Bản án số 1262/2025/DS-PT ngày 23/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1262/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1262/2025/DS-PT ngày 23/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1262/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1262/2025/DS-PT Bản án số 1262/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1262/2025/DS-PT Bản án số 1262/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH 
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Quách Hữu Thái
Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Toại
Bà Mai Trần Cảnh
- Thư phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hải Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số 131 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến
Thành, Thành phố Hồ CMinh điểm cầu thành phần, sở 1 Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh; số 216, phường Rịa, Thành phố Hồ Chí Minh,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 127/2025/TLPT-DS ngày
26/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh), về việc “Tranh chấp di sản thừa kế, tranh chấp hợp
đồng dịch vụ và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.
Do Bản án dân sthẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 20/12/2024, của Tòa
án nhân dân thành phố Rịa, tỉnh Rịa Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân
khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4852/2025/QĐPT-DS
ngày 14 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15900/2025/QĐPT-
DS ngày 03/9/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số E S, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
Phường D, Thành phố Hồ Chí Minh).
Đại diện theo ủy quyền: Công ty L4
Trụ sở: Tầng F, số E N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
là Phường S, Thành phố Hồ Chí Minh)
TÒA ÁN NHÂN DÂN


  
Bản án số: 1262/2025/DS-PT
Ngày: 23-9-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
2
Đi din theo pháp luật: Ông Phạm Hồng M, chc vụ: Giám đốc (vắng mặt)
(Theo Giấy ủy quyền lập ngày 16/9/2022)
Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 2000 (có mặt)
Địa chỉ liên hệ: Tầng E Tòa nhà I, sI - A N, phường V, Quận C, Thành
phố Hồ Chí Minh (nay là Phường X, Thành phố Hồ Chí Minh).
(Theo Giấy ủy quyền lập ngày 06/6/2024)
Bị đơn: Ông Đỗ Ngọc H1, sinh năm 1965 (có mặt)
Địa chỉ: Số C Khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu
(nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Bích D, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ G, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu
(nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh)
(Theo Giấy ủy quyền lập ngày 26/7/2023)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Phước T1, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Số A B, Phường E, thành phố V, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay
phường V, Thành phố Hồ Chí Minh).
Đại diện theo ủy quyền: Bà Trịnh Thị H2, sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: Số B L, Phường H, thành phố V, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh)
(Theo Giấy ủy quyền lập ngày 26/4/2023)
2/ Bà Nguyễn Thị Bạch T2, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu
(nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh)
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Bích D, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ G, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu
(nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh)
(Theo Giấy ủy quyền lập ngày 13/5/2020)
3/ Ông Đỗ Ngọc S, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu
(nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh)
4/ Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1983 (có mặt)
5/ Bà Trần Thị Kim N, sinh năm 1973 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay là N,
3
Thành phố Hồ Chí Minh)
6/ Ông Lữ Bảo L, sinh năm 1975 (có mặt)
Địa chỉ: Số I P, tổ A, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Rịa -
Vũng Tàu (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh)
7/ Bà Đào Thị Mỹ D1, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Số G C, phường L, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh)
8/ Ông Nguyễn Phú S1, sinh năm 1963 (vắng mặt)
9/ Bà Hồ Thị H3, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số A đường C, Phường A, thành phố V, tỉnh Rịa - Vũng
Tàu (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh)
10/ Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số E S, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
phường D, Thành phố Hồ Chí Minh)
Đại diện theo ủy quyền: Công ty L4
Trụ sở: Tầng F, số E N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
là Phường S, Thành phố Hồ Chí Minh)
Đi diện theo pháp luật: Ông Phạm Hng M, chức vụ: Gm đốc (vắng mặt)
(Theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 06/6/2024)
Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 2000 (có mặt)
Địa chỉ liên hệ: Tầng E Tòa nhà I, sI - A N, phường V, Quận C, Thành
phố Hồ Chí Minh (nay là Phường X, Thành phố Hồ Chí Minh).
(Theo Giấy ủy quyền lập ngày 06/6/2024)
Người làm chứng: Ông Nguyễn Phước L1, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: Số F B, Phường E, thành phố V, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay là
phường V, thành phố Hồ Chí Minh)
Nời kháng cáo: Ngun đơn ông Nguyn Ngọc T, bị đơn ông ĐNgc
H1, người có quyền lợi, nghĩa vliên quan ông Lữ Bảo L, ông Nguyễn Phưc T1.

Tại đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông
Nguyễn Ngọc T và người đại diện hợp pháp trình bày:
Ông Nguyễn Ngọc T con của Đỗ Lệ T3 ông Nguyễn Ngọc A.
Ngày 13/3/2018, T3 chết không để lại di chúc. Ông T Nguyễn Thị S2
(là mẹ của T3) được xác định những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ
nhất của T3 theo Bản án phúc thẩm số 228/2019/DS-PT ngày 13/6/2019 của
4
Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Theo bản án phúc thẩm,
ông T và bà S2 được thừa kế quyền sử dụng thửa đất 961,2m
2
thuộc thửa 159, tờ
bản đồ số 21 phường L, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền shữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BE
4758745 do UBND thị xã B cấp ngày 20/6/2012 cho bà T3. Ngày 31/3/2020, Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CU 763413 đối với phần diện
tích 464,8m
2
thuộc thửa đất số 159 (nay là thửa 1557) tờ bản đồ số 21 phường L,
thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu cho ông T. Đối với phần diện tích đất còn
lại 464,8m
2
thuộc về S2 đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với
đất số CU 763412 ngày 31/3/2020. Ngày 26/3/2022, Nguyễn Thị S2 chết,
không để lại di chúc. S2 hai người con Đỗ Lệ T3 ông Đỗ Ngọc
H1. Bà S2 có chồng là ông Đỗ Ngọc T4, chết ngày 07/6/2003. Cha mẹ của bà S2
ông Nguyễn Văn N1, Thị C1 cũng đã chết từ rất lâu, không giấy
chứng tử nên không rõ ngày tháng năm mất. S2 chết để lại di sản gồm quyền
sử dụng thửa đất nêu trên, ngoài ra không còn tài sản nào khác. Thửa đất hiện do
ông H1 đang quản sdụng. Căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015,
ông H1 T3 mỗi người được hưởng ½ di sản của S2. Tuy nhiên, T3
chết trước S2 ông T người con duy nhất của T3 nên căn cứ quy định
của Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015, ông T là người thừa kế thế vị của T3
nên được quyền thừa kế ½ di sản của bà S2 mà bà T3 được hưởng. Từ đó, ông T
yêu cầu Tòa án tuyên ông T người thừa kế thế vị của Đỗ Lệ T3 được
hưởng ½ di sản của Nguyễn Thị S2 quyền sử dụng phần đất diện tích
464,8m
2
thuộc thửa 1558, tbản đồ s21 phường L, thành phố B theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số
CU 763412 cấp ngày 31/3/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị S2.
Bị đơn ông Đỗ Ngọc H1 và người đại diện hợp pháp trình bày:
Vào năm 1988, ông Đỗ Ngọc H1 cùng gia đình ông H1 (bao gồm: cha
ông Đỗ Ngọc T4, mẹ - Nguyễn Thị S2, Đỗ Lệ T3) cùng nhau nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của ông Đỗ Ngọc H4 diện tích 2.100m
2
thửa đất 159,
tờ bản đồ số 21 phường L, Thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
với giá trị mt lượng vàng 24k. Tại thời điểm này pháp luật về đất đai không cho
phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ông H1 và gia đình không thể thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thống nhất nhờ Đỗ
Lệ T3 người hiểu biết, nhanh nhạy tháo vát trong gia đình người đại diện
trên giấy tờ của gia đình ông thực hiện việc chuyển nhượng.
5
Cụ thể, vào ngày 28/02/1988, gia đình ông H1 yêu cầu gia đình ông H4 lập
01 tờ y quyền với nội dung cho T3 được toàn quyền thừa hưởng quyền sử
dụng đất nhưng không được chuyển nhượng tiếp cho người khác, với nội dung
là: Cháu tôi được trọn quyền thừa hưởng sử dụng trồng trọt Tôi xin cam kết
cho cháu tôi miếng vườn để canh tác và sau này không được chuyển khẩu về địa
chỉ nói trên”. Do đất của gia đình ông H1, các thành viên đồng quyền sử
dụng nên trong giấy ủy quyền này mới nội dung về việc không cho phép
T3 chuyển khẩu về địa chỉ nói trên.
Sau đó, vào ngày 28/7/1988, gia đình ông H4 có lập tiếp một giấy ủy quyền
cũng thể hiện nội dung vừa nêu trên có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn B
vào ngày 01/8/1988. Sau đó, vợ chồng ông H1, gia đình S2 xây dựng căn
nhà cấp 04 trên thửa đất này và sinh sống tại đây.
Đến năm 1998, Nhà nước chính sách cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho người dân tại tỉnh Rịa Vũng Tàu. Do bà Đỗ Lệ T3 đã có giấy
ủy quyền lập trước đó như thông tin nêu trên hiểu biết trong việc làm giấy tờ
nhà đất nên gia đình thống nhất để T3 thay mặt hộ gia đình thực hiện thủ tục
xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình. Do đất nguồn
gốc của hộ gia đình nên vào ngày 21/8/1998, Ủy ban Nhân dân tỉnh B cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00280QSDĐ/1856Q.Đ.T cho hộ Đỗ Lệ T3 tại thửa đất số 158,159 tờ bản đồ
số 21 với diện tích 2265,1m2 tọa lạc tại phường L, thị B (nay Thành phố
B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Lúc này, hộ gia đình bà Đỗ Lệ T3 bao gồm: ông Đỗ
Ngọc T4 (82 tuổi), Nguyễn Thị S2 (74 tuổi); ông Đỗ Ngọc H1 33 tuổi;
Nguyễn Thị Bạch T2 (33 tuổi), Đỗ Ngọc S (11 tuổi) Đỗ Lệ T3. Như vậy,
các đồng sở hữu quyền sử dụng đất tại thửa đất 158, 159 này bao gồm các thành
viên trong gia đình nói trên.
Quá trình sử dụng đất tranh chấp: Trên thực tế, những người sinh sống
quản trên thửa đất này từ lúc nhận chuyển nhượng, xây dựng nhà cho đến
hiện nay chỉ bao gồm vợ chồng ông Đỗ Ngọc H1 Nguyễn Thị Bạch T2, ông
Đỗ Ngọc T4 (đã mất), Nguyễn Thị S2 (đã mất) con trai ông H1 Đỗ
Ngọc S. Đỗ Lệ T3, mặc đứng trên giấy tờ nhưng hoàn toàn không sinh
sống trên thửa đất này. Điều này được thể hiện qua Sổ hộ khẩu số LT
680Q4143 do Nguyễn Thị S2 chủ hộ được cấp ngày 30/12/1995 được
sử dụng cho đến hiện nay lần cập nhật gần nhất vào ngày 25/11/2020 hoàn
toàn không có sự xuất hiện của bà Đỗ Lệ T3.
Trong quá trình chung sống với gia đình thì vợ chồng ông H1 đi làm kiếm
tiền đưa cho cha, mẹ bà S2 để chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ cũng như làm
6
chi phí việc bảo quản, giữ gìn thực hiện các nghĩa vụ thuế với nhà nước đối
với quyền sử dụng đất, nhà nêu trên.
Ngày 27/12/2010, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện thu hồi
thửa đất 158 với diện ch 82,1m
2
thửa đất 159 với diện tích 991,8m
2
để xây
dựng công trình đường Q thị xã B. Diện tích còn lại bao gồm là 1.191,2m
2
trong
đó 300m
2
đất ở. Do T3 người đứng tên chủ hộ trong Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nên số tiền bồi thường khi thu hồi đất do T3 lĩnh nhưng
thực tế gia đình thống nhất đưa cho S2 người sử dụng đtu bổ, sửa chữa
căn nhà.
Sau đó, vào năm 2011, T3 lợi dụng việc đứng tên chủ hộ trong giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên sự thiếu hiểu biết, lòng tin tưởng của
gia đình mà tự ý chuyển nhượng cho Nguyễn Thị A1 phần đất có diện tích
230m
2
không thông qua ý kiến của ông H1 và Nguyễn Thị S2. Sau khi
phát hiện sự việc này, ông H1 Nguyễn Thị S2 đã yêu cầu bà T3 thực hiện
thủ tục điều chỉnh lại người sử dụng đất hợp pháp thửa đất nêu trên cho cả ông
H1 và bà Nguyễn Thị S2 nhưng bà T3 đã đưa ra nhiều lý do khác nhau đơn cử
như việc báo cho ông H1Nguyễn Thị S2 việc Ủy ban Nhân dân chưa thực
hiện để trì hoãn sự việc này. Do tin tưởng vào mối quan hệ chị em trong gia đình
tập trung làm ăn sinh sống lo cho gia đình nên ông H1 vẫn không thực hiện
thúc giục T3 hoàn tất thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
159 cho các đồng sở hữu ông H1 Nguyễn Thị S2, Đỗ Lệ T3. Diện
tích thửa đất 159 tờ bản đồ số 21 này sau khi bị T3 chuyển nhượng trái phép
chỉ còn diện tích 961,2m
2
. Theo đó, gia đình ông H1 S2 vẫn tiếp tục
sinh sống tại đây.
Hiện trạng s dụng đất tranh chấp: Ngày 13/3/2018, Đỗ Lệ T3 chết.
Ngày 26/3/2022, bà Nguyễn Thị S2 chết. Trên đất, hiện nay chỉ còn gia đình ông
H1. Trong quá trình sử dụng đất, Đỗ Lệ T3 ông Nguyễn Ngọc T đã thực
hiện hành vi xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của ông H1 đối với quyền sử
dụng đất hợp pháp của ông H1 tại Thửa đất số 159 tờ bản đồ số 21 nêu trên.
Đỗ Lệ T3 hành vi gian dối trong khai, đăng biến động quyền sử dụng
đất: Vào năm 2017, Đỗ Lệ T3 phát sinh tranh chấp với ông Nguyễn Phú S3.
Lúc này, ông H1 và Nguyễn Thị S2 mới biết việc toàn bộ diện tích đất tại
thửa đất số 159 tờ bản đồ số 21 với diện tích đất 961,2m
2
của các đồng quyền sử
dụng đất gồm: ông H1, S2 bà T3 đã bị T3 mang đi cầm cố cho người
khác để vay tiền sdụng cho mục đích nhân. Việc cầm cố này chỉ do một
mình T3 thực hiện hoàn toàn không thông báo cho ông H1 Nguyễn
Thị S2 những người quyền sử dụng đất hợp pháp trong hộ gia đình được
biết. Bên cạnh đó, khi tham gia giải quyết vụ án tranh chấp này với tư cách
7
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông H1 mới được biết T3 đã tự ý
làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ hộ gia đình cho một
mình bà Đỗ Lệ T3 đứng tên người sdụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BE 475875 do
UBND Thị B cấp ngày 20/6/2012 đối với phần đất diện tích 961,2m
2
thửa
đất số 159 tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại phường L, Thị B, tỉnh Rịa - Vũng
Tàu. Hành vi gian dối trong kê khai, đăng ký biến động quyền sử dụng đất từ hộ
gia đình sang nhân Đỗ Lệ T3 là trái quy định pháp luật, xâm phạm đến
quyền sử dụng đất hợp pháp của ông H1 Nguyễn Thị S2 người cùng
quyền sử dụng đất đối với thửa đất 159 nêu trên. Cụ thể hành vi này của
Đỗ Lệ T3 đã vi phạm quy định tại Điều 106, Điều 108 và Điều 109 Bộ Luật Dân
sự 2005. Tuy nhiên, thời điểm mà ông H1 Nguyễn Thị S2 nhận biết sự
việc này xảy ra là đang trong giai đoạn tranh chấp giữa bà T3 và ông S1 nên ông
H1 Nguyễn Thị S2 đã thống nhất sẽ giải quyết hành vi vi phạm của T3
sau khi tranh chấp được giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà T3ông Nguyễn Ngọc T tiếp tục
thực hiện hoạt động kê khai gian dối. Tranh chấp trong vụ án giữa T3ông
S1 vẫn chưa được giải quyết thì vào ngày 13/3/2018, Đỗ Lệ T3 chết. Ông
Nguyễn Ngọc T - con ruột của bà T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của bà T3 đã tham gia vào giải quyết vụ án tranh chấp nêu trên. Mãi đến ngày
13/6/2019, tranh chấp nêu trên giữa Đỗ Lệ T3 ông Nguyễn Phú S3 mới
được giải quyết. Tuy nhiên, do ông H1 phải tập trung lao động để chăm lo cho
vợ con nên ông H1 hầu như không tham gia vào vụ án này. Nhưng theo thông
tin ông H1 được biết từ bà S2 thì Tòa án Nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí
Minh đã tuyên quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích là 961,2m
2
thuộc
thửa số 159 tờ bản đồ s21 tại phường L, thành phố B tỉnh Rịa Vũng Tàu
được chia cho bà Nguyễn Thị S2ông Nguyễn Ngọc T con của bà Đỗ Lệ T3
được thừa kế quyền sử dụng đất. Điều này xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp
của ông H1 bởi lẽ ông H1 người cùng quyền sử dụng đất tại phần đất
diện tích 961,2m
2
thuộc thửa số 159 này với Nguyễn Thị S2 Đỗ Lệ
T3 thể hiện qua nguồn gốc sử dụng đất đã nêu trên.
Đến khoảng cuối năm 2021, ông H1 mới được biết ông Nguyễn Ngọc T và
vợ - Nguyễn Thị Hồng P đã tự ý thực hiện khai tách thửa xin cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 763413, số vào sổ cấp GCN CS04378 cấp
cho ông Nguyễn Ngọc T ngày 31/3/2020. Sau đó, họ chuyển nhượng quyền sử
dụng với ông Nguyễn Hữu C bà Trần Thị Kim N theo Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất công chứng tại Phòng Công chứng số 02 tỉnh Rịa
Vũng Tàu ngày 09/4/2020. Hành vi này của ông T hành vi vi phạm pháp
8
luật. Bởi lẽ như nội dung phân tích ở trên, thì ông H1 là người có đồng quyền sử
dụng đất đối với thửa đất 159 cùng với Đỗ Lệ T3 Nguyễn Thị S2.
vậy, ông H1 nhận thấy việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T,
S2 nêu trên trái quy định pháp luật, xâm phạm đến quyền sử dụng đất của
ông H1 đối với thửa 159 (nay thửa 1557,1558) tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại
phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Từ những ltrên, ông H1 nhận thấy hiện nay ông Nguyễn Ngọc T yêu cầu
Tòa án giải quyết công nhận ông T người thừa kế thế vị của Đỗ Lệ T3
được hưởng ½ phần di sản của Nguyễn Thị S2 quyền sử dụng đất diện tích
464,8m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 763412, cấp cho
Nguyễn Thị S2 ngày 31/3/2020 là không có cơ sở.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Phước T1, ông H1 trình bày:
Ông Đỗ Ngọc H1 Nguyễn Thị Bạch T2 vợ chồng hợp pháp. Ông
H1 sống với bà bà Nguyễn Thị S2 từ nhỏ. Sau khi lập gia đình (năm 1985) thì cả
hai vợ chồng cùng với S2 từ đó cho đến nay. Ông cùng sinh sống trong
căn nhà của S2 xây dựng nằm thửa đất 159, tờ bản đồ số 21 phường L, thành
phố B. Quá trình chung sống thì vợ chồng ông H1, T2 đi làm kiếm tiền đưa
cho bà S2 để bà S2 muốn làm gì thì làm. Ông H1, bà T2 có một người con tên là
Đỗ Ngọc S, sinh năm 1987, sống với ông cho đến khi lập gia đình thì lên
thành phố Hồ Chí Minh sinh sống khoảng 02 đến 03 năm nay. Thời gian trên
đất, vợ chồng ông không tôn tạo hay xây dựng thêm. Ông H1, T2 được
biết trước đó T3 cũng vụ kiện liên quan đến thửa đất này và nhờ ông
Nguyễn Phước T1 làm đại diện trả phí cho ông T1, khi vụ án chưa kết thúc
thì T3 chết. Chính vậy mà ông T1 khởi kiện yêu cầu những thừa kế của
T3 trả số tiền trước đây T3 thuê ông T1. (Biên bản lấy lời khai ngày
19/02/2020). Ông H1 xác định việc Đỗ Lệ T3 nhờ ông T1 giúp đỡ T3
trong vụ kiện đối với ông Nguyễn Phú S3, Hồ Thị H3 nhưng ông H1 không
biết đến các nội dung của Hợp đồng ngày 02/3/2016. Việc ông H1 tên vào
Hợp đồng ngày 02/3/2016 theo yêu cầu của ông T1, ông H1 không được đọc
nội dung (chỗ T2 ông S cũng vậy). Tuy nhiên, qua xem xét quá trình giải
quyết tranh chấp giữa Đỗ Lệ T3 vợ chồng ông Nguyễn Phú S3 bà Hồ
Thị H3, ông H1 thừa nhận công sức của ông T1 trong việc thực hiện các công
việc nhằm đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T3 ở giai đoạn sơ thẩm trong
vụ án với ông S3, bà H3. Nhưng, việc ông T1 yêu cầu ông H1 thực hiện toàn bộ
nghĩa vụ trong Hợp đồng dịch vụ nhà đất bà Đỗ Lệ T3 và ông Nguyễn Phước T1
ký ngày 02/03/2016 là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi lẽ:
Thứ nhất, Hợp đồng dịch vụ nđất giữa Đỗ Lệ T3 ông Nguyễn
Phước T1 đã chấm dứt hiệu lực vào ngày 13/03/2018. Theo quy định tại khoản 3
9
Điều 424 Bộ luật dân sự 2005 (Văn bản có hiệu lực vào thời điểm T3 và ông
T1 Hợp đồng) thì Hợp đồng chấm dứt khi cá nhân giao kết hợp đồng chết
Hợp đồng phải do chính cá nhân đó thực hiện. Bà T3 được xác định là chết ngày
13/03/2018 nhưng những người thừa kế phần quyền và nghĩa vụ của bà T3
Nguyễn Thị S2, ông Nguyễn Ngọc T không thỏa thuận với ông Nguyễn
Phước T1 về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng dịch vụ với cách người thừa
kế quyền, nghĩa vụ của T3 sau thời điểm ngày 13/03/2018, đồng thời cũng
không văn bản ủy quyền để ông Nguyễn Phước T1 tiếp tục đại diện cho phía
bị đơn tiếp tục tham gia tố tụng giai đoạn phúc thẩm sau thời điểm ngày
13/03/2018. Do đó, căn cứ vào quy định nói trên thì Hợp đồng ngày 02/03/2016
được chấm dứt vào thời điểm ngày 13/03/2018 khi bà T3 qua đời. Khi đó quyền
nghĩa vụ của các bên được xác định phát sinh từ thời điểm Hợp đồng có hiệu
lực đến thời điểm Hợp đồng chấm dứt hiệu lực, tức từ ngày 02/03/2016 đến
ngày 13/03/2018. Trong đơn khởi kiện của mình, ông T1 yêu cầu phía ông H1
thực hiện các nghĩa vụ theo Hợp đồng ngày 02/03/2016 nh đến thời điểm hiện
nay trên sở mục đích của Hợp đồng đã đạt được theo Bản án phúc thẩm số
228/2019/DS-PT của Tòa án cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên
vượt qphạm vi quyền nghĩa vụ của các bên được xác lập theo Hợp đồng
theo quy định của pháp luật.
Th hai, nga v của pa ông H1 phải tương xứng với ng việc đã
được pa ông T1 thực hin trong phạm vi hợp đồng dịch v. Trong quá tnh
thực hiện Hợp đồng dịch vụ ny 02/03/2016, tại giai đoạn sơ thẩm, pa
nguyên đơn đã thực hiện c ng việc theo như thỏa thuận trong Hợp đồng
ngày 02/03/2016. Tuy nhiên, kết qucủa giai đoạn xét xử sơ thẩm v án tranh
chấp giữa bà T3 và ông S1, bà H3, Tòa án Nhân dân tỉnh Rịa Vũng Tàu
đã chấp nhận hn toàn u cầu khởi kiện ca ông ông Nguyễn Phú S3
Hồ Thị H3. Điều y có nghĩa là tại giai đon sơ thm ca v án ông Nguyễn
Phước T1 mới chỉ thực hiện được một phần của nghĩa v theo n hợp đồng,
mục đích của Hợp đồng vẫn chưa đạt được. Trong giai đoạn chuẩn bxét x
phúc thẩm v án tranh chấp giữa bà T3 ông S1, H3, từ ngày thụ
(27/04/2018) đến ngày diễn ra phn a xét x (ngày 13/06/2019) là hơn 14
tháng. Nhưng trong Quyết định đưa v án ra xét xsố 351/2018/QĐPT-DS
ngày 18/03/2019 kng th hiện thông tin ông T1 được a án triệu tập đ
tham gia phiên a. Điều y có nghĩa là trong giai đoạn chuẩn bt xử phúc
thm vụ án tranh chấp giữa bà T3 và ông S1, H3 thì ông T1 không có tham
gia và không thực hiện nga v cầnm theo trong Hợp đồng ngày
02/03/2016. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với sự thật kch quan quy
định ca pháp luật. Bởi lẽ, ông T1 đã chấm dứt tư cách đại diện theo y
10
quyền của bà T3 k t thời điểm ngày 13/03/2018 từ đó các quyền
nga vụ trong tố tụng của ông T1 b chấm dứt theo quy định tại Điều 589 Bộ
Luật dân s 2005. Trong khi đó, phiên a t xpc thẩm là phiên tòa có
nh chất quyết định vì phán quyết ca Tòa án cp pc thm hiu lực thi
nh ngay. Tuy nhiên, ông T1 đã không tham gia phn tòa pc thm đbảo
vệ quyền và li ích hợp pp của pa bà T3 được. vy, thnhận định
rằng, ông T1 đã kng thtiếp tục thực hiện các nga vụ của nh theo như
tha thuận trong Hợp đồng ny 02/03/2016 đã ký kết vi bà T3 tại giai đoạn
t xử pc thẩm ca v án tranh chấp giữa T3 và ông S1, bà H3.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 t
đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu
thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu
cầu đó căn cứ hợp pháp. Tính tới thời điểm hiện tại, ông T1 chưa cung
cấp được các tài liệu chứng cứ chứng minh về việc kết quả đạt được theo như
Bản án phúc thẩm số 228/2019/DS-PT của Tòa án cấp cao tại thành phố Hồ Chí
Minh đã tuyên là có sự đóng góp công sức của ông T1 tại giai đoạn phúc thẩm.
Đối với yêu cầu của ông T1 liên quan đến việc tuyên văn bản phân chia di
sản thừa kế giữa bà Nguyễn Thị S2 ông Nguyễn Ngọc T hiệu; tuyên hợp
đồng chuyển nhượng giữa ông Nguyễn Ngọc T ông Nguyễn Hữu C hiệu;
hủy đăng biến động trên GCN QSDĐ số CU 763413 cấp cho ông Nguyễn
Ngọc T (chỉnh sang tên cho ông Nguyễn Hữu C), ông H1 đồng ý ông H1
xác định Nguyễn Thị S2 không vào thủ tục phân chia di sản thừa kế cũng
như tách thửa.
Đối với ý kiến của ông Lữ Bảo L, ông H1 xác định không biết đến sự tồn
tại của Hợp đồng vấn pháp luật dịch vụ pháp ngày 20/11/2012 Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/11/2012 ông Lữ Bảo L
cung cấp. Ông H1 xác định không ký tên vào hai văn bản nói trên; không biết và
không liên quan đến việc giữa Đỗ Lệ T3 ông Lữ Bảo L. Do đó, ông H1
không đồng ý với toàn bộ ý kiến yêu cầu của ông Lữ Bảo L vì yêu cầu của
ông L không căn cứ pháp luật. Bởi lẽ: Trong vụ việc tranh chấp giữa Đỗ
Lệ T3 ông Nguyễn Phú S3, Hồ Thị H3 thì người bà T3 yêu cầu hợp
đồng dịch vụ ông Nguyễn Phước T1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 20/11/2012 giữa ông L và T3 cũng không tuân thủ quy định
pháp luật về mặt hình thức. Nội dung của hợp đồng cũng trái quy định pháp luật
vì tại thời điểm ký kết hợp đồng này, đất đã tranh chấp thì không được quyền
chuyển nhượng.
Các yêu cầu của ông Nguyễn Phước T1 không có cơ sở vì:
11
Th nht, Hợp đồng dịch vký giữa bà T3 ông T1 là hiệu ng
việc đòi lại nhà đất bảo v quyền lợi cho bà T3 được ông T1 thực hiện
bằng cách đi diện tham gia t tụng trong v án dân s tại a án nên được
xem là dịch vụ tham gia tố tụng, thuộc dịch vụ pháp lý của luật sư theo quy
định tại Điều 4 Luật Luật m 2006 (sửa đổi, bsung năm 2012). Do đó,
mặc dù Hợp đồng dịch vụ được thhiện dưới tên “Hợp đồng thỏa thuận dịch
vụ nhà đất nhưng v bản chất, Hợp đồng dịch vụ này cnh một hợp đồng
dịch v pp và ch luật sư hoặc người thực hiện trgiúp pháp lý đáp
ứng điều kiện để thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp . Ông T1, không
phải đối tượng đđiu kiện được phép theo quy định chun ngành, vẫn
cung cấp dịch vụ pháp cho bà T3 là trái với quy định Luật Luật Sư. Do đó,
n cquy định tại Điều 128 Bộ Luật Dân Sự m 2005 (nay là Điều 123 Bộ
luật Dân s năm 2015), Hợp đồng dịch v giữa ông T1 và bà T3 là vô hiệu.
Việc ông T bà S2 thực hiện việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của bà
T3 là thửa đt 159 và việc ông T thực hiện thủ tục chuyển nhượng thửa đất
1557 cho ông Nguyễn Hữu C, bà Trần Thị Kim N là giao dch dân skhông
vi phạm điều cấm ca luật, kng trái đạo đức xã hội hiệu lực thc hiện
đối với các n và phải được chủ th khác n trọng theo quy định tại Khoản
2, Điều 3 Bộ Luật n s năm 2015. Do đó, ông T đ ngh Tòa án không
chấp nhận toàn byêu cầu độc lp của ông T1.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Lữ Bảo L, do ông L không yêu cầu đối với
ông T nên ông T không có ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
1/ Ông Nguyễn Phước T1 và người đại diện hợp pháp trình bày:
Ngày 02/3/2016, Đỗ Lệ T3 đã nhờ ông T1 làm dịch vụ hỗ trợ trong việc
“tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với
đất, hợp đồng thuê nhà, đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
với ông Nguyễn Phú S3, bà Hồ Thị H3. Theo hợp đồng thỏa thuận kết giữa
hai bên, s chứng kiến của các thành viên trong gia đình T3 gồm
Nguyễn Thị S2, ông Đỗ Ngọc H1, Nguyễn Thị Bạch T2, ông Đỗ Ngọc S thì
ông T1 sẽ hỗ trợ T3 trong việc yêu cầu Tòa án các cấp hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng 961,2m
2
đất thuộc thửa 159 tờ bản đồ số 21 phường L,
thành phố B (đã được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ngày 20/6/2012) đã kết tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh B giữa bà T3
ông Nguyễn Phú S3, ĐThị H5; hủy hợp đồng thuê nđất giữa ông S3,
H5 với T3 lập ngày 29/12/2012; phục hồi quyền lợi tại nhà đất nói trên cho
T3; sau khi khấu trừ khoản vay T3 phải trả cho ông S3, H5 thì giá trị
nhà đất nêu trên sẽ được phân chia cho T3 và ông T1 theo tỉ lệ 50/50 (mỗi
12
bên hưởng 50% gtrị). Hai bên đã phối hợp với nhau thực hiện đầy đủ quyền
nghĩa vụ theo thỏa thuận đã kết trong quá trình tham gia ttụng tại các
cấp Tòa vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất, tài sản
gắn liền với đất, hợp đồng thuê nhà, đất yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất” với ông Nguyễn Phú S3, bà Hồ Thị H3. Đến nay, vụ án đã được
giải quyết xong bằng Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật số
228/2019/DS-PT ngày 13/6/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ
Chí Minh. Kết quđạt được đúng như thỏa thuận giao kết trong hợp đồng giữa
ông T1 T3. Tuy nhiên, những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của
T3 S2 ông T không đồng ý thực hiện các nghĩa vụ của T3 đối với
ông T1 theo Hợp đồng dịch vụ đã kết. Trong thời gian đang tranh chấp, ông
T1 phát hiện ông Nguyễn Ngọc T Nguyễn Thị S2 đã tthỏa thuận phân
chia di sản nhà đất nêu trên theo văn bản Thỏa thận phân chia di sản thừa kế
ngày 12/12/2019 đã chuyển nhượng một phần đất này cho ông Nguyễn Hữu
C, Trần Thị Kim N nhằm trốn tránh nghĩa vụ do người chết để lại. Do đó,
ông T1 khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa buộc những người
thừa kế của Đỗ Lệ T3 Nguyễn Thị S2 ông Nguyễn Ngọc T phải tiếp
tục thực hiện nghĩa vụ đối với ông T1 theo nội dung hợp đồng dịch vụ ngày
02/3/2016 đã ký kết giữa ông T1 và bà T3, cụ thể:
- Yêu cầu những đồng thừa kế của T3 phải chia cho ông T1 ½ phần còn
lại bằng hiện vật của nhà đất tại C khu phố B, phường L, thành phố B sau khi trừ
khoản tiền phải thanh toán cho ông Nguyễn Phú S3, Hồ Thị H3 theo quyết
định của bản án số 228 ngày 13/6/2019 5.694.000.000 đồng. Trường hợp
không chia được bằng đất thì phải trả cho ông T1 số tiền trị giá đất tương ứng
với giá thị trường theo định giá.
- Tuyên bố Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giữa Nguyễn Thị S2
ông Nguyễn Ngọc T ngày 12/12/2019 là vô hiệu.
- Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất ngày 09/4/2020 được công chứng
chứng thực giữa vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T ông Nguyễn Hữu C, Trần
Thị Kim N vô hiệu.
- Hủy nội dung đăng ký biến động trên giấy chứng nhận quyền s dụng
đất s CU 763413 ny 31/3/2021, sang n ông Nguyễn Hữu C, Trần Thị
Kim N.
2/ Ông Lữ Bảo L trình bày:
Ngày 02/3/2016, Đỗ Lệ T3 đã nhờ ông T1 làm dịch vụ hỗ trợ trong việc
“tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với
đất, hợp đồng thuê nhà, đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
13
với ông Nguyễn Phú S3, bà Hồ Thị H3. Theo hợp đồng thỏa thuận kết giữa
hai bên, s chứng kiến của các thành viên trong gia đình T3 gồm
Nguyễn Thị S2, ông Đỗ Ngọc H1, Nguyễn Thị Bạch T2, ông Đỗ Ngọc S thì
ông T1 sẽ hỗ trợ T3 trong việc yêu cầu Tòa án các cấp hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng 961,2m
2
đất thuộc thửa 159 tờ bản đồ số 21 phường L,
thành phố B (đã được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ngày 20/6/2012) đã kết tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh B giữa T3
ông Nguyễn Phú S3, ĐThị H5; hủy hợp đồng thuê nđất giữa ông S3,
H5 với T3 lập ngày 29/12/2012; phục hồi quyền lợi tại nhà đất nói trên cho
T3; sau khi khấu trừ khoản vay T3 phải trả cho ông S3, H5 thì giá trị
nhà đất nêu trên sẽ được phân chia cho T3 ông T1 theo tlệ 50/50 (mỗi
bên hưởng 50% gtrị). Hai bên đã phối hợp với nhau thực hiện đầy đủ quyền
nghĩa vụ theo thỏa thuận đã kết trong quá trình tham gia tố tụng tại các
cấp Tòa vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất, tài sản
gắn liền với đất, hợp đồng thuê nhà, đất yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất” với ông Nguyễn Phú S3, bà Hồ Thị H3. Đến nay, vụ án đã được
giải quyết xong bằng Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật số
228/2019/DS-PT ngày 13/6/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ
Chí Minh. Kết quđạt được đúng như thỏa thuận giao kết trong hợp đồng giữa
ông T1 T3. Tuy nhiên, những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của
T3 S2 ông T không đồng ý thực hiện các nghĩa vụ của T3 đối với
ông T1 theo Hợp đồng dịch vụ đã kết. Trong thời gian đang tranh chấp, ông
T1 phát hiện ông Nguyễn Ngọc T Nguyễn Thị S2 đã tthỏa thuận phân
chia di sản nhà đất nêu trên theo văn bản Thỏa thận phân chia di sản thừa kế
ngày 12/12/2019 đã chuyển nhượng một phần đất này cho ông Nguyễn Hữu
C, Trần Thị Kim N nhằm trốn tránh nghĩa vụ do người chết để lại. Do đó,
ông T1 khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa buộc những người
thừa kế của Đỗ Lệ T3 Nguyễn Thị S2 ông Nguyễn Ngọc T phải tiếp
tục thực hiện nghĩa vụ đối với ông T1 theo nội dung hợp đồng dịch vụ ngày
02/3/2016 đã ký kết giữa ông T1 và bà T3, cụ thể:
- Yêu cầu những đồng thừa kế của bà T3 phải chia cho ông T1 ½ phần còn
lại bằng hiện vật của nhà đất tại C khu phố B, phường L, thành phố B sau khi trừ
khoản tiền phải thanh toán cho ông Nguyễn Phú S3, Hồ Thị H3 theo quyết
định của bản án số 228 ngày 13/6/2019 5.694.000.000 đồng. Trường hợp
không chia được bằng đất thì phải trả cho ông T1 số tiền trị giá đất tương ứng
với giá thị trường theo định giá.
- Tuyên bố Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giữa Nguyễn Thị S2
ông Nguyễn Ngọc T ngày 12/12/2019 là vô hiệu.
14
- Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất ngày 09/4/2020 được công chứng
chứng thực giữa vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T ông Nguyễn Hữu C, Trần
Thị Kim N vô hiệu.
- Hủy nội dung đăng ký biến động tn giấy chứng nhận quyền s dụng
đất s CU 763413 ny 31/3/2021, sang n ông Nguyễn Hữu C, Trần Thị
Kim N.
3/ Ông Nguyễn Hữu C trình bày:
Vào năm 2020, thông qua giới thiệu, ông C được biết ông Nguyễn Ngọc T
nhu cầu bán đất nên ông C liên hệ hỏi thăm. Giữa ông C ông Nguyễn
Ngọc T không quen biết từ trước. Sau đó, vợ chồng ông Nguyễn Hữu C, bà
Trần Thị Kim N và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Hồng P đã ký
kết với nhau giao dịch chuyển nhượng thửa đất số 1557 tờ bản đồ số 21 tọa lạc
tại phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá trị chuyển nhượng là
13.000.000.000 (mười ba tỉ) đồng. Việc chuyển nhượng lập hợp đồng
được công chứng tại Phòng C, tỉnh Rịa Vũng Tàu nhưng giá trị ghi trên
hợp đồng thấp hơn giá trị thực tế. Thời điểm nhận chuyển nhượng, đất đã được
cấp giấy chứng nhận số CU 763413 ngày 31/3/2020 đứng tên ông Nguyễn Ngọc
T, trên thửa đất 1557 là đất trống. S2 ông H1 đều biết việc ông C mua đất
của ông T bởi lẽ các bên sau đó có ký giáp ranh. Ông C còn tiến hành xây tường
bao quanh đất. Các bên đều không ý kiến không ai tranh chấp. Ông C
cũng không thấy ai thông báo đất tranh chấp với ông T1. Việc chuyển
nhượng đã hoàn thành. Ông C đã hoàn tất việc sang tên trên giấy chứng nhận,
giấy chứng nhận xác nhận sang tên vợ chồng ông C ngày 05/5/2020. Vợ chồng
ông C đã nhận bàn giao đất để sử dụng từ đó đến nay. Hiện ông C đang cho
người cháu là ông Đỗ Như T5 bán quán để trông coi, quản lý giùm thửa đất.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Phước T1 về việc yêu cầu Tòa
án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc T,
Nguyễn Thị Hồng P vợ chồng ông Nguyễn Hữu C, Trần Thị Kim N
(được kết tại văn phòng C2, tỉnh Rịa Vũng Tàu, scông chứng 513,
quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/4/2020) là hiệu đồng thời yêu cầu
hủy nội dung đăng biến động sang tên ngày 05/5/2020 trên giấy chứng nhận
số CU 763413 ngày 31/3/2020, ông C không đồng ý đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định.
Ngày 24/7/2023, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Rịa Vũng Tàu Văn
bản số 841/CTHADS-NV về việc thông báo nghĩa vụ thi hành án của bà Nguyễn
Thị S2. Theo đó, Nguyễn Thị S2 còn phải thi hành các nghĩa vụ gồm: Trả
cho ông Nguyễn Phú S3, Hồ Thị H3 số tiền 2.847.100.000 (hai tỉ, tám trăm
bốn mươi bảy triệu) đồng theo Bản án số 228/2019/DS-PT ngày 13/6/2019 của
15
Tòa án nhân n cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh Quyết định thi hành án
số 138/QĐ-THADS ngày 12/12/2019 của Cục Thi hành án dân stỉnh Rịa
Vũng Tàu; trả cho Đào Thị Mỹ D1 số tiền 850.000.000 (tám trăm năm mươi
triệu) đồng lãi chậm thi hành án theo Quyết định số 18/2020/QĐST-DS ngày
08/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
4/ Bà Đào Thị Mỹ D1 trình bày:
Căn cứ vào Quyết định số 18/2020/QĐST-DS ngày 08/4/2020 của Tòa án
nhân dân thành phố Rịa Quyết định rút hồ số 28/QĐCTHADS ngày
24/7/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Rịa Vũng Tàu, Nguyễn Thị
S2 và ông Nguyễn Ngọc T trách hiệm trả cho Đào Thị Mỹ D1 số tiền
1.700.000.000 (một tỉ, bảy trăm triệu) đồng lãi suất chậm thi hành án. Tuy
nhiên, mới chỉ có ông T thực hiện việc trả tiền còn bà S2 chưa trả tiền. Do đó, bà
D1 cũng yêu cầu Tòa án xem xét để được nhận số tiền theo Quyết định số 18
ngày 08/4/2020 của Tòa.
5/ Bà Nguyễn Thị Hồng P và người đại diện hợp pháp trình bày:
P vợ của ông Nguyễn Ngọc T, thống nhất với ý kiến yêu cầu
của ông T.
6/ Các ông/bà: Nguyễn Thị Bạch T2, Đỗ Ngọc S, Trần Thị Kim N, Nguyễn
Phú S1, Hồ Thị H3 vắng mặt toàn bộ các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc
tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải cũng như tại các phiên tòa nên không
ghi nhận được ý kiến.
Người làm chứng ông Nguyễn Phước L1 trình bày:
Ông L1 xác định vào năm 2016, ông L1 tham gia tố tụng trong vụ án
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông
Nguyễn Phú S3, Hồ Thị H3 bị đơn là Đỗ Lệ T3 với cách người đại
diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án
Nguyễn Thị S2. Việc ông L1 tham gia theo sự nhờ vả của em trai ông ông
Nguyễn Phước T1. Mọi chi phí đi lại, ngày công của ông đều do ông T1 bỏ ra.
Trong quá trình đồng hành cùng ông T1, ông L1 chứng kiến ông T1 cũng
người thu thập hồ sơ, liên hệ luật vấn, soạn thảo văn bản, trình bày ý kiến;
người bỏ công sức chi phí. giai đoạn phúc thẩm, ông L1 vẫn được sự ủy
quyền của bà S2 và không nhận được bất cứ thông báo nào từ phía bà S2 về việc
chấm dứt ủy quyền. Tuy nhiên, do ông không nhận được giấy triệu tập của Tòa
án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh nên vào ngày xét xử, ông có đến
trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao nhưng không được vào tham gia phiên tòa.
ông L1 thực hiện công việc theo sự nhờ vả của ông T1 và đã được ông T1 hỗ trợ
16
toàn bộ chi phí nên ông L1 không có yêu cầu gì trong vụ án; đề nghị Tòa án xem
xét cho công sức ca ông T1.
T-
    
 :
“Căn cvào các điều 28, 35, 39, 227, 228, 147, 157, 161, 165, 271, 273
Bộ luật Tố tụng n s; c điu 122, 128, 374, 406, 410, 519 Bộ luật n s
m 2005; c điều 117, 129, 372, 414, 611, 612, 618, 615, 623, 651, 652 Bộ
luật Dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); c điều 4, 26, 27, 28,
29, 30, 39, 49 Luật Luật sư năm 2006; Khon 1 Điều 188 Luật Đất đai m
2013; Điều 57 Luật ng chứng năm 2014; Án lệ 05/2016/AL của Tòa án
nhân dân Tối cao;
Khoản 1, 4, 6 Điều 26; Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án p, lệ p Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T về việc
yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị S2.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Lữ Bảo L về việc tranh chấp
hợp đồng dịch vụ pháp lý.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Phước T1 về việc yêu
cầu thanh toán tiền thù lao hợp đồng dịch vụ.
- Buộc ông Nguyễn Ngọc T phải trả cho ông Nguyễn Phước T1 số tiền
2.213.550.000 (hai tỉ, hai trăm mười ba triệu, năm năm năm mươi nghìn) đồng.
- Buộc những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị S2 là ông Nguyễn Ngọc T
ông Đỗ Ngọc H1 phải trả cho ông Nguyễn Phước T1 số tiền 2.213.550.000 (hai
tỉ, hai trăm mười ba triệu, m năm năm mươi nghìn) đồng. Trong đó: Ông
Nguyễn Ngọc T trả cho ông T1 số tiền 737.850.000 (bảy trăm ba mươi bảy triệu,
tám trăm năm mươi nghìn) đồng; ông H1 trả cho ông T1 stiền 1.475.700.000
(một tỉ bốn trăm bảy mươi lăm triệu, bảy trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày đơn u cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
17
4. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phước T1 về việc tuyên
hiệu Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giữa Nguyễn Thị S2 ông Đỗ
Ngọc H1 ngày 12/12/2019.
5. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phước T1 về việc tuyên
hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất số công chứng 513, quyển số
01 TP/CC-CC/HĐGĐ ngày 09/4/2020 giữa ông Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thị
Hồng P và ông Nguyễn Hữu C, bà Trần Thị Kim N.
6. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phước T1 về việc hủy nội
dung đăng ký biến động xác nhận sang tên ông Nguyễn Hữu C, bà Trần Thị Kim
N trên trang IV Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số CU 763413 do Sở T
tỉnh cấp ngày 31/3/2020.
7. Xác định di sản của cụ Nguyễn Thị S2 (chết ngày 26/3/2020) quyền
sử dụng đối với phần đất có diện tích 464,8m
2
thuộc thửa đất số 1558, tờ bản đồ
21 theo Giấy chứng nhận số CU 763412 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B
cấp ngày 31/3/2020.
8. Xác định ông Đỗ Ngọc H1 người thừa kế theo pháp luật của cụ Nguyễn
Thị S2; ông Nguyễn Ngọc T là người thừa kế thế vị của cụ Nguyễn Thị S2.
9. Ông Nguyễn Ngọc T được nhận kỷ phần giá trị bằng 1/3 giá trị di
sản thừa kế quyền sdụng thửa đất 1558 tờ bản đồ 21 phường L, thành phố
B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu tại thời điểm thi hành án; ông Đỗ Ngọc H1 được
nhận kỷ phần có giá trị bằng 2/3 giá trị di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất
1558 tờ bản đồ 21 phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tại thời điểm
thi hành án.
10. Các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Thị S2 ông Nguyễn Ngọc T ông
Đỗ Ngọc H1 phải thực hiện trả cho ông Nguyễn Phú S3, Hồ Thị H3
2.847.100.000 (hai tỉ, tám trăm bốn mươi bảy triệu, một trăm nghìn) đồng
tiền lãi chậm thi hành án phát sinh kể từ ngày người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án cho đến khi thực hiện xong; trả cho Đào Thị Mỹ D1 số
tiền 850.000.000 (tám trăm năm mươi triệu) đồng tiền lãi chậm thi hành án
phát sinh kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến
khi thực hiện xong.
Người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của cụ Nguyễn Thị S2
tương ứng với giá trị di sản thừa kế mà mỗi người thừa kế được hưởng.
11. Ông ĐNgọc H1 được nhận quyền sử dụng thửa đất số 1558, tờ bản
đồ số 21 phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số số CU 763412 do Sở T tỉnh cấp ngày 31/3/2020 và toàn bộ
tài sản gắn liền trên đất.
18
Ông Đỗ Ngọc H1 trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Ngọc T giá
trị di sản thừa kế mà ông T được hưởng.
Ông H1 được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền để điều
chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.”
Ngoài ra, án thẩm n tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo theo quy
định pháp luật.
Ngày 26/3/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T đơn kháng cáo một
phần bản án sơ thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông T, không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông T1.
Ngày 26/3/2025, người quyền, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phước
T1 đơn kháng cáo một phần bản án thẩm theo hướng sửa bản án thẩm,
chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông T1.
Ngày 04/4 và 08/4/2025, bị đơn ông Đỗ Ngọc H1 kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm theo hướng sửa bản án thẩm, tuyên bố hiệu giấy thỏa thuận phân
chia di sản thừa kế này 12/12/2019, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thị Hồng P ông Nguyễn Hữu C, Trần
Thị Kim N; hủy cập nhật biến động sang tên ông Nguyễn Hữu C, Trần Thị
Kim N, tên Nguyễn Thị S2 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU
763412 cấp ngày 31/3/2020; yêu cầu chia lại quyền sử dụng đất đối với diện tích
961,2m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 475875 do UBND thị xã B cấp ngày 20/6/2012; yêu
cầu tuyên hiệu hợp đồng dịch vụ nhà đất ngày 02/3/2016 giữa Đỗ Thị
L2 và ông Nguyễn Phước T1; yêu cầu bà Đào Thị Mỹ D1, ông Lữ Bảo L, bà Đỗ
Thị Ử bồi thường thiệt hại về việc sử dụng giấy tờ giả mạo.
Ngày 01/4/2025, ông Lữ Bảo L kháng cáo một phần bản án thẩm theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông L.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Phía nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm
theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp
nhận yêu cầu độc lập của ông T1.
Phía bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của
bị đơn, bác đơn kháng cáo của nguyên đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn Phước T1, ông Lữ Bảo L, sửa bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
19
Phía ông Nguyễn Phước T1 không rút đơn yêu cầu độc lập, không rút đơn
kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo
của ông T1 sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập
của người quyền, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phước T1, không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn.
Ông Lữ Bảo L không rút đơn yêu cầu độc lập, không rút đơn kháng cáo, đề
nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của ông, sửa bản
án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông, không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý
kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án
đã thực hiện đúng về thời hạn chuẩn bị xét xử. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đã
chấp hành theo đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia ttụng: tkhi thụ vụ án
cho đến phiên tòa m nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án:
- Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, thụ lý và giải quyết các yêu cầu phản
tố của bị đơn ông H1 vi phạm tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp
pháp của đương sự.
- Tòa án cấp thẩm đã không giải quyết yêu cầu giám định chữ theo
đơn của ông H1, đồng thời cũng không ban hành văn bản thông báo lý do không
chấp nhận yêu cầu giám định của ông H1. Hồ cũng không thể hiện Tòa án
cấp sơ thẩm yêu cầu ông H1 nộp chi phí để trưng cầu giám định. Việc trưng cầu
giám định chữ ký là cần thiết cũng như kết quả giám định ảnh hưởng đến đường
lối giải quyết vụ án.
- Tòa án cấ thẩm không đưa Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
thành phố B (trước đây) tham gia ttụng với tư cách người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan để xem xét ý kiến của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đối
với yêu cầu của đương sự. Ngoài ra, liên quan đến thửa đất đang tranh chấp, lời
khai của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hữu C sau
khi nhận chuyển nhượng đất từ nguyên đơn ông T thì ông C đã cho cháu ông
Đỗ Như T5 quản lý, sử dụng thửa đất để kinh doanh. Như vậy, khi xem xét giải
quyết vụ án liên quan đến thửa đất đang tranh chấp cần thiết phải triệu tập ông
Đỗ Như T5 tham gia tố tụng mới đảm bảo cho việc thi hành án cũng như xem
20
xét quyền lợi (nếu có) của ông Đỗ Như T5 trong quá trình trực tiếp quản
sử dụng đất.
- Hồ sơ thể hiện Giấy cam kết của T3 ngày 10/5/1998 với nội dung
T3 thừa nhận đứng tên dùm cho S2 quyền sử dụng đất hiện nay các bên đang
tranh chấp. Theo bị đơn ông H1 thì quyền sử dụng đất đang tranh chấp có nguồn
gốc của S2 mẹ của ông H1, bà T3 chỉ đứng tên dùm. Tuy nhiên, tài liệu
chứng cứ này là bản photocopy, không thể hiện đã đối chiếu bản chính cũng như
chưa được xem xét giải quyết trong vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chưa đảm
bảo thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định. Trên sở đó, đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Ngọc H1, nguyên đơn
ông Nguyễn Ngọc T, người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn
Phước T1, ông L3 bảo L. Hủy Bản án thẩm số 05/2025/DS-ST ngày
14/3/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 chuyển hồ vụ án cho Tòa án
cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, sau khi nghe các bên đương sự trình bày ý kiến, sau khi nghe đại diện
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi
nghị án, Hội đồng xét xử nhận định
[1] Về thủ tục:
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc T, ông Nguyễn Phước T1,
ông Đỗ Ngọc H1 trong hạn luật định nên được chấp nhận về thủ tục kháng cáo.
Đơn kháng cáo của ông Lữ Bảo L quá hạn kháng cáo đã được Tòa án nhân dân
tỉnh Rịa Vũng Tàu (nay Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)
chấp nhận kháng cáo quá theo Quyết định số 11/2025/QĐPT-DS ngày
21/5/2025 nên được chấp nhận về thủ tục kháng cáo.
[1.2] Tòa án nhân dân thành phố Rịa, tỉnh Rịa Vũng Tàu (nay là
Tòa án nhân dân khu vực 12 Thành phố Hồ Chí Minh) xác định đúng quan hệ
tranh chấp, xét xử đúng thẩm quyền.
[1.3] Về xét xử vắng mặt đương sự: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Đỗ Ngọc S, ông Nguyễn Phú S1, Hồ Thị H3 được Tòa án triệu tập
hợp llần thứ hai vắng mặt nên Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự
này theo quy định tại Điều 227, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.4] Ngày 25/10/2019, Tòa án cấp thẩm thụ vụ án dân sự thụ số
152/2019/TLST-DS về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”
trong đó bị đơn là bà Nguyễn Thị S2. Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị
S2 mất ngày 26/3/2022. Ngày 01/11/2022, Tòa án cấp thẩm thvụ án
21
“Tranh chấp thừa kế” giữa ông Nguyễn Ngọc T ông Đỗ Ngọc H1. Trên
sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định nhập vụ án số 10/2022/QĐST-
DS ngày 01/12/2022 nhập các vụ án nêu trên thành 01 vụ án. Tuy nhiên, sau
quá trình nhập vụ án thì bị đơn Nguyễn Thị S2 không được Tòa án cấp
thẩm xác định lại tư cách tố tụng, cũng như đưa người kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng không phù hợp với quy định của pháp luật cũng như không đúng
với thông báo thụ đã ban hành, đơn khởi kiện của đương sự trong quá trình
giải quyết vụ án.
[1.5] Ngày 14/4/2019, Tòa án cấp thẩm tiến hành định gtài sản đối
với tài sản tranh chấp, đến thời điểm xét xử ngày 14/3/2025 là trên 05 năm. Tại
phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người đại diện theo y quyền của ông Nguyễn
Phước T1 không đồng ý với kết quả định giá và đơn đề nghị tiến hành định
giá lại tài sản tranh chấp để sở giải quyết vụ án đúng pháp luật. Yêu cầu
này là có cơ sở để chấp nhận.
[1.6] Ngày 05/12/2022, ông Đỗ Ngọc H1 đơn yêu cầu giám định chữ
ký, chữ viết đối với tài liệu “Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với
đất ngày 17/01/2020” “Đơn đề nghị tách thửa, hợp thửa ngày
20/02/2020” do Nguyễn Thị S2 với do giai đoạn này Nguyễn Thị
S2 đã cao tuổi, không khả năng ký, đồng thời trong hồ vụ án giai đoạn
này Nguyễn Thị S2 phải lăn tay, điểm chỉ. Tòa án cấp thẩm không giải
quyết yêu cầu này của đương sự. Trong giai đoạn giải quyết phúc thẩm, ông Đỗ
Ngọc H1 tiếp tục đơn yêu cầu giám định chữ ký. Xét thấy việc giám định
căn cứ xem xét việc thực hiện các thủ tục tách thửa, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông T S2 có phù hợp với quy định không, đồng thời liên
quan đến yêu cầu hủy các giấy chứng nhận đã cấp nên sở chấp nhận yêu
cầu của đương sự.
Đã quá thời hạn chuẩn bị xét xphúc thẩm nên Tòa án cấp phúc thẩm
không thể thực hiện thủ tục giám định theo yêu cầu, cần hủy án, giao hồ về
cho cấp sơ thẩm thực hiện.
Việc hủy án được xác định là tình tiết mới.
[2] Do hủy án về thủ tục, nên Hội đồng xét xử không xem xét về nội dung
vụ án.
Khi giải quyết lại, Tòa án cấp sơ thẩm cần lưu ý: Ngày 23/9/2022, ông Đỗ
Ngọc H1 đơn phản tố yêu cầu tuyên bố hợp đồng dịch vụ nhà đất ngày
02/3/2016 giữa Đỗ Lệ T3 ông Nguyễn Phước T1 hiệu. Cùng ngày
ông Đỗ Ngọc H1 đơn yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sdụng đất
đã cấp cho ông Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thị S2 quyền sử dụng đất tranh
22
chấp được cấp cho hộ Đỗ Lệ T3 dẫn đến xâm phạm đến lợi ích của ông H1.
Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Thông báo không thụ lý đơn yêu cầu phản tố, yêu
cầu độc lập đối với các đơn của ông H1. Ngày 15/8/2023, ông Đỗ Ngọc H1
đơn yêu cầu tuyên hợp đồng dịch vụ nhà đất ký ngày 02/3/2016 giữa Đỗ Lệ
T3 ông Nguyễn Phước T1 hiệu, bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến
tài sản của gia đình ông; đồng thời, cùng ngày ông Đỗ Ngọc H1 đơn yêu cầu
hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Ngọc T, bà
Nguyễn Thị S2 vì quyền sử dụng đất tranh chấp được cấp cho hộ Đỗ Lệ T3
từ đó xem xét lại việc chia di sản thừa kế.
Xét thấy, ông H1 đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng dịch vụ nhà đất
hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm lợi ích của ông, yêu cầu
phản tố phải thụ xem xét giải quyết. Việc Tòa án cấp thẩm không thụ
xem xét yêu cầu trên là chưa đúng pháp luật.
Từ những lẽ đã viện dẫn, có sđể chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
các đương sự.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại
phiên tòa hôm nay là có cơ sở, nên chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do hủy án thẩm nên người kháng cáo không
phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc T, ông Đỗ Ngọc H1, ông
Nguyễn Phước T1, ông Lữ Bảo L.
Hủy Bản án dân sự thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 20/12/2024, của Tòa
án nhân dân thành phố Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân
khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh)
Chuyển hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 12 Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Ngọc T, ông Đỗ Ngọc H1, ông Nguyễn Phước T1, ông Lữ
Bảo L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
23
Hoàn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) cho
các đương sự như sau:
Ông Nguyễn Ngọc T đã nộp theo Biên lai thu số 0001821 ngày 26/3/2025.
Ông Nguyễn Phước T1 đã nộp theo Biên lai thu số 0001849 ngày
26/3/2025.
Ông Lữ Bảo L đã nộp theo Biên lai thu số 0005293 ngày 28/4/2025
Các biên lai của Chi cục Thi hành án dân sự thị Phú Mỹ, tỉnh Rịa
Vũng Tàu (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, Thành phố Hồ Chí
Minh)
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân Tp. HCM;
- Thi hành án dân sự Tp. HCM;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, Tp. HCM;
- Tòa án nhân dân khu vực 12 – Tp. Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.


 
(

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1262/2025/DS-PT Bản án số 1262/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1262/2025/DS-PT Bản án số 1262/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất