Bản án số 104/2026/HS-PT ngày 28/04/2026 của TAND TP. Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 104/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 104/2026/HS-PT ngày 28/04/2026 của TAND TP. Đà Nẵng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 104/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/04/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Mua bán trái phép hóa đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PH ĐÀ NẴNG
–––––––––––––––
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
Bản án số: 104/2026/HS-PT
Ngày 28-4-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Đỗ Thị Thúy Năng
Các Thẩm phán: Ông Trương Chí Trung
Ông Cao Văn Hiếu
- Thư phiên toà: Ông Đỗ Văn Trung Hiếu - Thư Toà án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà
Đoàn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở
phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ số:
35/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo Thị Thúy H do
kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự thẩm số: 124/2025/HS-ST ngày
12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng.
* Bị cáo có kháng cáo:
Thị Thúy H, sinh ngày 15/9/1990, tại thành phố Đà Nẵng; Số CCCD
049190011431;i cư trú: thôn Đ, xã N, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động
phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo:
Không; giới tính: Nữ; con ông Đức T (đã chết) Dương Thị T1, sinh năm
1966; Bị cáo chồng là Đỗ Ngọc B (đã ly hôn vào năm 2021) và có 02 con, con lớn
sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiến án, tiền sự: Chưa;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/01/2025. Ngày 24/01/2025 được thay thế bằng biện
pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
* Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị Đỗ Thị Minh T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào tháng 11/2023, do muốn tiền tiêu xài, Thị Thúy H nảy sinh ý định
thành lập doanh nghiệp để mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT). H
mượn căn cước công dân của ông Lê Quang P để đăng ký thành lập Công ty TNHH V
(mã số thuế 4001276304). Công ty này thực tế không hoạt động kinh doanh, không có
địa điểm làm việc, không cung cấp dịch vụ vận tải như đăng ký, chỉ được lập ra để
phục vụ việc mua bán hóa đơn.
Từ ngày 07/01/2024 đến ngày 25/6/2024, để hợp thức hoạt động kinh doanh, H
lên mạng hội tìm các trang bán hoá đơn, rồi dùng “sim rác” (không nhớ số thuê
bao) liên hệ mua đơn 36 hoá đơn giá trị gia tăng (các mặt hàng xi măng, xăng, bia)
của một số công ty với giá từ 1,0% - 05% trên tổng gtrị hàng hoá. Cũng trong
khoảng thời gian đó, H đã xuất bán 41 hoá đơn giá trị gia tăng (GTGT) theo yêu cầu
của công ty, tổ chức, mỗi hoá đơn bán ra, H thu lợi 07% trên tổng giá trị hàng hoá,
dịch vụ xuất hoá đơn. Cụ thể:
* Từ tháng 01/2024 đến ngày 29/6/2024, H lên mạng hội để tìm các trang
bán hoá đơn (dùng sim không nhớ số thuê bao) liên lạc với người phụ nữ không rõ
lai lịch để mua 36 (ba mươi sáu) hoá đơn GTGT đầu vào của các doanh nghiệp sau:
- Ngày 15/01/2024, H mua 01 (một) hoá đơn của Công ty TNHH T5 (Mã số
thuế: 0401956434, địa chỉ: A T, phường T, TP Đà Nẵng) từ người phụ nữ không
nhân thân lai lịch, ký hiệu hoá đơn: C24TYT, số hoá đơn: 17 với tổng giá trị hàng hoá
là 18.000.000 đồng (chưa có thuế GTGT). H trả tiền mua hoá đơn là 5% trên tổng giá
trị hàng hoá là 18.000.000đ x 5% = 900.000 đồng.
- Từ ngày 04/3/2024 đến ngày 29/6/2024, H mua 15 (mười lăm) hoá đơn của
Công ty TNHH Q (Mã số thuế: 0400126494, địa chỉ: B T, phường L, TP Đà Nẵng) từ
một người phụ nữ không lai lịch tại Bến xe Đ, hiệu hoá đơn C24TVN, số hoá
đơn 11036, 11188, 11336, 11474, 11606, 11787, 12128, 12314, 12683, 13901, 14277,
15350, 15751, 16266 16677 với tổng giá trị hàng hoá (chưa thuế GTGT) là
138.109.617 đồng. H trả tiền mua hoá đơn 5% trên tổng giá trị hàng hoá
138.109.617đ x 5% = 6.905.408 đồng.
- Từ ngày 22/3/2024 đến ngày 25/3/2024, H mua 02 (hai) hoá đơn của Doanh
nghiệp nhân T6 (Mã số thuế: 0400276531, địa chỉ: D N, phường L, TP Đà Nẵng)
3
từ một người phụ nữ không rõ lai lịch tại Bến xe Đ: ký hiệu hoá đơn C24TMS, số hoá
đơn 174 và 179 với tổng giá trị hàng hoá (chưa có thuế GTGT) là 36.299.537 đồng. H
trả tiền mua h đơn 2,5% trên tổng giá trị hàng hoá 36.299.537đ x 2,5% =
907.488 đồng.
- Từ ngày 20/3/2024 đến ngày 23/3/2024, H mua 04 (bốn) hoá đơn Công ty
Công ty TNHH T7 (Mã số thuế: 4001189789, địa chỉ: Tổ B, KP H, phường Đ, TP Đà
Nẵng) từ một người phụ nữ không lai lịch tại Bến xe Đ: hiệu hoá đơn C24TPT,
số hoá đơn: 1, 3, 8 và 23 với tổng giá trị hàng hoá (chưa có thuế GTGT) là:
72.284.722 đồng. H trả tiền mua hoá đơn 2,5% trên tổng giá trị hàng hoá
72.284.722đ x 2,5% =1.807.118 đồng.
- Từ ngày 20/3/2024 đến ngày 23/3/2024, H mua 03 (ba) h đơn Doanh
nghiệp tư nhân S (Mã số thuế: 4000362198, địa chỉ: tổ dân phố Y, xã X, TP Đ) từ một
người phụ nkhông lai lịch, hiệu hoá đơn: C24TSI, số hoá đơn: 485, 506
523 với tổng giá trị hàng hoá (chưa thuế GTGT) của 03 hoá đơn là: 251.640.000
đồng. H trả tiền mua hoá đơn là 2,5% trên tổng giá trị hàng hoá (chưa có thuế GTGT)
là 251.640.000 x 1% = 2.516.400 đồng. H chưa thanh toán tiền mua hoá đơn.
- Từ ngày 25/3/2024 đến ngày 29/3/2024, H trực tiếp mua 07 (bảy) hoá đơn
Công ty TNHH T8 (Mã số thuế: 4000344209, địa chỉ: C P, xã T, TP Đ) từ một người
phụ nữ không lai lịch, hiệu hoá đơn: C24TDH, số hoá đơn: 341, 350, 365, 384,
914, 929 và 941 với tổng giá trị hàng hoá (chưa có thuế GTGT) là: 2.005.745.454đ. H
trả tiền mua hoá đơn 1% trên, số tiền H mua 07 hoá đơn 2.005.745.454 x 1% =
20.057.454 đồng. Sau khi thoả thuận với ông Dương Đình D - Giám đốc, ông D1 chỉ
lấy số tiền bán hoá đơn là 10.000.000 đồng.
- Từ ngày 22/3/2024 đến ngày 26/3/2024, H mua 04 (bốn) hoá đơn của Công ty
TNHH T9 (Mã số thuế: 0400532231, địa chỉ: B P, phường H, TP Đà Nẵng): hiệu
hoá đơn C24TCS, số hoá đơn: 109, 116, 127 133 với tổng gtrị hàng hoá chưa
tính thuế GTGT 50.072.688 đồng. H trả tiền mua hđơn 1,5% trên tổng giá trị
hàng hoá 50.072.688đ x 1,5% = 751.090 đồng. H chưa thanh toán tiền mua hoá
đơn.
Tổng 36 (ba mươi sáu) số hoá đơn GTGT H đã mua vào tổng giá trị hàng
hoá chưa tính thuế là: 2.572.152.018 đồng. Tổng số tiền H chi ra để mua 36 hoá đơn:
(6.905.408 đồng + 907.488 đồng + 1.807.118 đồng + 900.000 đồng + 10.000.000
đồng) = 20.520.014 đồng.
4
* Từ tháng 01/2024 đến ngày 25/6/2024, Thị Thúy H đã bán 41 hoá đơn
GTGT cho nhiều Công ty, doanh nghiệp với giá 07 % trên giá trị hàng hoá chưa tính
thuế như sau:
- Từ ngày 07/01/2024 đến ngày 25/6/2024, Thị Thúy H Đỗ Thị Minh T2
chủ Doanh nghiệp nhân M (Mã số thuế 4000465323) thoả thuận, khi T2 cần
hoá đơn GTGT thì liên lạc cho H, với giá bán 7% trên giá trị hàng hoá mặt hàng
vận chuyển chưa tính thuế GTGT. Bà H xuất bán trái phép 35 (ba mươi lăm) hóa đơn
GTGT (xuất hóa đơn không hàng hoá mặt hàng vận chuyển kèm theo) cho
Đỗ Thị Minh T2 với giá bán là 7% trên giá trị hàng hoá là mặt hàng vận chuyển chưa
tính thuế GTGT. Sau khi xuất hoá đơn xong, H mang hđơn GTGT T2 yêu cầu
đến Ngân hàng N - Chi nhánh Đ gặp Nguyễn Đỗ Ánh T3 con bà T2. Tại đây, bà T3
dùng Uỷ nhiệm chi chữ T2 chuyển tiền từ tài khoản 4219201000500 đến tài
khoản 9789978997899- M1 của công ty V của H. Sau đó, H rút toàn bộ số tiền do T2
chuyển đến. Sau trừ đi số tiền 07% tiền xuất hoá đơn bán cho công ty M2, H chuyển
trả lại số tiền hàng hoá mặt hàng vận chuyển thực tế không phát sinh qua số TK
4219205090580 và TK 101002740323 của bà Nguyễn Đỗ Ánh T3. Với cách thức nêu
trên, từ tháng 01/2024 đến tháng 06/2024, H đã xuất bán cho T2 35 hoá đơn giá trị
gia tăng cho Đỗ Thị Minh T2 với tổng số tiền 4.186.302.000 đồng. T2 chuyển
cho Công ty V tổng số tiền là 4.407.307.200 đồng (trong đó, T2 đưa tiền mặt cho H là
4.984.940 đồng). H chuyển lại cho bà T2 tổng số tiền 4.119.251.000 đồng. Tổng số
tiền T2 chuyển cho H tiền mua hoá đơn 07%/35 hoá đơn 293.041.140 đồng
(chuyển tiền khoản là: 288.056.200 đồng và nhận tiền mặt 4.984.940 đồng).
Sau khi mua 35 hoá đơn nêu trên, doanh nghiệp nhân M đã khai vào tờ
khai thuế GTGT quí 1/2024 quí 2/2024. Ngày 11 tháng 9 năm 2024, Chi cục thuế
khu vực Đ - Duy Xuyên giấy mời Doanh nghiệp nhân M để giải trình các nội
dung liên quan đến việc khai hoá đơn do Công ty TNHH V1 bán. Ngày
24/10/2024, Doanh nghiệp nhân M khai bổ sung lần 2 quí I/2024 điều chỉnh
giảm thuế GTGT đầu vào được khấu trừ 16 hoá đơn, với số tiền chưa thuế điều chỉnh
giảm: 983.586.000 đồng; khai bổ sung lần 1 quí II/2024 điều chỉnh giảm thuế
GTGT đầu vào được khấu trừ 19 hoá đơn, với số tiền chưa thuế điều chỉnh giảm:
3.202.734.000 đồng.
- Ngày 29/02/2024, Thị Thúy H xuất bán 01 (một) hoá đơn vận chuyển cho
Trường tiểu học N1 (Mã số thuế: 0401288674, địa chỉ: A Ỷ, phường H, TP Đà Nẵng)
5
thông qua người không lai lịch số 01, hiệu hoá đơn: C24TLP, với giá trị hàng
chưa thuế là 3.500.000đồng.
- Ngày 28/3/2024, Thị Thúy H xuất bán 01 (một) hoá đơn vận chuyển cho
Công ty TNHH D2 (Mã số thuế: 3301535702, địa chỉ: A , phường H, TP Đà Nẵng)
thông qua người không rõ lai lịch số hoá đơn 02, ký hiệu hoá đơn: C24TLP, với giá trị
hàng chưa thuế là 16.342.593 đồng.
- Ngày 11/4/2024, Thị Thúy H xuất bán 01 (một) hoá đơn mặt hàng sửa
chữa mặt đường cho Công ty cổ phần C (Mã số thuế: 0400101066, địa chỉ: Số E,
đường X, phường H, TP Đà Nẵng) cho một người không rõ lai lịch số hoá đơn 03, ký
hiệu hoá đơn: C24TLP, giá trị hàng chưa thuế là 7.518.519 đồng.
- Từ ngày 18/4/2024 đến ngày 20/4/2024, Thị Thúy H xuất bán 03 (ba) hoá
đơn nhân công cho Công ty cổ phần X (Mã số thuế 0101708991, địa chỉ: Số D, Ngõ
B, phố H, phường T TP Nội) cho một người không lai lịch với các số hoá đơn
04: số tiền chưa thuế 18.259.259 đồng, hoá đơn số 05, số tiền chưa thuế: 17.453.704
đồng, hoá đơn số 06, số tiền chưa thuế: 5.101.852 đồng, ký hiệu 03 hoá đơn: C24TLP.
Thị Thúy H chỉ nhận được tiền bán hoá đơn của bà Đỗ Thị Minh T2 với số
tiền 293.041.140 đồng và một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch từ Công ty cổ
phần C với số tiền 526.296 đồng, còn 05 (năm) hoá đơn còn lại tH không liên
lạc được nên không nhận tiền. Như vậy, tổng stiền H thu lợi được từ việc bán 41
(bốn mươi mốt) hoá đơn là: (293.041.140đ + 526.296đ) = 293.567.436 đồng.
Tổng số tiền Thị Thúy H thu lợi bất chính từ hoạt động mua 36 hoá đơn
bán ra 41 hoá đơn GTGT: (293.567.436đ - 20.520.014đ) = 273.047.422 đồng. Đỗ Thị
Minh T2 không thu lợi bất chính. Sau sự việc xảy ra, Thị Thúy H đã tự nguyện
nộp ngân sách nhà nước một phần số tiền thu lợi bất chính là 5.000.000 đồng.
* Tại Kết luận giám định Thuế đối với 35 hoá đơn của Thuế Thành phố Đ, thời
gian giám định từ ngày 09/4/2025 đến 24/7/2025, kết luận:
- Doanh nghiệp nhân M hành vi sử dụng không hợp pháp 35 hoá đơn
GTGT được xác định là một trong nhưng hành vi trốn thuế theo quy định tại Điều 143
Luật Quản thuế số 38/2019/QH14. Tuy nhiên, Doanh nghiệp đã thực hiện khai
điều chỉnh giảm thuế GTGT được khấu trừ điều chỉnh tăng tổng lợi nhuận tính
thuế TNDN trước khi quan T4, quan thẩm quyền phát hiện lập biên bản đối
6
với hành vi sử dụng không hợp pháp 35 hoá đơn này; căn cứ quy định của Luật Quản
lý thuế, Doanh nghiệp tư nhân M không có hành vi trốn thuế.
- Doanh ngiệp đã hành vi mua bán hoá đơn trái phép, sử dụng không hợp
pháp hoá đơn; đây là hành vi vi phạm pháp hành chính về hoá đơn nhưng do số lượng
hoá đơn lớn (35 tờ) nên bị điều chỉnh theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự.
Với nội dung như trên, tại Bản án thẩm số: 124/2025/HS-ST ngày 12/12/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị Thúy H phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Căn cứ điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Thị Thúy H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ,
tạm giam từ ngày 16/01/2025 đến ngày 24/01/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Võ Thị Thúy H 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Ngày 25/12/2026, bị cáo Võ Thị Thúy H có đơn kháng cáo với nội dung: Xin cấp
phúc thẩm xem xét cho được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo và thừa nhận Tòa án
cấp thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm d, đ
khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm giải quyết vụ
án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo
và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo và hợp lệ.
- Về nội dung: Bản án thẩm số 124/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội: “Mua bán trái phép hóa đơn
theo điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự đúng pháp luật. Tòa án cấp
thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, áp
dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình, xử phạt bị cáo Thị Thúy H
15 (Mười lăm) tháng tù. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Thị Thúy H tnguyện
nộp 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền phạt bổ sung 200.000 đồng án phí
7
hình sự sơ thẩm, đây tình tiết giảm nhẹ mới. Tuy nhiên, mức án cấp sơ thẩm đã tuyên
là phù hợp, không nặng, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355
Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, đnghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng
cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử thẩm, bị cáo Thị Thúy H đơn kháng cáo
trong hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bcáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu
trong hồ sơ vụ án, cũng như tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở
khẳng định:
Vào tháng 11/2023, do muốn tiền tiêu xài, Thị Thúy H nảy sinh ý định
thành lập doanh nghiệp để mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT). H
mượn căn cước công dân của ông Lê Quang P để đăng ký thành lập Công ty TNHH V
(mã số thuế 4001276304). Công ty này thực tế không hoạt động kinh doanh, không có
địa điểm làm việc, không cung cấp dịch vụ vận tải như đăng ký, chỉ được lập ra để
phục vụ việc mua bán hóa đơn.
Từ ngày 07/01/2024 đến ngày 25/6/2024, để hợp thức hoạt động kinh doanh, H
lên mạng hội tìm các trang bán hoá đơn, rồi dùng “sim rác” (không nhớ số thuê
bao) liên hệ mua đơn 36 hoá đơn giá trị gia tăng (các mặt hàng xi măng, xăng, bia)
của một số công ty với giá từ 1,0% - 05% trên tổng gtrị hàng hoá. Cũng trong
khoảng thời gian đó, H đã xuất bán 41 hoá đơn giá trị gia tăng (GTGT) theo yêu cầu
của công ty, tổ chức, mỗi hoá đơn bán ra, H thu lợi 07% trên tổng giá trị hàng hoá,
dịch vụ xuất hoá đơn, cụ thể:
+ H bán trái phép 41 hoá đơn: 35 (ba mươi lăm) hđơn cho Đỗ Thị Minh
T2 với tổng giá trị hàng hoá chưa tính thuế 4.186.302.000 đồng, 01(một) hoá đơn
cho Trường Tiểu học N1 - Đà Nẵng giá trị hàng hoá chưa tính thuế là 3.500.000 đồng,
01(một) hoá đơn cho Công ty D2 thành phố H với giá trị hàng hoá chưa tính thuế
16.342.592 đồng, 01(một) hoá đơn cho Công ty Cổ phần C với s tiền 7.518.519
đồng; 03 (ba) hoá đơn cho Công ty X Hà Nội tổng số tiền 40.814.788 đồng.
8
+ H mua trái phép 36 hoá đơn, gồm: 01 (một) hoá đơn của Công ty TNHH T5
với giá trị hàng hoá chưa thuế 18.000.000 đồng; 15 (mười lăm) hoá đơn của
Công ty TNHH Q với tổng giá trị hàng hoá chưa thuế là 138.109.617 đồng; 02
(hai) hoá đơn của Doanh nghiệp nhân T6 với tổng giá trị hàng hoá chưa thuế
36.299.537 đồng; 04 (bốn) hoá đơn Công ty T7 với tổng giá trị hàng hoá chưa có thuế
72.284.722 đồng; 03 (ba) hoá đơn Doanh nghiệp tư nhân S với tổng giá trị hàng
hoá chưa thuế 251.640.000 đồng; 07 (bảy) hoá đơn Công ty TNHH T8 với tổng
giá trị hàng hoá chưa có thuế 2.005.745.454 đồng và 04 (bốn) hoá đơn của Công ty
TNHH T9 tổng giá trị hàng hoá chưa tính thuế là 50.072.688 đồng.
Tổng số tiền Thị Thúy H thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép hoá
đơn là 273.047.422 đồng.
vậy, Bản án hình sự thẩm 124/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Thị Thúy H về tội: Mua bán
trái phép hóa đơntheo điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình scăn cứ,
đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử cấp phúc
thẩm, thấy
Hành vi phm ti ca b cáo là nghiêm trng, xâm phạm đến trt t qun lý kinh
tế của nhà nước, hp thc hóa hàng hóa trôi ni, gây tht thu cho ngân sách N
c, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh lành mnh, nên phải chịu hình phạt
nghiêm khắc, để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Thị Thúy H tự nguyện nộp 10.000.000 đồng
(mười triệu đồng) tiền phạt bổ sung và 200.000 đồng án phí hình sự thẩm (theo
Biên lai thu số 0001424 ngày 24/4/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng)
đây tình tiết giảm nhẹ mới mà bị cáo được hưởng, theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3
Nghị quyết số: 04/2015/ NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo H nộp Kết quả siêu
âm ngày 27/4/2026 của Trung tâm Y tế K, bị cáo đang thai hơn 4 tuần. Tuy nhiên,
xét thấy Tòa án cấp thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi
phạm tội bị cáo gây ra, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xử
phạt bị o Thị Thúy H 15 (Mười lăm) tháng phù hợp, không nặng, nên
9
HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bcáo, giữ nguyên mức hình phạt như đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4] Các quyết định khác của Bản ánthẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Thị Thúy H không được
chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thị Thúy H, ginguyên Bản án
thẩm.
2. Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Thị Thúy H 15 (Mười lăm) tháng về tội :“Mua bán trái
phép hóa đơn”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án,
nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2025 đến ngày
24/01/2025.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 83/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Thị Thúy H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- Phòng HSNV-CATP Đà Nẵng (PV 27);
- Vụ 1;
- Công an thành phố Đà Nẵng ;
- TAND khu vực 10 - Đà Nẵng ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
10
- Phòng THA khu vực 10 - Đà Nẵng;
- TB kết quả xét xử;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: HS; HCTP.
Đỗ Thị Thúy Năng
Tải về
Bản án số 104/2026/HS-PT Bản án số 104/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 104/2026/HS-PT Bản án số 104/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất