Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 08/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 07/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 08/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn |
| Số hiệu: | 07/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/08/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | 1. Về quan hệ hôn nhân |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - LẠNG SƠN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08-8-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Giáp Thanh Long;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Thắng;
Ông Hoàng Văn Trạch.
-Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Sinh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng
Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn tham gia
phiên toà: Bà Phương Thị Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Lạng
Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:
68/2025/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
02/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên
tòa số: 04/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 01 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lầu Thị P, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh
Lạng Sơn; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh
Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 15/6/2025, các lời khai sau đó và trong
quá trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn chị Lầu Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn T được tự do tìm hiểu, tự
nguyện kết hôn, được hai gia đình tổ chức cưới cho theo phong tục địa phương
và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L (nay là xã N),
tỉnh Lạng Sơn vào ngày 03/3/2014. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình
thường, tuy nhiên do anh Hoàng Văn T dính tệ nạn ma túy nên được khoảng 01
năm thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh Hoàng Văn T thường
xuyên đánh đập, chửi bới chị. Năm 2015 cả gia đình đã đưa anh Hoàng Văn T đi
cai nghiện ma túy được khoảng 06 tháng nhưng không thành. Anh Hoàng Văn T
2
về vẫn tái nghiện, bán hết đồ đạc tài sản của chị đi để mua ma túy về sử dụng.
Đến năm 2016 anh Hoàng Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành
án xong thì năm 2018 anh Hoàng Văn T được ra tù. Sau khi ra tù thì anh Hoàng
Văn T tiếp tục sử dụng ma túy, không chịu làm ăn. Năm 2020 anh Hoàng Văn T
bị xử phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và chấp hành án xong vào năm
2021. Năm 2022 anh Hoàng Văn T bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian chấp hành là 22 (hai mươi hai) tháng
và đã chấp hành xong năm 2024.
Từ khi kết hôn, chung sống vợ chồng anh Hoàng Văn T không chăm lo
cho gia đình, nghiện ma túy, đi chấp hành án, đi cai nghiện tự nguyện và bắt
buộc, khi về nhà thì lại chửi bới xúc phạm danh dự chị, một mình chị phải nuôi
dưỡng, chăm lo tiền ăn tiền học cho cả 02 con.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Hoàng Văn T không còn nữa
nên yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Văn T.
Về con chung: Có 02 con chung là Hoàng Minh N, sinh ngày 15/01/2013
và Hoàng Minh K, sinh ngày 02/9/2014. Các cháu hoàn toàn là do chị chăm sóc,
nuôi dưỡng, đóng tiền học từ khi sinh đến nay, anh Hoàng Văn T không chịu
làm ăn, nghiện ma túy không hỗ trợ gì, anh Hoàng Văn T đi vắng cả ngày, tối
mới về nhà, đi đâu làm gì chị cũng không biết. Khi ly hôn chị Lầu Thị P yêu cầu
được trực tiếp nuôi cả 02 con cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Hoàng
Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Bản thân chị Lầu Thị P hiện nay làm công việc tự do có thu nhập khoảng
15.000.000 đồng/tháng nhưng không có giấy tờ chứng minh. Thu nhập của chị
đảm bảo nuôi con và có bố mẹ đẻ là Lầu Văn H, Đàm Thị H1 hỗ trợ chỗ ở cho
03 mẹ con cũng như giúp chị chăm sóc các con khi chị bận công việc. Nhà bố
mẹ đẻ tại thôn N, xã L cách nơi ở hiện tại khoảng 02 km, cách trường cấp 1,2 xã
L khoảng 01 km. Trường hợp các con chị vẫn học tại xã N chị cũng vẫn đảm
bảo cuộc sống, cam kết đưa đón, chăm sóc cho các con chị được đi học đầy đủ.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Chị Lầu Thị P đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.
Tòa án nhân dân khu vực 5- Lạng Sơn đã tiến hành tống đạthợp lệ Thông
báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm traviệc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án raxét xử và
Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn anh Hoàng Văn T khôngtham gia tố
tụng.
Tại biên bản xác minh ngày 02/7/2025, bà Đỗ Thị Q – mẹ đẻ của anh
Hoàng Văn T cung cấp thông tin: Chị Lầu Thị P và anh Hoàng Văn T kết hôn
năm 2014. Từ khi kết hôn vợ chồng anh Hoàng Văn T và chị Lầu Thị P chung
sống cùng với bà. Đến năm 2016 anh Hoàng Văn T nghiện ma túy, không tu chí
làm ăn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi, chửi nhau, đánh nhau. Anh Hoàng
Văn T nhiều lần đi chấp hành án và cai nghiện ma túy, không ở nhà giúp đỡ chị
Lầu Thị P chăm lo gia đình và chăm sóc con cái. Do vậy, chị Lầu Thị P yêu cầu
3
ly hôn, anh Hoàng Văn T có ý kiến lại với bà là đồng ý ly hôn với chị Lầu Thị P.
Về con chung: Chị Lầu Thị P và anh Hoàng Văn T có 02 con chung là cháu
Hoàng Minh N và Hoàng Minh K, hiện nay đang sống cùng với bà và chị Lầu
Thị P. Từ trước đến nay các cháu vẫn được chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ, anh
Hoàng Văn T đi làm không thấy gửi tiền về phụ giúp bà và chị Lầu Thị P chăm
sóc con cái. Chị Lầu Thị P yêu cầu nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu anh
Hoàng Văn T cấp dưỡng nuôi con, anh Hoàng Văn T cũng thông tin lại với bà là
đồng ý với yêu cầu của chị Lầu Thị P. Bản thân bà Đỗ Thị Q thấy chị Lầu Thị P
nuôi con sẽ tốt hơn, anh Hoàng Văn T nghiện ma túy nếu nuôi các cháu sẽ
không đảm bảo cho các cháu phát triển đầy đủ. Anh Hoàng Văn T không có ý
kiến gì về tài sản chung, nợ chung.
Toà án tiến hành lấy lời khai các cháu Hoàng Minh N, sinh ngày
15/01/2013 và Hoàng Minh K, sinh ngày 02/9/2014: Bản thân 02 cháu đều
mong muốn được tiếp tục sống cùng với mẹ là chị Lầu Thị P nếu bố mẹ ly hôn.
Hàng ngày mẹ là người chăm sóc, nuôi dưỡng, đưa đón các cháu đi học, bố
thường xuyên vắng nhà, đi đâu làm gì các cháu không biết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, tại
phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng
các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành, thực hiện
đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị
đơnkhông thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân
sự.Bị đơn anh Hoàng Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần
thứ hai nhưng vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là
đúng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu ly hôn: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
thấy: Chị Lầu Thị P kết hôn với anh Hoàng Văn T trên cơ sở tự nguyện và đăng
ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L (nay là xã N), tỉnh Lạng Sơn
vào ngày 03/3/2014 đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thì tình cảm vợ
chồng bình thường, được khoảng 01 năm thì nảy sinh mâu thuẫn do anh Hoàng
Văn T không chịu làm ăn, thường xuyên chơi bời, dính vào tệ nạn xã hội, nhiều
lần phải đi chấp hành án và cai nghiện, không ở nhà, không cùng chị Lầu Thị P
chăm sóc gia đình và chăm lo con cái nên vợ chồng xảy ra nhiều bất đồng, cãi
chửi nhau thường xuyên, thỉnh thoảng xảy ra xô xát. Anh Hoàng Văn T đã nhận
được thông tin yêu cầu ly hôn chị Lầu Thị P, đã có ý kiến thông qua bà Đỗ Thị
Q là mẹ đẻ về việc anh đồng ý ly hôn nhưng không tham gia giải quyết tại Tòa
án. Xét thấy tình trạng hôn nhân của giữa chị Lầu Thị P và anh Hoàng Văn T có
nhiều mâu thuẫn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn
nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Lầu Thị P được
ly hôn với anh Hoàng Văn T.
4
Về nuôi con chung: Chị Lầu Thị P và anh Hoàng Văn T có 02 (hai) con
chung là Hoàng Minh N, sinh ngày 15/01/2013 và Hoàng Minh K, sinh ngày
02/9/2014. Khi ly hôn chị Lầu Thị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con chung đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Hoàng
Văn T phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy chị Lầu Thị P làm công việc tự do, có
thu nhập, có chỗ ở ổn định tại nhà bố mẹ đẻ và trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu
Hoàng Minh N và Hoàng Minh K từ trước đến nay nên chị Lầu Thị P đủ điều
kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung. Bản thân các cháu
Hoàng Minh N, Hoàng Minh K có nguyện vọng được sống cùng chị Lầu Thị P.
Anh Hoàng Văn T qua xác minh từ năm 2016 đã lệ thuộc vào ma túy, đã điều trị
tự nguyện, điều trị bắt buộc và cũng nhiều lần bị xử lý trách nhiệm hình sự, các
cháu vẫn được chị Lầu Thị P chăm sóc đảm bảo. Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83
Luật hôn nhân và gia đình đề nghị giao cháu Hoàng Minh N, sinh ngày
15/01/2013 và Hoàng Minh K, sinh ngày 02/09/2014 cho chị Lầu Thị P tiếp tục
nuôi dưỡng và chăm sóc đến khi cháu 18 tuổi. Anh Hoàng Văn T chưa phải cấp
dưỡng nuôi con chung do chị Lầu Thị P không có yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung không có, do vậy không đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét giải quyết. Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã được Toà án nhân dân
khu vực 5 - Lạng Sơn triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng không có mặt.
Nguyên đơn đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa
lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và
khoản 3 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu ly hôn, giải quyết tranh chấp nuôi con khi ly hôn vì vậy quan hệ pháp
luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Hoàng Văn T, đăng ký thường trú và chỗ ở
tại thôn N, xã N, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc
Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lầu Thị P và anh Hoàng Văn T tự nguyện
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L (nay là xã N), tỉnh
Lạng Sơn vào ngày 03/3/2014, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công
nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, chị Lầu Thị P và anh Hoàng Văn T phát
sinh mâu thuẫn do anh Hoàng Văn T không chịu tu chí làm ăn, dính vào tệ nạn
xã hội, nhiều lần phải đi chấp hành án và cai nghiện bắt buộc, không cùng chị
Lầu Thị P chăm sóc gia đình và chăm lo con cái. Anh Hoàng Văn T đã nhận
được thông tin yêu cầu ly hôn chị Lầu Thị P, đã có ý kiến thông qua bà Đỗ Thị
Q là mẹ đẻ về việc anh đồng ý ly hôn nhưng không tham gia giải quyết tại Tòa
án. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Lầu Thị P và anh
5
Hoàng Văn T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ
chồng không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó
yêu cầu ly hôn của chị Lầu Thị P là có căn cứ nên được chấp nhận theo quy định
tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Chị Lầu Thị P và anh Hoàng Văn T có 02 (hai) con
chung là Hoàng Minh N, sinh ngày 15/01/2013 và Hoàng Minh K, sinh ngày
02/09/2014. Khi ly hôn chị Lầu Thị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con chung đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Hoàng
Văn T phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy chị Lầu Thị P làm công việc tự do, có
thu nhập, có chỗ ở ổn định tại nhà bố mẹ đẻ và trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu
Hoàng Minh N và Hoàng Minh K từ trước đến nay nên chị Lầu Thị P đủ điều
kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung. Bản thân các cháu
Hoàng Minh N, Hoàng Minh K có nguyện vọng được sống cùng chị Lầu Thị P,
anh Hoàng Văn T qua xác minh từ năm 2016 đã lệ thuộc vào ma túy, đã điều trị
tự nguyện, điều trị bắt buộc và cũng nhiều lần bị xử lý trách nhiệm hình sự, các
cháu vẫn được chị Lầu Thị P chăm sóc, duôi dưỡng đảm bảo. Do vậy, để bảo
đảm sự phát triển toàn diện cho trẻ em, Hội đồng xét xử giao 02 con chung là
cháu Hoàng Minh N và Hoàng Minh K cho chị Lầu Thị P trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi; anh Hoàng Văn T chưa phải cấp
dưỡng nuôi con do chị Lầu Thị P không yêu cầu. Anh Hoàng Văn T có quyền,
nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Do vậy Hội đồng xét xử
không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn được miễn án phí ly hôn sơ thẩm do là người
dân tộc thiểu số (dân tộc Tày), sống tại thôn N, xã N, tỉnh Lạng Sơn là vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn xin miễn tạm ứng án phí,
miễn án phí. Hoàn trả cho nguyên đơn 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002797 ngày 18/6/2025 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (nay là Phòng thi hành án
dân sự khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn).
[7] Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ
nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều
83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 227;
khoản 1 và khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân
sự;
6
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lầu Thị P được ly hôn với anh
Hoàng Văn T. (Đăng ký kết hôn số 12/2014, đăng ký ngày 03/3/2014 tại Ủy ban
nhân dân thị trấn N, huyện L (nay là xã N), tỉnh Lạng Sơn)
2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung là cháu Hoàng Minh N, sinh
ngày 15/01/2013 và Hoàng Minh K, sinh ngày 02/09/2014 cho chị Lầu Thị P
trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn
T chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị Lầu Thị P không yêu cầu. Anh Hoàng
Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh
Hoàng Văn T thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Lầu Thị P được miễn án phí ly hôn sơ thẩm. Hoàn trả
cho nguyên đơn chị Lầu Thị P 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002797 ngày 18/6/2025 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (nay là Phòng thi hành án dân sự
khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án
hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn;
-Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn;
- Ủy ban nhân dân xã Na Dương, tỉnh Lạng
Sơn;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Giáp Thanh Long
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm