty Đ1 trực tiếp thực hiện việc
quản lý gian hàng, thu giữ, di dời và lưu giữ tài sản của V, vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm
đưa Công ty Đ1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
là cần thiết.
Xét về hình thức và nội dung: Hợp đồng được lập thành văn bản, do người đại diện
hợp pháp của doanh nghiệp ký kết trên cơ sở tự nguyện; mục đích và nội dung không
vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Quá trình giải quyết vụ án, các
bên đương sự đều xác nhận những nội dung thỏa thuận đã được giao kết và thực tế
Hợp đồng đã được thực hiện trong thời gian dài. Do đó, căn cứ các Điều 117; Điều
472; Điều 473; Điều 474; Điều 477; Điều 478; Điều 479; Điều 480 và Điều 481 Bộ
luật Dân sự năm 2015; các Điều 17; Điều 18; Điều 25; Điều 26; Điều 27; Điều 28 và
Điều 29 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, xác định Hợp đồng thuê mặt bằng
Trung tâm thương mại S-TM/T124-T125-T126/5-2017/HĐ/IMG-VIỆT TÍN có hiệu
lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với các bên.
[3]. Về nội dung kháng cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 29/9/2026, Công ty cổ phần Đ và Công ty TNHH
C1 thống nhất xác nhận: Trong thời gian Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa, các
bên đã tự nguyện thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ
18
án và được ghi nhận tại Biên bản thỏa thuận của các đương sự ngày 25/9/2029. Trên
cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Xét thấy, nội dung thỏa thuận của các đương sự tại Biên bản ngày 25/9/2026 là
hoàn toàn tự nguyện. Những người tham gia xác lập Biên bản đều là đại diện hợp
pháp, có đầy đủ thẩm quyền quyết định việc giải quyết vụ án trong phạm vi được ủy
quyền. Nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã
hội và đã xác định đầy đủ quyền, nghĩa vụ của các bên đối với toàn bộ nội dung tranh
chấp. Vì vậy, căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở sửa
bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Về án phí: Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án
tại phiên tòa phúc thẩm nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 30, Điều 147, Điều 148, Điều 300, khoản 2 Điều
308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung theo Luật
số 85/2025/QH15;
Căn cứ Điều 328, Điều 357, Điều 468, Điều 472 và Điều 481 Bộ luật Dân sự
năm 2015;
Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của
pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 26 và khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 33/2026/KDTM-ST ngày
17/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội, như sau:
1. Công nhận sự thỏa thuận của Công ty Cổ phần Đ và Công ty TNHH C1 về
việc giải quyết toàn bộ vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 118/2026/TLPT-
KDTM ngày 10/8/2026 về “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng”, cụ thể:
1.1 Công ty TNHH C1 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần Đ tổng số
tiền 3.422.200.226 đồng (Ba tỷ bốn trăm hai mươi hai triệu hai trăm nghìn hai trăm
hai mươi sáu đồng), gồm:
- Tiền thuê mặt bằng và phí dịch vụ: 1.420.092.041 đồng (Một tỷ bốn trăm hai
mươi triệu không trăm chín mươi hai nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng);
- Tiền điện, nước phát sinh tại phần diện tích thuê: 1.065.921 đồng (Một triệu
không trăm sáu mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi mốt đồng);
- Tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 25/9/2026 là: 1.449.971.979 đồng (Một
19
tỷ bốn trăm bốn mươi chín triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm bảy mươi
chín đồng); Công ty Đ không tiếp tục tính lãi chậm thanh toán đối với tiền nợ gốc
gồm T5 thuê, phí dịch vụ và T5 điện nước.
- Chi phí lập vi bằng là: 29.700.000 đồng (Hai mươi chín triệu bảy trăm nghìn
đồng);
- Tiền chi phí tháo dỡ, vận chuyển tài sản là: 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu
đồng);
- Tổng chi phí lưu kho hàng hóa tính đến ngày xét xử sơ thẩm (17/4/2026) là:
922.740.571 đồng, Công ty C1 phải chịu một nửa chi phí lưu kho trị giá 461.370.286
đồng (Bốn trăm sáu mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi nghìn hai trăm tám mươi sáu
đồng);
1.2. Công ty TNHH C1 có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ số tiền 3.422.200.226
đồng (Giá trị theo thỏa thuận) chậm nhất vào ngày 25/10/2026. Kể từ ngày
26/10/2026, nếu Công ty TNHH C1 chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán thì còn
phải chịu lãi suất đối với số tiền còn phải trả, tương ứng với thời gian chậm trả, theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
1.3. Công ty cổ phần Đ được giữ lại và không phải hoàn trả toàn bộ số tiền đặt
cọc 1.030.267.875 đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu hai trăm sáu mươi bảy
nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng) mà Công ty TNHH C1 đã đặt cọc để thực hiện
Hợp đồng.
Khoản tiền đặt cọc này không thuộc tổng số tiền 3.422.200.237 đồng mà Công
ty TNHH C1 phải thanh toán và không được đối trừ vào nghĩa vụ thanh toán nêu tại
mục 1.1 tại phần Quyết định của bản án.
1.4. Công ty cổ phần Đ không yêu cầu Công ty TNHH C1 thanh toán số tiền
1.054.900.497 đồng (Một tỷ không trăm năm mươi tư triệu chín trăm nghìn bốn trăm
chín mươi bảy đồng), tương đương 03 tháng tiền thuê mặt bằng và phí dịch vụ.
1.5. Công ty cổ phần Đ không phải bồi thường cho Công ty TNHH C1 số tiền
27.109.932.564 đồng (Hai mươi bảy tỷ một trăm linh chín triệu chín trăm ba mươi
hai nghìn năm trăm sáu mươi tư đồng) theo yêu cầu phản tố của Công ty TNHH C1.
1.6. Công ty Cổ phần Đ có nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty TNHH C1 toàn bộ tài sản
hiện đang được Công ty Cổ phần Đ quản lý, lưu giữ tại kho của Tòa nhà A theo danh
mục, số lượng và tình trạng được ghi nhận tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 14/8/2025 và Bảng kê tài sản kèm theo. Thời hạn hoàn trả tài sản là 10 ngày kể
từ ngày Công ty TNHH C1 hoàn thành việc thanh toán số tiền 3.422.200.237 đồng
và tiền lãi chậm thanh toán (nếu có).
Công ty TNHH C1 có trách nhiệm phối hợp với Công ty cổ phần Đ kiểm đếm, tiếp
nhận và vận chuyển tài sản; các bên lập biên bản giao nhận tài sản. Trường hợp Công
ty TNHH C1 không thực hiện việc di dời tài sản thì phải tiếp tục chịu chi phí lưu kho
cho đến ngày thực tế di dời tài sản.
Ngoài các quyền và nghĩa vụ được xác định tại bản án này, Công ty cổ phần Đ và
Công ty TNHH C1 không còn yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung nào khác trong vụ
20
án phát sinh từ Hợp đồng thuê mặt bằng TTTM có thời hạn số AR-TM/T124-T125-
T126/5-2017/HĐ/IMG-VIỆT TÍN ngày 14/5/2017 và các Phụ lục kèm theo.
2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Công ty TNHH C1 phải chịu 100.444.005 đồng (Một trăm triệu bốn trăm bốn mươi
bốn nghìn không trăm linh năm đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với
nghĩa vụ thanh toán số tiền 3.422.200.226 đồng theo thỏa thuận của các đương sự.
Đối trừ với số tiền 61.000.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu đồng) tạm ứng án phí Công
ty TNHH C1 đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0071907 ngày
11/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Hà Nội, Công ty TNHH C1 còn phải nộp
39.444.005 đồng (Ba mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn không trăm linh
năm đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Công ty cổ phần Đ phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) án phí kinh doanh
thương mại sơ thẩm không có giá ngạch đối với nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho Công
ty TNHH C1.
Đối trừ với số tiền 57.000.000 đồng (Năm mươi bảy triệu đồng) tạm ứng án phí Công
ty cổ phần Đ đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0071781 ngày 20/4/2023
của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 2 – Hà Nội, hoàn trả Công ty cổ phần Đ số tiền 54.000.000
đồng (Năm mươi tư triệu đồng).
3. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Công ty TNHH C1 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm; được
hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 001173 ngày
15/5/2026 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Hà Nội.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Hà Nội;
- TAND khu vực 2 – Hà Nội;
- Phòng THADS khu vực 2 – Hà Nội;
- Các Đương sự;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hạnh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 213/2026/KDTM-PT Bản án số 213/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/KDTM-PT Bản án số 213/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất