Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TAND tỉnh Bắc Kạn về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 08/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 08/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TAND tỉnh Bắc Kạn về tranh chấp quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bắc Kạn |
Số hiệu: | 08/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 26/09/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất giữa nguyên đơn ông Lê Văn Huyên và bị đơn ông Lê Thái Phong |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC KẠN
Bản án số: 08/2024/DS-ST
Ngày: 26/9/2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất;
yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD
đất và yêu cầu di dời tài sản trên đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Huyền
Ông Vi Thanh Cầm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lƣờng Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Kạn
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà
Hoàng Thị Chuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2023/TLST- DS ngày 01
tháng 12 năm 2023 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản trên đất”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 15/2024/QĐXXST-DS
ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Lê Thái P, có mặt.
Đều cùng địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Địa chỉ: Tổ N, thị trấn Y,
huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn T – Chức vụ: Trưởng
phòng Tài nguyên và Môi trường huyện N (Giấy ủy quyền số 06/GUQ-UBND
ngày 27/6/2024). Vắng mặt.
- Bà Trương Thị N, có mặt.
- Bà Mã Thị V, có mặt.
- Anh Lê Thái T1, có mặt.
2
- Chị Lê Thị T2, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T3, anh T1 là ông Lê Thái P, có
mặt.
Đều cùng địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Chị Lê Thị T3. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng
mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T3 là ông Lê Thái P, có mặt.
4. Người làm chứng:
- Ông Lê Minh Đ, sinh năm 1960, vắng mặt.
- Anh Trương Đức D, sinh năm 1984, vắng mặt.
- Ông Lê Văn V1, sinh năm 1965, vắng mặt.
- Anh Lê Văn H1, sinh năm 1989, có mặt.
- Anh Trương Văn Q, sinh năm 1983, có mặt.
- Ông Hoàng Minh T4, sinh năm 1960, vắng mặt.
- Bà Trương Thị P1, sinh năm 1964, vắng mặt.
- Ông Lê Văn T5, sinh năm 1977, vắng mặt.
- Ông Lôi văn T6, sinh năm 1969, vắng mặt
Đều cùng địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Chị Lê Thị H2, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Bắc
Kạn, có mặt.
- Bà Giàu Phủng M, sinh năm 1945, địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện N, tỉnh
Bắc Kạn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 16/11/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày
23/7/2024, các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Diện tích đất tranh chấp thuộc thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn là do
gia đình ông khai phá vào năm 1989. Gia đình ông đến ở và phát dọn cả quả đồi,
từ đó đến khi xảy ra tranh chấp năm nào ông và vợ là bà Trương Thị N cũng đến
phát cây cỏ, trồng ngô sau đó một thời gian không trồng ngô nữa mà để lấy củi
phục vụ sinh hoạt gia đình. Năm 2000 ông có trồng một số cây chè. Năm 2022
trồng nhãn. Phần đất tranh chấp có hình tam giác, có các cạnh tiếp giáp như sau:
Một bên giáp thửa đất số 11 của gia đình ông; Một bên giáp phần còn lại của
thửa đất số 51 (của ông P); Một bên giáp đường giao thông vào Bãi đá. Toàn bộ
diện tích đất tranh chấp hiện nay ông Lê Thái P đã sử dụng lưới sắt để rào lại.
Việc gia đình ông P được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần
diện tích đang có tranh chấp này khi nào gia đình ông không ai biết.
3
Qua xem xét thẩm định tại chỗ, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải ông H xác định yêu cầu khởi kiện như
sau:
- Yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất tranh chấp là 253,9 m
2
thuộc thửa
đất số 51, tờ bản đồ số 35 (diện tích theo biên bản xem xét thẩm định ngày
22/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn).
- Yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CA 658900, ngày 29/12/2014 của UBND
huyện N cấp cho hộ ông Lê Thái P và bà Mã Thị V đối với thửa đất số 51, tờ
bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất: Đ, thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Yêu cầu bị đơn cắt, chặt, nhổ, di dời, tháo dỡ toàn bộ hàng rào và số
cây đã trồng trên đất tranh chấp để trả lại đất cho gia đình nguyên đơn.
* Tại đơn yêu cầu phản tố, các biên bản lấy lời khai quá trình trong giải
quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn trình bày:
Diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là do bố mẹ ông là ông Lê Minh D1
(đã chết 1984) và bà Triệu Thị C (đã chết năm 1993) khai phá. Sau khi mẹ chết
được 01 năm thì năm 1994, ba anh em ông gồm ông Lê Trung T7 (là bố đẻ ông
H và là con nuôi của bố mẹ ông), ông Lê Minh Đ và ông Lê Thái P tự bàn bạc,
thống nhất chia đất mà bố mẹ để lại. Khi các anh em ông chia đất có viết giấy tờ,
ông là người trực tiếp viết giấy, mỗi người giữ một bản. Năm 2014 ông đã được
Nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSD đất, ông là người trực tiếp làm các thủ tục
xin cấp đất. Khoảng năm 2022 gia đình ông trồng vài chục cây Keo và 4 cây
chuối.
Đất tranh chấp gia đình ông đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ số
CA 658900, ngày 29/12/2014, thửa đất số 51, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất:
Đ, thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Ông không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu
cầu Tòa án buộc gia đình ông H phải cắt, chặt, nhổ, di dời đối với 15 cây nhãn
trồng năm 2022 và 01 cây xoài. Các cây xoan và cây chè trên đất tranh chấp là
các cây tự mọc không phải do ông H trồng.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- UBND huyện N:
Tại Văn bản số 1950/UBND-TNMT ngày 27/6/2024 UBND huyện có ý
kiến: Căn cứ hồ sơ cấp GCNQSDĐ số CA 568900 ngày 29/12/2014 đối với thửa
đất số 51, tờ bản đồ số 35, diện tích 325,8m
2
, địa chỉ thửa đất: Đ, thôn G, xã K,
huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp cho hộ ông Lê Thái P và bà Mã Thị V cho thấy quá
trình đo đạc thành lập bản đồ địa chính, trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ được
thực hiện đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án nếu
phát hiện có sai sót trong quá trình đo đạc, cấp GCNQSDĐ thì xem xét thu hồi
và hủy bỏ GCNQSDĐ đã cấp theo quy định.
Tại Văn bản số 284/TNMT ngày 17/9/2014 của phòng Tài nguyên và Môi
trường huyện N:
4
- Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD đất các thửa đất số 11, tờ
bản đồ số 35 cho hộ ông Lê Văn H và thửa đất số 51, tờ bản đồ số 35 cho ông
Lê Thái P được thực hiện đảm bảo đúng trình tự quy định.
- Thửa đất số 11, tờ bản đồ số 35 được hộ ông Lê Văn H cấp đổi lại năm
2014 tại Giấy chứng nhận QSD đất số CA 652915, ngày 20/12/2014 không
trùng vào diện tích đất đang tranh chấp.
Bản đồ địa chính đo đạc năm 1998, xã K được sử dụng phương pháp toàn
đạc điện tử và sử dụng hệ tọa độ giả định để đo đạc là chủ yếu nên độ chính xác
về vị trí giữa bản đồ với thực địa không cao.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N nhất trí với ý
kiến của nguyên đơn về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và các yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu độc lập.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Mã Thị V, chị Lê Thị T3, chị
Lê Thị T2, anh Lê Thái T1 nhất trí với ý kiến của bị đơn về nguồn gốc, quá trình
sử dụng đất và các yêu cầu phản tố của bị đơn, không có yêu cầu độc lập.
* Những người làm chứng trình bày:
- Ông Lê Minh Đ: Nguồn gốc của thửa đất hiện nay đang có tranh chấp
trước đây đất là của bố mẹ đẻ ông sử dụng để trồng cây hàng năm. Toàn bộ khu
đất tranh chấp và khu vực nhà ông H gọi là Pò L. Khu đất hiện nay đang có
tranh chấp được chia năm 1994. Khi đó có ông và ông Lê Thái P cùng thống
nhất chia đất, tại thời điểm chia đất ông Lê Trung T7 (bố ông H) đã chết.
Theo “Giấy ghi để lưu lại trong ba anh, em chia ruộng đất, bãi, đồi năm
1994” thì ông P được chia đất khu P. Phần đất Pò Lo bao gồm: Khu đất tranh
chấp, đất có nhà ở của ông H và phần đất chuồng trại của ông P. Đối với phần
đất hiện nay đang có tranh chấp, ai là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất ông
không nắm được.
- Ông Hoàng Minh T4: Ông là thành viên trong Tổ hòa giải của thôn P
nên biết sự việc tranh chấp và Tổ Hòa giải đã đi thực địa tại khu đất tranh chấp
nên tôi biết vị trí đất tranh chấp. Trước khi ông H đến làm nhà thì khu đất trên
không ai sử dụng; Khi ông H đến làm nhà mới khai phá khu đất. Trước đây khu
đất tranh chấp là 1 quả đồi nhỏ. Khu đất tranh chấp trước đây có một lớp học vỡ
lòng; tại vị trí đất tranh chấp mọi người hay buộc trâu. Trước khi xảy ra tranh
chấp, khu đất không có ai canh tác, quản lý. Khoảng năm 2008 ông H đến khu
vực có đất tranh chấp để làm nhà.
Từ năm 2011 đến năm 2019 ông là trưởng thôn P, xã K. Năm 2014, có
chương trình đo đạc cấp đất để cấp giấy chứng nhận QSD đất cho các hộ dân
trong thôn. Đoàn đo đạc khi đó có ông (đại diện thôn), ông H (đại diện hộ gia
đình xin cấp đất) và cán bộ đo đạc của tỉnh tiến hành đo đạc đất theo chỉ dẫn của
ông H. Khi đó ông H chỉ ranh giới đất thổ cư và đất vườn; ông H chỉ cho cán bộ
đo toàn bộ khu đất hiện nay đang có tranh chấp; ông H đo đất theo đường vòng
cung, đo toàn bộ phần đất hiện nay đang có tranh chấp. Khu đất của ông H đo
đạc trước; đất của ông P đo đạc sau, đo trong một buổi sáng. Sau khi đo đạc
5
xong hộ ông P, ông H đều không có ý kiến gì. Sau này khi tham gia tổ hòa giải,
tôi mới biết trên khu đất tranh chấp có 01 ngôi mộ, nhưng vị trí mộ ở đâu tôi
không nắm được.Toàn bộ khu đất tranh chấp, tại địa phương có tên địa danh là
Phja Đ1 và tên gọi khác là Pò L.
- Ông Lê Quang V2: Sự việc tranh chấp giữa ông H và ông P vì là người
cùng thôn nên ông có biết. Gia đình ông có đất ruộng giáp ranh với đất vườn của
ông P. Ông chỉ biết khu đất có nhà ông H, còn cụ thể vị trí đất tranh chấp tại đâu
ông không nắm được. Toàn bộ khu đất có nhà ông H và ông P tại địa phương có
tên là Phja Đ1 và tên gọi khác là Pò L.
- Anh Trƣơng Văn Q: Là cháu ruột của bà Trương Thị N - vợ ông H.
Anh có biết sự việc tranh chấp đất đai giữa ông H và ông P tuy nhiên chi tiết
việc tranh chấp anh không nắm được. Về vị trí đất tranh chấp: Khu đất tranh
chấp có 1 bên giáp đất ông P, một bên giáp đất ông H; một bên giáp đường đi
vào bãi đá. Hiện trạng khu đất tranh chấp là đất đồi, hơi dốc. Về nguồn gốc của
thửa đất hiện nay đang có tranh chấp anh Q không nắm được. Về quá trình quản
lý, sử dụng đất năm 1989 ông H đến khu vực có đất tranh chấp để làm nhà; Năm
2008 ông H xây nhà mới, anh có được đến hộ ông H đào móng nhà và được đào
đất tại khu vực đất tranh chấp để bù vào nền nhà ông H hiện nay. Tại khu vực
đất tranh chấp ông H có trồng cây chè, cây đỗ nhưng trồng từ thời gian nào anh
không nắm được.
Năm 1989, khi ông H làm nhà ông P chưa đến sinh sống tại khu vực này;
trước khi ông P làm nhà thì khu nền nhà của ông H, ông P sử dụng để trồng cây
lạc. Khi ông H đào đất tại khu vực đất có tranh chấp để bù vào nền nhà thì thời
điểm này ông P đã sinh sống tại ngôi nhà hiện nay; ông P thường xuyên đi lại
nhưng không có ý kiến gì.
- Anh Lê Văn H1 và chị Lê Thị H2: Anh H1 và chị H2 là con ruột của
ông H. Nguồn gốc đất là do bố mẹ anh, chị khai phá từ năm 1989; sau khi khai
phá bố mẹ anh trồng các cây chè, xoan, nhãn và các cây hoa màu; Khi còn nhỏ
anh, chị được giúp bố mẹ trồng cây đỗ trắng, đỗ xanh, lạc.
Trước đây khu đất tranh chấp là một quả đồi nhỏ; gia đình anh, chị và gia
đình ông P đã tự thỏa thuận với nhau, chỉ thỏa thuận miệng, không viết giấy là
quả đồi này mỗi bên 1 nửa; cách đây khoảng 3 năm khi ông P làm nhà mới đã
múc một phần của quả đồi, phần còn lại của quả đồi chính là phần đất hiện nay
đang có tranh chấp theo thỏa thuận là đất của gia đình anh, chị. Trên đất tranh
chấp không có ngôi mộ nào, ngôi mộ ở phần đất vườn của ông P, không nằm
trên đất tranh chấp. Đất tranh chấp do bố mẹ anh, chị khai phá, anh, chị chỉ được
giúp bố mẹ trồng cây hoa màu; hiện nay anh, chị đã lập gia đình và ở riêng nên
không liên quan đến phần đất tranh chấp; đất đai là tài sản riêng của bố mẹ, anh,
chị xác định không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến diện tích đất tranh chấp.
- Anh Trƣơng Đức D: Anh là em ruột của bà Trương Thị N - vợ ông Lê
Văn H. Khu đất tranh chấp có 1 bên giáp đất ông P; một bên giáp đất ông H;
một bên giáp đường đi vào bãi đá. Trước đây đất là của bố mẹ đẻ ông P nhận bố
đẻ của ông H làm con nuôi, ông H là cháu nên ông bà chia cho ông H. Trước
6
đây gia đình ông H trồng cây đỗ trắng, cây Xoan, cây Chè; ông H sử dụng đất từ
năm 1989. Năm 2008 tôi có được hộ ông H đào đất để bồi làm nền nhà tại vị trí
đất đang tranh chấp. Hiện nay hiện trạng đất chỗ cao, chỗ thấp và có 1 cái hủm
là do trước đây ông H đào lấy đất để để bồi nền nhà hiện nay của ông H. Người
già trong thôn vẫn gọi khu vực đất tranh chấp là Pò Lo; khu vực này có 2 tên gọi
là Pò L hoặc Pò Phi.
- Bà Giàu P2 Mình là mẹ đẻ của ông H trình bày: Từ trước đến nay gia
đình bà chỉ sinh sống ở thôn H; không sống ở thôn P; Trước đây ông Lê Văn H
sống cùng bà tại thôn H, do nhà đông con nên năm 1989 ông H chuyển đến thôn
P để làm nhà tại khu vực hiện nay có đất tranh chấp. Không có sự việc ông H bị
bố đuổi. Khu đất tranh chấp là phần đất trước cửa nhà ông H; trước đây là một
quả đồi nhỏ, đất thoai thoải, rậm rạp, năm 1989 ông H đến làm nhà thì tự khai
phá đất. Khi ông P đến làm nhà, quả đồi đã chia cho ông P một nửa, còn một
nửa do ông H quản lý, sử dụng.
Về tứ cận tiếp giáp: Một bên giáp đất ông P, một bên giáp đất nhà ông H,
một bên giúp đường nhỏ vào bãi đá.
Sau khi chuyển đến ông H trồng cây đỗ, cây ăn quả,...nhưng đất tại khu
vực tranh chấp không màu mỡ nên cây không phát triển được. Tôi chỉ biết ông
H3 có trồng các cây đỗ và cây ăn quả, nhưng cụ thể trồng năm nào tôi không
nắm được. Ông P được chia phần đồi ngay gần nhà ông P. Phần đất làm nhà ông
P là phần đất trước đây gia đình ông P trồng đỗ; còn phần đồi ông P được chia
thì nằm ngay sát nhà ông P. Trên đất tranh chấp trước đây có 02 ngôi mộ; nhưng
01 ngôi mộ đã di dời đi, hiện nay trên đất vẫn còn 01 ngôi mộ. Trong thời kỳ
Hợp tác xã, trên khu đất tranh chấp có xây dựng lớp học vỡ lòng.
- Ông Lê Văn T5 trình bày: Tôi chỉ nghe kể có sự việc tranh chấp đất đai
giữa ông H và ông P; tuy nhiên chi tiết việc tranh chấp tôi không nắm được. Về
vị trí đất tranh chấp: Khu đất tranh chấp có 1 bên giáp đất ông P, một bên giáp
đất ông H; một bên giáp đường đi vào bãi đá. Năm 1989, ông H đến khai phá đất
và làm nhà tại khu vực đất hiện nay đang có tranh chấp. Khoảng năm 1989-1990
tôi đi chăn trâu có thấy ông H phát cỏ trồng cây đỗ, trồng cây ăn quả, trồng cây
chè. Nhưng đất tại khu vực này cằn cỗi nên cây cũng không phát triển được.
Việc ông H trồng đỗ đã diễn ra từ rất lâu từ khoảng những năm 1990, sau này
trồng đỗ không tốt thì ông H trồng cây chè và cây ăn quả; Cây chè ông H đã
trồng từ rất lâu (không nhớ năm), ông H trồng một vài cây để lấy lá đun nước
uống; Cây ăn quả thì có một vài cây nhãn ông H trồng cách đây vài năm. Khu
đất tranh chấp tại địa phương có tên gọi là Pò L. Tại khu vực đất tranh chấp
không có ngôi mộ nào chỉ có 1 ngôi mộ ở gần nhà ông P, không nằm trên đất
tranh chấp.
- Bà Trƣơng Thị P1: Bà chỉ nghe kể có sự việc tranh chấp đất đai giữa
ông H và ông P; tuy nhiên chi tiết việc tranh chấp bà không nắm được.
Về vị trí đất tranh chấp: Một bên giáp nhà ông H, một bên giáp nhà ông P;
một bên giáp đường đi vào bãi đá.
7
Khu đất tranh chấp là một quả đồi bé, đất không bằng phẳng, tại địa
phương có tên gọi là Pò L. Năm 1989, ông H4 đến khai phá đất và làm nhà tại
khu vực đất hiện nay đang có tranh chấp. Bà chỉ biết ông H khai phá đất để làm
nhà, còn ông H có phát phần đất trước nhà hay không bà không biết.
Bà chỉ thấy trên đất có cây chè, nhưng cây chè do ai trồng, trồng từ thời
gian nào bà không biết. Bà nhớ tại khu vực gần nhà ông H trước đây có chuồng
trâu, nhưng chuồng trâu làm từ thời gian nào, của ai, làm tại vị trí nào bà không
biết. Vì đất đai không phải của gia đình bà nên ông H quản lý, sử dụng như thế
nào bà không nắm được. Tại khu vực đất tranh chấp chỉ có 1 ngôi mộ ở gần nhà
ông P, không nằm trên đất tranh chấp.
- Ông Lôi Văn T6: Từ chối làm chứng trong vụ án; Lời làm chứng đã
cung cấp cho Tòa án, ông xin rút lại lời làm chứng.
- Ông Trƣơng Văn C1, ông Trƣơng Thanh B, ông Trƣơng Văn D2,
ông Nông Anh D3 là những người làm chứng theo đề nghị của nguyên đơn.
Tuy nhiên Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng những người làm chứng
này không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án. Nguyên đơn có nộp tài liệu là
các Giấy xác nhận của những người này nhưng đều không có xác nhận của
chính quyền địa phương.
* Kết quả xem xét thẩm định phần đất tranh chấp.
Phần đất tranh chấp được xác định trên thực địa cụ thể như sau: Tổng diện
tích đất tranh chấp là: 265,3m
2
.
Trong đó: 253,9 m
2
thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 35, mang tên ông
Lê Thái P và bà Mã Thị V; 11,4 m
2
thuộc thửa đất số 71, tờ bản đồ số 35, mang
tên ông Lê Thái P và bà Mã Thị V;
Về tứ cận tiếp giáp:
- Phía Đông giáp thửa đất số 71, TBĐ số 35, mang tên ông Lê Thái P và
bà Mã Thị V;
- Phía Tây giáp đường đất do UBND xã quản lý;
- Phía Nam giáp đường đất do UBND xã quản lý và giáp thửa số 71, TBĐ
số 35, mang tên ông Lê Thái P và bà Mã Thị V;
- Phía Bắc giáp thửa đất số 11, TBĐ số 35 (đo đạc năm 2015) mang tên
ông Lê Văn H;
Hiện trạng: Trên đất tranh chấp có các tài sản sau:
- Các cây nguyên đơn xác định do nguyên đơn trồng:
+ 15 cây xoan; trong đó có 03 cây xoan to đường kính khoảng 10cm,
nguyên đơn khai trồng từ năm 2018; có 12 cây xoan nhỏ trồng từ năm 2022;
+ 02 cây chè nguyên đơn khai trồng khoảng năm 1989-1990.
+ 15 cây nhãn trồng năm 2022;
+ 01 cây xoài trồng năm 2020.
8
Bị đơn xác định các cây xoan mọc tự nhiên; 02 cây chè không xác định
được do ai trồng.
- Các cây bị đơn xác định do bị đơn trồng:
+ 19 cây keo trồng năm 2022;
+ 4 cây chuối trồng từ năm 2023;
Sau khi xem xét thẩm định tại chỗ nguyên đơn sửa đổi nội dung yêu cầu
khởi kiện: Không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với diện tích đất 11,4 m
2
thuộc
thửa đất số 71, tờ bản đồ số 35, mang tên ông Lê Thái P và bà Mã Thị V.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên lời khai và yêu cầu khởi kiện;
Bị đơn giữ nguyên lời khai và yêu cầu phản tố;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung ý kiến đã
trình bày.
Người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan: Giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện N giữ nguyên các nội
dung đã trình bày tại văn bản số 1950/UBND-TNMT ngày 27/6/2024 và các nội
dung đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Những người làm chứng là ông Lê Minh Đ, ông Trương Đức D khai:
Nguồn gốc đất là do bố mẹ ông P khai phá.
Những người làm chứng: Ông T4, anh H1, chị H2, anh Q, bà M, bà P1,
ông T5 khai là do ông H khai phá.
Những người làm chứng khác không biết về nguồn gốc đất tranh chấp.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Căn cứ Điều 101, 166 và Điều 203 Luật Đất đai; Điều 26, 34 Bộ luật tố
tụng dân sự; Điều 32 Luật tố tụng hành chính
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H về việc
yêu cầu ông Lê Thái P trả lại diện tích đất 253,9m
2
nằm trong thửa đất số 51, tờ
bản đồ số 35; Cắt, chặt, tháo dỡ, di dời 19 cây keo, 04 cây chuối, hàng rào lưới
B40 trên diện tích đất tranh chấp và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
vào sổ CA 658900 ngày 29/12/2014 do UBND huyện N cấp cho hộ ông Lê Thái
P và bà Mã Thị V
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Lê Thái P về việc buộc ông Lê Văn
H phải cắt, nhổ, di lời toàn bổ cây do ông H trồng trên đất tranh chấp.
Các đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
9
tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp:
Nguyên đơn, bị đơn đều có yêu cầu được sử dụng phần đất tranh chấp do
vậy xác định đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ
án nguyên đơn yêu cầu hủy GCNQSD đất số CA 568900 ngày 29/12/2014 do
UBND huyện N cấp cho hộ ông Lê Thái P và bà Mã Thị V đối với thửa đất số
51, tờ bản đồ số 35. Việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn thụ lý, giải quyết vụ án
là đúng quy định của pháp luật tại Điều 26, Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự và
Điều 32 Luật tố tụng Hành chính.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan,
người làm chứng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử:
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị
T3, chị T2, anh T1 vắng mặt nhưng người đại diện theo ủy quyền của những
người trên là ông Lê Thái P có mặt. Do vậy, việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn
giải quyết và xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp
quy định của pháp luật tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xác định phần đất tranh chấp trong vụ án:
Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/5/2024 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bắc Kạn và yêu cầu của các đương sự tại phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải và tại phiên tòa có đủ căn
cứ xác định: Phần đất tranh chấp giữa ông Lê Văn H và ông Lê Thái P là phần
đất có diện tích 253,9 m
2
(Được xác định theo biên bản xem xét, thẩm định tại
chỗ ngày 22/5/2024 có bản trích đo địa chính và bảng tọa độ các mốc giới kèm
theo). Toàn bộ diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 51, tờ bản đồ số 35
đã được UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp giấy chứng nhận QSD đất số CA
568900 ngày 29/12/2014 cho hộ ông Lê Thái P và bà Mã Thị V. Địa chỉ thửa
đất: Đ, thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
[2.2] Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất:
Nguyên đơn khai: Về nguồn gốc đất tranh chấp là do nguyên đơn khai
phá.
Bị đơn khai: Về nguồn gốc đất tranh chấp là do bố mẹ ông là ông Lê
Minh D1 (đã chết 1984) và bà Triệu Thị C (đã chết năm 1993) khai phá.
Những người làm chứng trong quá trình giải quyết vụ án khai:
Ông Lê Minh Đ, ông Trương Đức D: Về nguồn gốc đất tranh chấp là của
bố mẹ bị đơn khai phá.
Ông T4, chị H2, anh H1, bà P1, ông T5, bà M: Về nguồn gốc là đất của
nguyên đơn khai phá.
10
Ông V2, anh Q: Không biết về nguồn gốc đất tranh chấp.
HĐXX xác định: Theo nội dung văn bản số 121/CV-UBND, ngày
22/8/2024 của UBND xã K và các lời khai của đương sự, người làm chứng có
đủ cơ sở xác định: Đất tranh chấp là thửa đất số 189, tờ bản đồ số 27 ghi trên
bản đồ là đất hoang, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai.
Như vậy, trước năm 2014 không xác định được ai là người sử dụng đất. Năm
2014 bị đơn được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận QSD đất số CA 568900
ngày 29/12/2014 cho hộ ông Lê Thái P và bà Mã Thị V đối với thửa đất số 51,
tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất: Đ, thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
[2.3] Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ:
Nguyên đơn khai: Khi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 11
(Thửa đất liền kề với thửa đất tranh chấp) nguyên đơn được dẫn Trưởng thôn
Phiêng Đốc là ông Hoàng Văn T8 cùng 02 cán bộ đo đạc đi đo đạc toàn bộ khu
đất của gia đình và có chỉ cả phần đất hiện nay đang có tranh chấp để xin cấp
Giấy chứng nhận QSD đất, khi đó ông T8 là trưởng thôn cũng tham gia nên biết
sự việc. Khi ông chỉ đất cho đoàn đo đạc ông P, các thành viên trong gia đình
ông P không có mặt. Giấy chứng nhận QSD của ông P được cấp năm 2014, ông
không được tham gia chứng kiến quá trình đo đạc, không được ký giáp ranh,
không biết việc niêm yết công khai danh sách những người đủ điều kiện cấp
Giấy chứng nhận QSD đất nên không có ý kiến gì.
Bị đơn khai: Ông là người trực tiếp thực hiện các thủ tục xin cấp
GCNQSD đất. Khi đó đoàn đo đạc bao gồm cán bộ đo, trưởng thôn ông Hoàng
Văn T8 và đại diện hộ gia đình là ông cùng tiến hành đo khu đất. Ông đại diện
hộ gia đình sẽ chỉ các mốc giới, sau khi đo xong Nhà nước cấp Giấy chứng nhận
QSD đất cho gia đình ông.
Ông Hoàng Minh T4 khai: Từ năm 2011 đến năm 2019 ông là trưởng
thôn P, xã K. Năm 2014, có chương trình đo đạc cấp đất để cấp giấy chứng nhận
QSD đất cho các hộ dân trong thôn. Đoàn đo đạc khi đó có ông (đại diện thôn),
ông H (đại diện hộ gia đình xin cấp đất) và cán bộ đo đạc của tỉnh tiến hành đo
đạc đất theo chỉ dẫn của ông H. Khi đó ông H chỉ ranh giới đất thổ cư và đất
vườn; ông H chỉ cho cán bộ đo toàn bộ khu đất hiện nay đang có tranh chấp; ông
H đo đất theo đường vòng cung, đo toàn bộ phần đất hiện nay đang có tranh
chấp. Khu đất của ông H đo đạc trước; đất của ông P đo đạc sau, đo trong một
buổi sáng. Sau khi đo đạc xong hộ ông P, ông H đều không có ý kiến gì. Sau này
khi tham gia tổ hòa giải, ông mới biết trên khu đất tranh chấp có 01 ngôi mộ,
nhưng vị trí mộ ở đâu ông không nắm được.
Tại Văn bản số 1950/UBND-TNMT ngày 27/6/2024 UBND huyện có ý
kiến: Căn cứ hồ sơ cấp GCNQSDĐ số CA 568900 ngày 29/12/2014 đối với thửa
đất số 51, tờ bản đồ số 35, diện tích 325,8m
2
, địa chỉ thửa đất: Đ, thôn G, xã K,
huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp cho hộ ông Lê Thái P và bà Mã Thị V cho thấy quá
trình đo đạc thành lập bản đồ địa chính, trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ được
thực hiện đúng quy định của pháp luật.
11
Hội đồng xét xử thấy: Nguyên đơn cho rằng khi có chủ trương đo đạc để
cấp GCNQSDĐ, nguyên đơn đã dẫn đạc để cán bộ đo đạc đối với phần diện tích
đất đang có tranh chấp và khi đo không có ông P. Khi nhà ông P đo xin cấp
GCNQSDĐ thì ông cũng không được biết và cũng không biết việc niêm yết
danh sách công khai tuy nhiên nguyên đơn không có tài liệu chứng cứ chứng
minh. Lời khai của ông T4 cho rằng ông H có chỉ cho cán bộ đo đạc đo cả phần
đất tranh chấp và ông xác định trên đất tranh chấp có 01 ngôi mộ. Quá trình Tòa
án xem xét thẩm định tại chỗ và lời khai của nguyên đơn, bị đơn người làm
chứng là chị H2, anh H1 đều xác định phần đất có tranh chấp không có ngôi mộ
nào. Có 01 ngôi mộ cạnh nhà của ông P, không nằm trong đất tranh chấp. Như
vậy lời khai của ông T4 về việc ông H có dẫn đạc để đo đất xin cấp GCNQSDĐ
là không có cơ sở.
Hơn nữa cùng thời điểm ông H có làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ đối với
thửa đất số 155, tờ bản đồ số 27 nay là thửa đất số 11, tờ bản đồ số 35. Sau khi
nhận GCNQSDĐ đối với thửa đất số 11 ông H không có ý kiến gì.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định việc cấp GCNQSDĐ số CA 568900 ngày
29/12/2014 đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 35, diện tích 325,8m
2
, địa chỉ
thửa đất: Đ, thôn G, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp cho hộ ông Lê Thái P và
bà Mã Thị V là đúng đối tượng, đúng quy hoạch của địa phương quy định.
[2.4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lại cho
nguyên đơn diện tích đất tranh chấp 253,9m
2
thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số
35. Hội đồng xét xử thấy:
Như đã phân tích ở trên, không có cơ sở xác định nguồn gốc, quá trình sử
dụng đất tranh chấp là của nguyên đơn. Bị đơn được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với phần đất có tranh chấp do đó, yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn diện tích đất tranh
chấp là 253,9m m
2
là không có căn cứ, không đúng quy định của pháp luật. Hội
đồng xét xử không chấp nhận.
[2.5] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy GCNQSDĐ số CA 568900
ngày 29/12/2014 đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 35, diện tích 325,8m
2
, địa
chỉ thửa đất: Đ, thôn G, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp cho hộ ông Lê Thái P
và bà Mã Thị V.
Hội đồng xét xử thấy: Đối với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của hộ ông Lê Thái P và bà Mã Thị V: UBND huyện N chưa thực hiện đầy
đủ thủ tục theo quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai. Tuy nhiên do
không có cơ sở xác định phần đất tranh chấp là của nguyên đơn nên không cần
thiết phải hủy GCNQSDĐ, do đó không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[2.6] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn tháo dỡ hàng rào
lưới sắt, nhổ bỏ, cắt, chặt, di dời các cây trồng trên đất tranh chấp. HĐXX thấy
do không có căn cứ xác định đất tranh chấp là của nguyên đơn do đó không chấp
nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
12
[2.7] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn di dời, cắt
chặt, nhổ bỏ toàn bộ số cây do bị đơn trồng trên đất tranh chấp.
Hội đồng xét xử xét thấy: GCNQSDĐ số CA 568900 ngày 29/12/2014
đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 35, diện tích 325,8m
2
, địa chỉ thửa đất: Đ,
thôn G, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp cho hộ ông Lê Thái P và bà Mã Thị V
là có căn cứ, việc nguyên đơn trồng các cây Nhãn, Xoài trên đất đất tranh chấp
là vi phạm Luật đất đai ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn do đó
chấp nhận yêu cầu của bị đơn. Đối với các cây Xoan, Chè ông H và bà N khai
do ông H, bà N trồng. HĐXX thấy rằng bị đơn cho rằng đó là cây tự nhiên,
nguyên đơn cho rằng nguyên đơn trồng từ năm 1990 (tại Biên bản xem xét thẩm
định tại chỗ thể hiện trồng năm 2018) nhưng không có căn cứ chứng minh do đó
không có cơ sở xác nhận 15 cây Xoan (trong đó có 03 cây xoan to đường kính
khoảng 10cm, nguyên đơn khai trồng từ năm 2018; có 12 cây xoan nhỏ trồng từ
năm 2022) và 02 cây chè của nguyên đơn trồng. Do đó chấp nhận yêu cầu của
bị đơn.
Xét toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy
không có căn cứ. Không chấp nhận.
Xét toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ,
đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[3] Về án phí và các chi phí tố tụng:
[3.1] Về án phí:
Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận và
toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận nên theo quy định tại Điều
147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu
toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào
tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng),
nguyên đơn còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Bị đơn không phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm.
[3.2] Về chi phí tố tụng: Căn cứ điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên
đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền là 5.400.000
đ
( Năm
triệu bốn trăm nghìn đồng). Xác nhận nguyên đơn đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Luật Đất đai 2013; Điều 101, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai
2013.
Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều
158, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân
sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều
13
26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê
Văn H:
- Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Lê Thái P trả lại diện tích đất tranh
chấp là 253,9m
2
nằm trong thửa số 51, tờ bản đồ số 35, đã cấp giấy chứng nhận
GCNQSDĐ số CA 568900 ngày 29/12/2014 của UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn
cấp cho hộ ông Lê Thái P và bà Mã Thị V (Phần đất tranh chấp được giới hạn
bởi các mốc 3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-3, có bản trích đo địa chính kèm
theo).
- Không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CA 568900 ngày
29/12/2014 của UBND huyện N đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 35, diện
tích 325,8m
2
, địa chỉ thửa đất: Đ, thôn G, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp cho
hộ ông Lê Thái P và bà Mã Thị V.
- Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Lê Thái P tháo dỡ hàng rào lưới sắt;
cắt chặt, nhổ bỏ, di dời 19 cây keo và 04 cây chuối.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Buộc ông Lê Văn H và bà
Trương Thị N nhổ bỏ, cắt chặt, di dời 15 cây nhãn trồng năm 2022 và 01 cây
xoài trồng năm 2020.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Căn cứ khoản 1 Điều
157/BLTTDS. Ông Lê Văn H phải chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ là 5.400.000
đ
(Năm triệu bốn trăm nghìn đồng). Xác nhận ông H đã
nộp đủ.
4. Về án phí:
Ông Lê Văn H phải chịu 600.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân
sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000006 ngày 01 tháng 12 năm 2023 tại Cục
Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn. Ông Lê Văn H còn phải nộp 300.000
đ
(Ba
trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lê Thái P được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000
đ
(Ba trăm
nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000044 ngày 23/7/2024 của Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Bắc Kạn.
"Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự."
14
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản
án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Kạn (02);
- Cục THADS tỉnh Bắc Kạn
(Khi có hiệu lực);
- TAND cấp cao tại Hà Nội
- Các đương sự;
- Lưu HCTP (03)
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lý Thị Thúy
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Bản án số 152/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 09/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm