Bản án số 952/2026/HS-PT ngày 30/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 952/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 952/2026/HS-PT ngày 30/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 952/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 952/2026/HS-PT Bản án số 952/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 952/2026/HS-PT Bản án số 952/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Ch ta phiên ta: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm;
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà: Bà Phạm Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh (Cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:
832/2026/TLPT-HS ngày 18 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo Lê Quang P, do có
kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2026/HS-ST ngày 12
tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo: Lê Quang P, sinh ngày 04/4/1976, tại tỉnh Quảng
Trị; căn cước số: ************; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã P, Thành phố
Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Ấp B, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp:
Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang D, sinh năm 1940 và bà Bùi Thị
D1 (đã chết); có vợ là Lê Thị G, sinh năm 1976; có 03 người con, lớn nhất sinh
năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: Tại Bản án số 25/2021/HS-ST ngày
04/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 07(bảy)
tháng tù và phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong
hình phạt tù ngày 24/9/2021, đến nay chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung;
tiền sự: Không; nhân thân: Theo Bản án số 105/2018/HS-PT ngày 10/10/2018 của
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”,
đã chấp hành xong hình phạt và án phí ngày 25/5/2020; bị cáo bị bắt tạm giam từ
ngày 20/11/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hại không có kháng cáo, không bị kháng
cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 952/2026/HS-PT
Ngày 30-9-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quang P và ông Lê Quang D là cha con ruột. Ngày 03/9/2025, P cùng
thợ hồ đến sửa chữa nhà cho cha ruột là ông Lê Quang D tại ấp B, xã P, Thành
phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi sửa chữa nhà xong, ông
D tổ chức uống rượu tại nhà và mời những người tham gia sửa chữa cùng ở lại.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, mọi người lần lượt ra về, chỉ còn ông D, bà Lê Thị
G (vợ của P) và P ở lại dọn dẹp.
Lúc này, P không chịu về nhà nghỉ mà tiếp tục ngồi trước thềm nhà ông D.
Ông D nhiều lần bảo P về nhà nghỉ ngơi nhưng P cho rằng cha mình đuổi về nên
nảy sinh bực tức, cự cãi với ông D. Trong lúc hai bên xảy ra xô xát, ông D dùng
tay đẩy P ra phía thềm nhà. P liền cầm một chậu hoa đặt trước thềm nhà đưa lên
định ném về phía ông D nhưng bị tuột tay rơi xuống phía sau lưng. Sau đó, P cúi
xuống nhặt chậu hoa tiếp tục ném về phía ông D nhưng không trúng làm chậu hoa
bị vỡ.
Thấy P có hành vi manh động nên ông D bỏ chạy vào trong nhà, để lại một
cây gậy baton bằng inox dài khoảng 80 cm, tay cầm nhựa dài khoảng 15 cm ở
trước thềm nhà. Khi ông D chạy đến cửa thì vấp ngã xuống nền nhà. Lúc này, P
nhặt cây gậy baton chạy đến dùng hai tay cầm gậy đánh hai cái từ trên xuống
trúng vùng mặt ông D, gây thương tích. Tiếp đó, P tiếp tục dùng cây gậy đánh
một cái trúng tay ông D. Sau khi gây thương tích, P bỏ cây gậy tại hiện trường rồi
đi về nhà.
Ông D được người thân đưa đi cấp cứu. Cùng ngày, Công an xã P tiếp nhận
tin báo về vụ việc, mời Lê Quang P đến làm việc. Quá trình làm việc, P đã thừa
nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ 19 mảnh vỡ của chậu cảnh và 01 cây gậy baton
bằng inox dài khoảng 80 cm, tay cầm nhựa dài khoảng 15 cm.
Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 68/2025/KLGĐTTCT-
PY.CS2 ngày 03/11/2025 của Trung tâm Pháp y Thành phố H, ông Lê Quang D
bị tổn thương cơ thể 44%. Cơ chế hình thành thương tích gồm: sẹo vùng trán giữa
hai cung mày; sẹo mi mắt trái; xuất huyết dưới nhện; tụ khí nội sọ; lún sọ trán;
gãy thành xoang trán hai bên; gãy bờ trên hốc mắt hai bên; gãy thành trong hốc
mắt trái; gãy xương chính mũi; vỡ nhãn cầu. Kết luận giám định xác định các
thương tích do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Đồng thời, kết luận giám định
xác định nếu không được cấp cứu, điều trị kịp thời thì thương tích của ông Đ
không có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng.
- Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 19 mảnh vỡ của chậu cảnh và
01 cây gậy baton bằng inox dài khoảng 80 cm, tay cầm nhựa dài khoảng 15 cm.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Quang Đ yêu cầu bị cáo Lê Quang
P bồi thường thiệt hại về sức khỏe và bù đắp tổn thất tinh thần với tổng số tiền
180.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường nhưng đến nay chưa thực hiện việc
bồi thường.
3
* Tại Cáo trạng số 51/CT-VKSHCM-KV ngày 28/7/2026, Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực 19, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Quang P về
tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2026/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
h khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 47 và 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa
đổi, bổ sung các năm 2017, 2024 và 2025);
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quang P phạm tội "Cố ý gây thương
tích".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Quang P 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2025.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật
chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16 tháng 8 năm 2026, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin
giảm tiền bồi thường trách nhiệm dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
ta trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định
nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục
phúc thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo: Chỉ vì mâu thuẩn trong cuộc sống gia
đình, bị cáo đã sử dụng 01 cây gậy baton bằng inox đánh nhiều cái vào vùng đầu,
mặt và tay của ông Lê Quang D (sinh năm 1940), là cha ruột của bị cáo đã già
yếu, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 44%. Hành vi của bị cáo thuộc
các trường hợp quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình
sự năm 2015. Tại Bản án số 25/2021/HS-ST ngày 04/5/2021, bị Tòa án nhân dân
huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 07 (bảy) tháng tù và phạt bổ sung
10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2021
bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung. Đến ngày thực hiện hành vi phạm
tội (ngày 03/9/2025), bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này thuộc
trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy
định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án nhân dân khu
vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản
1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, tuyên xử
phạt bị cáo mức án 07 (bảy) năm tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy
định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến sức
khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách
4
nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo đã sử dụng
hung khí nguy hiểm tác động nhiều lần vào vùng đầu, mặt là vùng trọng yếu trên
cơ thể bị hại, gây thương tích 44%. Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem
xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân đối với bị cáo. Do đó
mức hình phạt 07 năm tù mà cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình
tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Lê Quang P
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều
356 của Bộ luật Hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê
Quang P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2026/HS-ST ngày 12 tháng
8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị cáo không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận
kháng cáo cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên
đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội
dung bản án sơ thẩm, có đủ cơ sở xác định: khoảng 18 giờ ngày 03/9/2025, tại
nhà của ông Lê Quang D thuộc ấp B, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh, do mâu thuẫn
trong sinh hoạt gia đình, bị cáo lê Quang P đã sử dụng 01 gậy baton bằng inox
đánh nhiều cái vào vùng đầu, mặt và tay của ông Lê Quang D gây thương tích với
tỷ lệ tổn thương cơ thể 44%. Hành vi của bị cáo Lê Quang P đã đủ yếu tố cấu
thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ
luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
bị cáo Lê Quang P về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã
đánh giá tính chất, mức độ phạm tội và xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp
“tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo biết rõ việc dùng gậy baton đánh nhiều cái vào vùng
đầu, mặt và tay của bị hại là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả
thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hậu quả bị hại bị gây thương tích 44%.
Đặc biệt, bị hại là cha ruột của bị cáo, đã cao tuổi, sức khỏe suy giảm, cần được
con cháu yêu thương, kính trọng và phụng dưỡng. Hành vi đó không chỉ gây
thương tích nghiêm trọng cho bị hại mà còn đi ngược lại đạo lý, truyền thống hiếu
kính của dân tộc Việt Nam, thể hiện sự coi thường pháp luật, xem nhẹ sức khỏe,
5
tính mạng của người khác và nghĩa vụ của người con đối với cha mẹ, gây mất trật
tự trị an tại địa phương. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết
mới bổ sung cho yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy
mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng, đảm
bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa, giáo dục chung trong xã hội. Vì vậy,
cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thể sửa chữa bản thân
và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm. Do đó, không chấp nhận kháng cáo
của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3.2] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm mức bồi thường, xét thấy: Tại
phiên tòa sơ thẩm, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 180.000.000 đồng,
bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin
giảm mức bồi thường nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới. Do đó,
không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không
chấp nhận kháng cáo của bị cáo là cùng quan điểm với Hội đồng xét xử nên chấp
nhận.
[5] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp
nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Quang P. Giữ nguyên Bản án
hình sự sơ thẩm số 111/2026/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
h khoản 1 Điều 52; các Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Quang P 07 (bảy) năm tù về tội "Cố ý gây thương tích".
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2025.
2. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội
Bị cáo Lê Quang P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
6
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Phòng Hồ sơ - Công an TP.HCM;
- TAND khu vực 19 - TP.HCM;
- VKSND khu vực 19 - TP.HCM;
- Trại tạm giam Bố Lá (Cơ sở 1);
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Phòng THADS khu vực 19 - TP.HCM;
- Lưu hồ sơ vụ án, VP, 25. (54)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huỳnh Đức
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 952/2026/HS-PT Bản án số 952/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 952/2026/HS-PT Bản án số 952/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất