Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 23/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 12/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 23/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La |
| Số hiệu: | 12/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | ... |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - SƠN LA
_________
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/9/2025.
V/v: Xin ly hôn.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_____________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tường Duy Bình.
2. Bà Lò Thị Minh.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Trọng Định, thư ký Tòa
án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Sơn La tham gia phiên tòa:
Bà Lý Hoàng L, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7
năm 2025 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
08/2025/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số
06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/9/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị V, sinh ngày 14/10/1955.
Số CCCD: 034155006515, cấp ngày 29/3/2021.
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường M, tỉnh S. Có mặt
- Bị đơn: Ông Hà Văn D, sinh ngày 10/02/1956.
Số CCCD: 0136056005897, cấp ngày 29/3/2021.
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường M, tỉnh S. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 28/7/2025, bản tự khai tại Toà án và lời khai
tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Bà V và ông Hà Văn D kết hôn với nhau từ ngày 10/11/1997. Có được tìm
hiểu việc kết hôn là tự nguyện, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại uỷ ban nhân dân
thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Ngày 20 tháng 12 năm 1997, bà V và ông D chuyển về sinh sống tại tiểu khu
12, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (Nay là tổ dân phố 3, phường

2
Mộc Châu, tỉnh Sơn La), bà V và ông D làm nhà ở trên đất của bố mẹ ông D cho
ông D, sinh sống từ đó cho đến nay.
Quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông D
không chịu khó lao động làm ăn, cuộc sống một mình bà V phải gánh vác, đặc biệt
từ năm 2012 ông D đòi bán nhà nhưng bà V không đồng ý từ đó mâu thuẫn ngày
càng phát sinh, đến tháng 02 năm 2025 thì ông D đã bán nhà, do nhà làm trên đất
của bố mẹ ông D cho nên bà V không có quyền giữ.
Sau khi ông D bán nhà bà V và con là Hà Ngọc L đi thuê nhà ở tại tổ dân
phố 4, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La từ tháng 2 năm 2025 đến nay.
Hiện nay bà V và ông D đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2025 đến nay. Nay
xét thấy tình cảm vợ, chồng không còn, bà V xin được ly hôn với ông Hà Văn D.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà V và ông D có 01 con chung
là Hà Ngọc L, sinh ngày 10/01/1998. Nay cháu đã trưởng thành 18 tuổi, cháu
không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Về tài sản chung: Không có.
Về vay nợ chung: Không có.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị V xin được miễn án phí theo quy định của pháp
luật.
Ngoài ra không có yêu cầu hay đề nghị gì thêm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Sơn La phát
biểu ý kiến như sau:
- Về việc chấp hành nguyên tắc xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử chấp
hành đúng các nguyên tắc xét xử quy định tại các Điều 11, 12, 15, 17, 24, 25 Bộ
luật Tố tụng Dân sự.
- Về thành phần hội đồng xét xử: Đúng quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng
dân sự, đúng như trong quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Trình tự, thủ tục tại phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 239,
243, 247, 249, 258, 260 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ quy định tại Điều 51 Bộ luật tố
tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Căn cứ khoản
5 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 14 Luật hôn nhân gia đình.
Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Đề nghị:
1. Xử không công nhận bà Nguyễn Thị V và ông Hà Văn D là vợ, chồng.
3
2. Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị V và ông Hà
Văn D có 01 con chung cháu tên là Hà Ngọc L, sinh ngày 10/01/1998. Nay cháu đã
trưởng thành 18 tuổi, cháu không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Nên không
đề cập việc nuôi dưỡng.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về vay nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị V được miễn án phí theo quy định của pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ kiện, nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ
các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, đã ghi đúng địa
chỉ bị đơn cư trú.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hà Văn D không chấp hành theo giấy
triệu tập của Tòa án. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị V đã có đơn đề nghị Tòa án tiến
hành xác minh, thu thập các tài liệu chứng cứ liên quan để giải quyết vụ án.
Xác minh với chính quyền địa phương được biết.
Đối với thông báo về việc thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp, kiểm
tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng của
Tòa án, Lãnh đạo Tổ dân phố và thư ký Tòa án đã trực tiếp đến tận nhà ông D để
giao cho ông Hà Văn D, nhưng ông D từ chối không nhận.
Do ông Hà Văn D không hợp tác giải quyết vụ việc, nên Tòa án đã làm thủ
tục niêm yết Biên bản tiếp cận công khai chứng cứ và Quyết định đưa vụ án ra xét
xử tại nhà văn hóa Tổ dân phố nơi ông Hà Văn D cư trú.
Như vậy có đủ căn cứ khẳng định ông Hà Văn D đã biết việc bà Nguyễn Thị
V xin ly hôn ông, nhưng cố tình không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.
Xác minh với chính quyền địa phương được biết.
Bà V và ông D chuyển về sinh sống tại Tổ dân phố 3 từ năm 1997, quá trình
chung sống thời gian đầu thấy hạnh phúc, nhưng từ năm 2012 đến 2025 thì phát
sinh mâu thuẫn là do ông D không chịu khó làm ăn cùng bà V, đòi bán nhà. Đến
tháng 02 năm 2025 thì ông D bán nhà, từ đó bà V và cháu L con bà phải đi thuê
nhà ở.
Về tài sản chung: Địa phương không nắm bắt được.
Vay nợ chung: Địa phương không nắm bắt được, đến thời điểm hiện tại cũng
không thấy ai đến kiện đòi nợ.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025 Tòa án nhân dân Khu vực 6 đã có quyết định số
08/2025/QĐXXST-HNGĐ đưa vụ án ra xét xử. Do ông Hà Văn D vắng mặt nên
phải hoãn phiên tòa để làm thủ tục niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử.
4
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tổ
tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Như bà V khai bà và ông D kết hôn với nhau từ ngày 10/11/1997. Được tìm
hiểu việc kết hôn là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn
Thuận Châu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Khi bà V nộp đơn, Tòa án đã yêu cầu bà V nộp Giấy đăng ký kết hôn giữa
bà với ông Hà Văn D để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án, bà V trình bày do
thời gian lâu giấy tờ bị thất lạc trong đó có cả Đăng ký kết hôn của bà với ông D,
không còn để giao nộp cho Tòa án.
Tòa án đã yêu cầu bà V đến liên hệ với Uỷ ban nhân dân thị trấn Thuận
Châu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La)
để xin sao trích lại Đăng ký kết hôn. Do bà V tuổi cao, sức yếu không đi đến
UBND xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La xin lại được, bà V có đơn đề nghị Tòa án nhân
dân Khu vực 6 – Sơn La thu thập giúp trước khi bà V nộp đơn khởi kiện ra Tòa xin
ly hôn với ông D.
TAND Khu vực 6 – Sơn La đã ủy thác cho TAND Khu vực 2 – Sơn La thu
thập. Quá trình thu thập do không còn sổ sách lưu trữ nên không có để cung cấp.
TAND Khu vực 2 – Sơn La đã lập biên bản xác minh để làm căn cứ cho việc giải
quyết vụ án (Biên bản xác minh lập ngày 14/7/2025 trước ngày TAND Khu vực 6
– Sơn La thụ lý vụ án).
Như vậy mặc dù bà Nguyễn Thị V khai khi kết hôn với ông Hà Văn D, ông
bà có làm thủ tục có đăng ký tại UBND thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu,
tỉnh Sơn La. Nhưng đến nay không chứng minh được có việc đăng ký, đến thời
điểm giải quyết việc ly hôn pháp luật lại không công nhận là hôn nhân thực tế.
Do đó căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014, xử tuyên bố bà Nguyễn Thị V và ông Hà Văn D không phải là vợ, chồng.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống bà Nguyễn Thị V và ông Hà Văn D
có 01 con chung là cháu Hà Ngọc L, sinh ngày 10/01/1998. Nay cháu đã trưởng
thành 18 tuổi, cháu không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Nên không đề cập
việc nuôi dưỡng cháu cho bà V hay ông D.
[4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị V khai nhận không có, nên không giải
quyết.
[5] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị V khai không có nên không giải quyết.
[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị V có đơn xin được miễn án phí, xét thấy bà
Nguyễn Thị V là người cao tuổi (70 tuổi), căn cứ Luật người cao tuổi thì người từ
60 tuổi trở lên là người cao tuổi, căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bà Nguyễn Thị V được miễn án phí DS/ST theo quy định của pháp luật.
5
[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân
sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào
khoản 1 Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên xử:
Tuyên bố bà Nguyễn Thị V và ông Hà Văn D không phải là vợ, chồng.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị V và ông Hà Văn D có 01 con chung là
cháu Hà Ngọc L, sinh ngày 10/01/1998. Nay cháu đã trưởng thành 18 tuổi, cháu
không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Nên không đề cập việc giao trách nhiệm
nuôi dưỡng cháu Hà Ngọc L cho bà Nguyễn Thị V hay ông Hà Văn D.
3 Về tài sản chung: Do bà Nguyễn Thị V khai không có, nên không giải
quyết.
4 Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị V khai không có nên không giải quyết.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị V được miễn toàn bộ án phí DS/ST.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
(Ngày 23/9/2025) .
Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
- V KS nhân dân Khu vực 6 – Sơn La;
- THADS tỉnh Sơn La;
- Các đương sự;
- Lưu văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
( Đã ký)
Đỗ Như Khánh
6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 07/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 07/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm