Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT ngày 18/02/2025 của TAND tỉnh Hải Dương về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 07/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT ngày 18/02/2025 của TAND tỉnh Hải Dương về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hải Dương
Số hiệu: 07/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/02/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị N xin ly hôn anh B và chia tài sản khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-PT
Ngày 18/02/2025
"V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản
khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hương Nhu.
Các thẩm phán: Ông Bùi Thế Hưng và ông Nguyễn Văn Cường.
- Thư phiên tòa: Bích Thủy - Thư Toà án nhân dân tỉnh Hải
Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:
Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 35/2024/TLPT-HNGĐ ngày 01
tháng 11 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly
hôn”;
Do bản án dân sự thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 21/9/2024 của Tòa
án nhân dân thị xã Kinh Môn bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 03/2025/QĐ - PT ngày
21/01/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn T, Q,
thị xã K, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Bùi Văn N, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã K,
tỉnh Hải Dương (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Văn V, sinh năm 1954 Trần Thị N1; cùng địa chỉ: Thôn T,
xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương (ông V có mặt, bà N1 vắng mặt).
- Ông Bùi Văn B1, sinh năm 1941 Nguyễn Thị N2, sinh năm 1946;
cùng địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương (đều vắng mặt).
- Ông Ngô Văn Ủ, sinh năm 1962 Đặng Thị T, sinh năm 1966; cùng
địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương (đều vắng mặt).
2
- Anh Văn K, sinh năm 1976 chị Bùi Thị T1, sinh năm 1980; cùng
địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương (đều vắng mặt).
- Ông Đặng Văn H, sinh năm 1956 Bùi Thị T2, sinh năm 1960; cùng
địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương (đều vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1954 Ngô Thị H1, sinh năm 1954;
cùng địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương (đều vắng mặt).
+ Anh Ngô Văn C chị Bùi Thị T3, địa chỉ: Thôn T, Q, thị K, Hải
Dương (đều vắng mặt).
+ Ông Bùi Văn V2, địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã K, Hải Dương (vắng mặt).
+ Bà Bùi Thị T4, địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã K, Hải Dương (vắng mặt).
+ UBND xã Q, thị xã K. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Hữu N3 -
Chủ tịch UBND xã; người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn C1 - Công chức
địa chính xã (vắng mặt).
4. Người kháng cáo: B đơn anh Bùi Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/11/2023, các tài liệu trong hồ sơ, ý kiến
trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị anh Bùi Văn N tự nguyện kết hôn, được
UBND Q cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 01/9/1999. Vợ chồng
chung sống đến năm 2008 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân chính dẫn đến
mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, không n trọng nhau, anh N thường
xuyên uống rượu say, hoặc mượn rượu chửi đánh vợ con, ngoài ra anh N chơi bời
cờ bạc lô đề, nợ nần. Năm 2008, anh N đánh chị vỡ đầu phải đi viện khâu hơn 10
mũi. Chị đã nhiều năm chịu nhẫn nhịn để nuôi con. Do nhiều mâu thuẫn, kinh
tế gia đình khó khăn nên năm 2017, chị đi lao động Đài Loan, tháng 11/2021
hết hợp đồng chị về nước. Tháng 12/2021, anh N cầm dao đuổi đánh nhưng chị và
con chạy được. Khoảng tháng 5/2022, vào lúc 11 giờ đêm, anh N đánh, đạp chị
trong nhà tắm, con lao vào can giữ anh N, chị chạy được. Từ đó, chị về nhà bố mẹ
đẻ chị cùng thôn sinh sống, ly thân với anh N cho đến nay. Khi vợ chồng mâu
thuẫn thì người thân, gia đình, bạn bè cũng khuyên giải nhưng chị xác định không
thể chịu đựng được, các con chị cũng đã lớn, tình cảm vợ chồng không còn nên
chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh N.
Về con chung: Anh chị 03 con chung là cháu Bùi Thùy L, sinh năm
2000, cháu Bùi Thanh B2, sinh năm 2004, đều đã trưởng thành không yêu cầu
giải quyết. Cháu Bùi Minh Đ, sinh ngày 13/12/2008 hiện đang cùng anh N.
Quan điểm của chị, sau khi vợ chồng ly hôn, cháu Đ nguyện vọng với ai thì
tùy cháu, nếu với chị, chị cũng nhất trí nuôi cháu đến khi trưởng thành chị
yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng.
3
Về tài sản chung của vợ chồng: Anh chị diện tích đất hiện đã chuyển
đổi khoảng 2.500 m2. Trên diện tích đất này nhà 1 tầng mái bằng khoảng
60m2, công trình phmái bằng khoảng 40m2, cây ăn quả, nhà chăn nuôi, ao thả
cá. Đã xin chuyển đổi đất nông nghiệp làm kinh tế VAC. Trước khi lấy chồng, chị
đội A, thôn T, Q (nay là Đ, thôn T), xã Q, thị xã K. Chị được Nhà nước giao
đất nông nghiệp 1 sào 6 thước (1 sào đồng, 6 thước bãi (bãi Ngà) = 504m2. Sau
khi lấy chồng (anh Bùi Văn N, xóm I, thôn T, Q), khoảng năm 2003, vợ
chồng chị chuyển đổi làm vườn ao chuồng. Lúc đó, chị đổi 1 o đồng cho bố đẻ
chị là ông Nguyễn Văn V1 lấy 2 sào bãi gồm: 1 sào 3 thước bãi Ngọn Đầm 12
thước ở bãi Bè S. Chị dùng 1 sào 3 thước bãi Ngọn Đầm đổi cho nhà anh Văn
K, vợ là chị Bùi Thị T1 lấy 10 thước đồng của anh K, chị T1 khu R; 12 thước
bãi S chị đổi cho anh Ngô Văn C, vợ Bùi Thị T3 lấy 10 thước đồng Rộc
của chị T3, anh C. Khoảng năm 2002, bố chồng chị ông Bùi Văn V cho anh
chị diện tích đất bãi (chị không biết bao nhiêu), trong diện tích đất cho, ông V
đổi cho những ai chị không nắm được nhưng diện tích của Đặng Thị T nên
chị phải dùng 6 thước đất bãi N4 để trả T. Khoảng năm 2004, vchồng chị và
ông Đặng n H đào chung ao i Rộc R, nhà chị 1 nửa, nhà ông H 1 nửa,
chung được 1 vài năm thì ông H bán cả cho vợ chồng chị sử dụng, anh chị phải
trả 10 thước đồng R và trả thêm 10.000.000 đồng cho ông H để lấy ao bờ ao
bãi R (đổi chác mua bán không giấy tvợ ông H cô ruột chồng chị). Còn
khoảng 10 thước R, bố chồng chị đổi cho ai chị không biết nhưng sau khi đổi
gộp cả đất vào i Rộc nhà chị để làm vườn ao chuồng. Trong 2.500 m2 này
gồm 996m2 do vợ chồng chị đổi đất dồn về b chồng cho đất, còn
khoảng hơn 1.000m2 đất là mua đổi của ông H, còn lại là do vợ chồng chị lấn
ra sông đào.
Trên diện tích đất chuyển đổi có cây ăn quả, nhà chăn nuôi, ao thả cá, nhà ở
cả công trình phụ khép kín. Các con anh chị sinh từ năm 2000, do đó không được
nhà nước giao đất. Quan điểm của chị đất chuyển đổi chia đôi, ao chia đôi,
công trình chia đôi theo gọn công trình trên phần đất được chia; đất nông nghiệp
chia đôi. Cây cối trên phần đất của ai người đó hưởng, cá anh N nuôi thì để anh N
hưởng.
Đất nông nghiệp sử dụng để cấy lúa: Anh N được nhà nước giao 1 sào 6
thước đồng Rộc Rà, sau đó anh N đổi cho ông Bùi Văn B1 bằng diện tích, để
lấy về gần nhà cùng đồng Rộc R. Trong diện tích đất này đã dành khoảng 144m2
làm đường ngõ đi vào nhà chị nên diện tích còn khoảng 360m2. Mảnh thứ 2 là vợ
chồng mua của ông Bùi Văn B1, diện tích 12 thước đồng R, đã dành 1 phần để
làm đường đi vào nhà, còn lại đcấy khoảng 276m2. Mảnh th3 là vợ chồng
mua của bà Đặng Thị T mua của ông Bùi n V2, diện tích bao nhiêu chị
4
không nhớ, sau đó chị đổi cho Bùi Thị T4, vợ chồng chị đang sử dụng để cấy,
diện tích khoảng 387m2.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh N đến Tòa án, đến gặp trực tiếp anh N để
yêu cầu anh trình bày quan điểm giải quyết vụ án nhưng anh N từ chối. Do đó,
Tòa án phải sao biên bản lấy lời khai trong vụ án đã đình chỉ (năm 2023). Theo
đó, anh Bùi Văn N trình bày: Về điều kiện và hoàn cảnh kết hôn như chị B trình
bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 chị B đi lao
động ở Đài Loan, năm 2021 chị B hết hợp đồng lao động về nước. Từ khi về nước
chị B độc đoán, chị B sống theo cách riêng của mình dẫn đến đôi lúc vợ chồng
không nói chuyện với nhau. Quá trình chị B đi lao động Đài Loan không gửi về
cho anh đồng nào để chi phí sinh hoạt, nuôi con. Cách đây khoảng 1 năm chị B về
nhà bố mđẻ cùng thôn sinh sống, không sống cùng bố con anh từ đó đến nay.
Nay chB xin ly hôn thì anh mong muốn chị B về đoàn tụ con i. Còn chị B
cương quyết xin ly hôn thì anh cũng phải chấp nhận ly hôn với chị B. Quá trình
chung sống, chị B đã từng về ngoại 3-4 lần, anh đến nói chuyện đón chị B
về, tuy nhiên lần này chị B không về đoàn tụ. Anh chị có 03 con chung như chị B
trình bày. Cháu Đ hiện đang cùng anh. Quan điểm của anh cháu Đ với anh
hay với chị B, anh đều nhất trí. Nếu với anh, anh sẽ suy nghĩ về việc cấp dưỡng
nuôi con sau. Về tài sản vợ chồng anh chỉ đất chuyển đổi, diện tích gần
2000m2 (gần 6 sào B). Trên đất nhà 1 tầng, gác xép, công trình phụ, nhà
chăn nuôi, ao cá, cây cối. Sau khi chuyển đổi, nay anh chị còn hơn sào ruộng để
cấy. Nguồn gốc đất chuyển đổi do mua, đổi ruộng, bố mẹ đẻ anh cho để dồn
vào chung một mảnh như hiện nay. Anh cũng không biết diện tích bố mẹ anh cho
cụ thể bao nhiêu. Quan điểm của anh chị B khoảng hơn 1 sào đất được
nhà nước giao thì chị B lấy để sử dụng, còn lại là anh và con anh sử dụng.
Quan điểm của cháu Bùi Minh Đ (con của chị B, anh N): Trường hợp bố
mẹ ly hôn, cháu tự nguyện ở với bố là Bùi Văn N.
Biên bản xác minh tại thôn T, ông trưởng thôn cung cấp: Chị B anh N
kết hôn sinh sống tại thôn T. Quá trình chung sống, ông nghe chị B trình
bày việc vợ chồng trục trặc, chung sống không hạnh phúc, chị B cho biết
nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh N chơi bời cờ bạc lô đề dẫn đến nợ nần nên
vợ chồng hay xảy ra cãi vã, xát có lần phải nhập viện. Tuy vậy, vợ chồng anh
chị cũng không đề nghị thôn hoà giải. Chị B đã vnhà bố mẹ đẻ cùng thôn
khoảng 01 năm nay, không chung sống cùng anh N. Anh chị 3 con, 2 con đã
trưởng thành, còn cháu út Bùi Minh Đ đang cùng anh N. Nay chB xin ly
hôn anh N thì đề nghị Toà án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, bà Đặng Thị T ông Ngô Văn trình bày: Ông
vợ chồng, năm 1993, ông được giao diện tích đất nông nghiệp, mỗi suất
5
được giao 1 sào 6 thước, vợ chồng ông khoảng 400m2 xứ đồng C - Đ, gần
nhà anh N, chị B. Do ông xóm A cách xa không tiện canh tác, chị B, anh N
hỏi mua nên vợ chồng ông đã bán 400m2 đất nông nghiệp này cho anh N, ch
B, đã nhận đủ tiền. Việc mua bán này diễn ra khoảng hơn 10 năm nay, ông
không nhớ cụ thể năm nào. Nay ông bà không có tranh chấp gì với anh N, chị B.
Tại biên bản lấy lời khai, chị Bùi Thị T1 anh Văn K trình bày: Vợ
chồng anh chị được nhà nước giao đất nông nghiệp mỗi suất 1 sào 6 thước, trong
đó 10 thước đất đồng R, anh chị anh N, chị B thống nhất đổi đất nông
nghiệp cho nhau. Chị B, anh N lấy 10 thước đất đồng Rộc của vợ chồng anh
chị, vợ chồng chị lấy 1 sào 3 thước đất bãi Ngọn Đầm của anh N, chB. Việc đổi
chác đã xong, hai bên sử dụng đất ổn định không tranh chấp gì, của ai thì
người ấy tiếp tục sử dụng.
Tại biên bản lấy lời khai, ông Đặng Văn H và bà Bùi Thị T2 trình bày: Ông
vợ chồng, ruột anh N. Năm 2004 vợ chồng ông đất bãi Sông
Đào được UBND cho chuyển đổi đào ao, nông khoảng hơn 450m2.
Vợ chồng ông gộp vào đào chung ao với nhà anh N, chị B. Khoảng năm 2009
thì vchồng ông bà bán cả phần diện tích ao cho vợ chồng anh N, chị B sử dụng,
nuôi cá. V chồng anh N đã trả 10 triệu đồng trả thêm 10 thước đất nông
nghiệp đồng Rộc Rà. Việc mua bán đổi chác không giấy tờ gì, các bên sử
dụng ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp. Nay ông bà cũng không có tranh
chấp gì.
Tại biên bản lấy lời khai, Nguyễn ThN2 ông Bùi Văn B1 trình bày:
Vợ chồng ông bà được nhà nước giao đất nông nghiệp trong đó có 1 sào 6 thước ở
đồng Rộc gần nhà anh N, chị B. Ông không nhớ năm nào, ông và vợ
chồng anh N, chị B đổi ruộng cho nhau. Mục đích đổi là để anh N chị B lấy ruộng
gần nhà để canh tác. Nay ông không tranh chấp gì, của ai thì cứ tiếp tục sử
dụng.
Tại biên bản lấy lời khai, ông Nguyễn Văn V1 bà Ngô Thị H1 trình bày:
Ông bà là bố mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị B. Sau khi chị B kết hôn với anh N, chị B
đổi cho vợ chồng ông 01 sào đất nông nghiệp, ông bà trả chị B anh N 2 sào
bãi gồm 1 sào 3 bãi Ngọn Đầm 12 thước bãi S. Quan điểm của ông bà,
đất đã đổi thì cứ giữ nguyên người trực tiếp quản lý sử dụng và thực hiện nghĩa vụ
với nhà nước theo diện tích thực tế. Ông bà không có tranh chấp gì.
Tại biên bản lấy lời khai, ông Bùi Văn V Trần Thị N1 trình bày: Ông
bmẹ đẻ của anh Bùi Văn N. Anh N chị B kết hôn năm 1999. Quá trình
chung sống anh N chị B xung đột, mâu thuẫn. Nay chị B xin ly hôn anh N thì
đó việc của chị B, là bố mẹ ông mong muốn con mình được hạnh phúc. Đối
với việc phân chia tài sản của vợ chồng chị B anh N, ông quan điểm như
6
sau: Sau khi chị B anh N kết hôn ông bà đã cho anh chị cơ nghiệp, sau đó anh chị
bán cho người khác. Lúc đó ông đang diện tích đất chuyển đổi (chưa đào
ao), chăn nuôi trồng trọt gì, khi đó vào khoảng năm 2007. Anh N, chị B không có
việc làm nên ông cho anh N chị B mượn đất để làm. Diện tích chuyển đổi của
ông lúc đó gồm đất của ông bà, đất của ông H đất của vợ chồng chị B, anh
N. Sau đó ông H bán lại phần chuyển đổi cho chị B anh N. Đất chuyển đổi không
phải đóng thuế cho nhà nước. Khi làm thủ tục chuyển đổi thì ông là người đứng ra
làm thủ tục. Phần đất nông nghiệp của ông trong diện tích chuyển đổi chị
B, anh N đang sử dụng, đất ông H và đất của chị B, anh N đều là đất 03 (đất nông
nghiệp), không phần nào đất đấu thầu của xã. Còn diện tích đo thực tế
thừa ra là do khi chuyển đổi xong đi vào sử dụng anh chị đã lấn thêm ra sông đào.
Diện tích lấn đó khi nào nhà nước lấy thì phải trả. Diện tích đất ng nghiệp của
ông bà trong tổng số diện tích chuyển đổi cụ thể bao nhiêu ông bà chưa tính được
cụ thể, đề nghị toà án tính giúp sau khi đã trừ các diện tích liên quan. Quan điểm
của ông diện tích đất ng nghiệp của ông trong tổng diện tích chuyển đổi
thì ông chỉ cho anh N, chị B mượn sử dụng, nay vợ chồng ly hôn thì phải trả
ông bà phần diện tích đất này và giao cho anh N quản lý sử dụng để canh tác nuôi
con.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Diện tích đất chuyển
đổi 3321,6m2 (thửa 82), trong đó diện tích ao 2076,5m2, còn lại 492,5 m2
đất trên nở, nhà chăn nuôi, công trình phụ, cây cối, sân. Ngoài ra còn
752,6m2 diện tích đất anh N, chị B lấn Sông đào, địa chỉ thửa đất: Khu R,
T, Q, K, Hải Dương. Trên đất có:
A. Nhà cửa, vật kiến trúc: Nhà 1 tầng +1 tum (xây năm 2007), giá trị còn
lại: 78.265.000 đồng; nhà phụ mái bằng 1 tầng (xây m 2012), giá trị còn lại
49.954.000 đồng; mái lợp Fibroximăng (xây năm 2012), giá trị còn lại: 730.000
đồng; nhà tắm, mái bằng 1 tầng (xây năm 2007), giá trị còn lại 4.578.000 đồng;
nhà kho xây gạch chỉ 110 xây năm 2004, giá trị còn lại 26.062.000 đồng; bể nước
(xây năm 2007), giá trị còn lại 2.293.000 đồng; chuồng trại (xây m 2007), giá
trị còn lại 40.908.000 đồng; sân tông (xây năm 2007), giá trị còn lại 3.922.000
đồng; 02 bể Piogas (xây năm 2007), giá trị còn lại 7.083.000 đồng; cánh cổng sắt
(làm năm 2007), giá trị còn lại 712.000 đồng; tường kè ao (xây năm 2007), giá trị
còn lại 9.399.000 đồng; tường bao (xây năm 2007), giá trị còn lại 935.000 đồng;
lán Fibroximang liền nhà phụ
(xây năm 2012), giá trị sử dụng còn lại: 216.000 đồng;
lán Fibroximang trên ao
(xây năm 2007), giá trị sử dụng còn lại: 192.000 đồng; sân
tông cuối dãy chăn nuôi (xây năm 2012), giá trị sử dụng còn lại: 643.000 đồng;
lán Fibroximang trước nhà kho, nhà chăn nuôi
(xây năm 2007), giá trị sử dụng còn
lại: 512.000 đồng.
7
B. Cây cối, hoa màu: 01 cây nhãn, đường kính tán 10m3.500.000 đồng;
Cây nhãn, đường kính tán 05m: 02 cây x 1.500.000 đồng/cây = 3.000.000 đồng;
Cây nhãn, đường kính tán 7m: 01 cây x 2.400.000 đồng/cây = 2.400.000 đồng;
Hồng xiêm giống: 15 cây x 5000 đồng/cây = 75.000 đồng; Cây mít, đường kính
gốc 15cm: 17 cây x 380.000 đồng/cây = 6.460.000 đồng; Cây mít, đường kính
gốc 30cm: 1 cây x 550.000 đồng/cây = 550.000 đồng; Cây vải, đường kính tán
7m: 01 cây x 1.450.000 đồng/ cây = 1.450.000 đồng; Cây dừa đường kính gốc
35cm: 01 cây x 500.000 đồng/cây = 500.000 đồng; Cây xoài, đường kính gốc
30cm: 01 cây x 550.000 đồng/cây = 550.000 đồng; Cây khế, đường kính tán 7m:
01 cây x 500.000 đồng = 500.000 đồng;
* Giá trị đất trồng cây hàng năm để trồng lúa, vị trí 1, xã Đ tại Q, thị
K, tỉnh Hải Dương có giá trị 75.000 đồng/m2.
* Giá trị đất tại thửa đất số 82, tờ bản đồ số 39 thuộc bộ bản đồ địa chính
Q (đất nông nghiệp chuyển đổi: đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thuỷ sản),
đất nuôi trồng thuỷ sản vị trí 1, đồng bằng giá 75.000 đồng/m2, đất trồng
cây lâu năm vị trí 1, xã đồng bằng: 80.000 đồng/m2.
Tại Đơn đ nghị về việc giải quyết vắng mặt, ông Trần Văn C1 - Công
chức địa chính Q trình bày: Thửa đất số 82 (diện tích 2.569m2) đất TSN,
kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo hiện trạng diện tích 3.321,6m2. Diện
tích chênh lệch 3.321,6m2- 2.569m2= 752,6m2 diện tích đất do chị B, anh N
lấn đất của UBND quản lý. Đối với diện tích đất lấn chiếm 752,6m2, tạm để
cho anh N chị B sử dụng, khi nào Nhà nước lấy lại thì anh N chị B phải trả lại
Nhà nước mà không được yêu cầu bồi thường. Diện tích đất lấn chiếm 752,6m2
này thuộc phía Đông Nam phía Tây Nam của thửa đất số 82 (phần giáp sông
đào). Đối với việc xây dựng nhà trông coi vi phạm theo quyết định 1654/QĐ-
UBND ngày 03/5/2007 của UBND tỉnh H về việc ban hành quy định vquản
xây dựng nhà trông coi trên đất chuyển đổi. Căn cứ theo tình hình thực trạng,
toà án có thể tạm giao cho họ sử dụng, khi nào nhà nước yêu cầu thì phải tháo dỡ,
khôi phục hiện trạng theo yêu cầu của nhà nước. Do công việc bận nên ông không
thể mặt tại toà án để tham gia các buổi làm việc cũng như tham gia phiên toà
được. Ông đề nghị toà án tiến hành giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt ông.
Tại Biên bản xác minh ngày 17/5/2024, ông Trần Văn C1- Công chức địa
chính xã Q cung cấp: Theo hồ sơ lưu trữ, thì nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của
anh N, chị B như sau:
Thực hiện việc dồn ô, đổi thửa, Tại Biên bản giao nhận diện tích đất ngày
20/4/2004 anh Bùi Văn N chị Nguyễn Thị B được nhận diện tích đất canh tác
như sau:
+ Diện tích 360m2, đất Loại 1, thửa số 11/9 tại xứ đồng Rộc Rà.
8
+ Diện tích 276m2, đất Loại 1, thửa số 9/10 tại xứ đồng Rộc Rà.
+ Diện tích 387m2, đất Loại 1, thửa số 4/137 tại xứ đồng Rộc Rà.
+ Diện tích 996m2, đất Loại 3, thửa số 1/121 tại xứ Sông đào
Tổng cộng chị B, anh N được giao 2019 m2 (đều thuộc tờ bản đồ số 4)
Đến năm 2007, anh N đơn đề nghị xét, phê duyệt phương án chuyển đổi
cơ cấu cây trồng - vật nuôi.
Tổng diện tích đất chuyển đổi là 3.483 m2, địa điểm: xứ đồng Trại ông T5,
thôn T
- Trong đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất ngày 26/12/2007, anh Bùi
Văn N và chị Nguyễn Thị B xin chuyển mục đích sử dụng tại thửa đất số 34 + 82,
tờ bản đồ số 39, địa chỉ tại Trại ông T5, T, Q, diện tích 3.483 m2. Mục đích sử
dụng đất xin được chuyển sang gồm: Đất trồng cây lâu năm 2.102m2 (trong đó có
đất làm nhà bảo vệ + Chăn nuôi 102m2), Đất nuôi trồng thủy sản 1.381m2.
UBND Q đã xác nhận: Nguồn gốc thời điểm sử dụng đất 03 sử dụng t
15/10/1993 sử dụng hợp pháp; tình trạng tranh chấp, khiếu nại về đất đai: Không
tranh chấp; Sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất: Phợp với quy hoạch; Đơn
đã được UBND xã xác nhận ngày 20/01/2008.
- Tờ khai đăng chuyển mục đích sử dụng đất ngày 26/12/2007: Anh N,
chị B xin chuyển thửa đất số 34 + 82, tbản đồ s39, địa chtại Trại ông T5, T,
Q, diện tích 3.483 m2. Mục đích sử dụng đất xin được chuyển sang gồm: Đất
trồng cây lâu năm = 2000m2; Đất làm nhà bảo vệ + Chăn nuôi 102m2, Đất
nuôi trồng thủy sản là 1.381m2.
- Bản phương án chuyển đổi cấu cây trồng của hộ gia đình ông Bùi Văn
N có nội dung cơ bản sau:
Đại diện hộ gia đình: Ông Bùi Văn N, hộ khẩu: Tống Thượng, Quang T6,
K, Hải Dương. Số khẩu trong gia đình được giao đất: 02 người. Tổng diện tích đất
được giao: 1008m2 (Năm 1993, mỗi suất được giao 1 sào 6 thước = 504m2).
Thửa đất xin chuyển đổi cấu cây trồng: Tổng diện ch 3.483m2, trong đó đất
giao 03 3.483m2, loại đất trồng cây hàng năm. Vị trí tại các thửa đất số 34 +
82, tờ bản đồ số 39, bản đồ địa chính Q. ranh giới: Phía Đông giáp sông
44m, giáp nghĩa địa 23m; Phía Tây giáp anh K1 71m, ông S 27,5m; Phía Nam
giáp sông 57,6m; phía Bắc giáp nghĩa địa 29,6m, anh T7 14,4m, đường thôn
24,5m. Mục đích sử dụng đất xin được chuyển đổi sang đất trồng cây lâu năm ghi
2.102m2 (trong diện tích để xây nhà bảo vệ nhà chăn nuôi 102m2); Đất
nuôi trồng thủy sản 1.381m2; Ngoài ra, trong Phương án còn mục Khái toán
vốn đầu tư, hiệu quả kinh tế..., đã được UBND Q xác nhận đề nghị UBND
huyện K xem xét, cho phép gia đình triển khai thực hiện.
9
- Tại Trích lục bản đồ địa chính khu đất chuyển đổi của hộ gia đình anh N,
chị B nội dung thể hiện: Thửa 34, ký hiệu LUC, diện tích 303m2; thửa 82, ký hiệu
TSN, diện tích 2.569m2. Thống diện tích đất: Đất giao 03: 2.569m2. Loại đất:
Đất trồng cây hàng năm.
- Tại tờ Quy hoạch mặt bằng khu đất chuyển đổi cấu cây trồng của hộ
gia đình anh N, chB, nội dung thể hiện: Đất trồng cây lâu năm 2.102m2; đất nuôi
trồng thủy sản 1.381m2; Nhà trông coi 30m2 chăn nuôi 72m2 (nằm trong
2.102m2). Tổng diện tích quy hoạch là 3.483m2.
Trên sở các tài liệu trên, thể xác định: Diện tích 3.483 m2 mà anh N,
chị B xin chuyển đổi, trong đó có 1.008m2 đất ng nghiệp được giao theo ngh
quyết 03 cho 2 suất cho anh N, chị B (mỗi suất 504m2); còn lại anh N chị B
nhận chuyển nhượng, đổi đất với người khác, không qua chính quyền. Đến năm
2004, tdiện tích của anh N, chị B tăng lên, tổng là 2.019m2. Anh N chị B xin
chuyển đổi năm 2007, đến 2008 được phê duyệt.
Năm 2005, UBND Q đo đạc lại diện tích đất nông nghiệp thực hiện
dồn điền đổi thửa theo số thửa số tờ bản đồ mới đã được chỉnh lý. Theo đó,
thửa số 1/121 diện tích 996m2 được chuyển thành thửa 82, tbản đồ số 39 Q.
Sau khi anh N, chị B nhận chuyển nhượng, đổi chác đất với các hộ dân khác
(không qua chính quyền địa phương), nên diện tích đất đề nghị được chuyển đổi
mới tăng lên thành 2.569m2 (trong đó 996m2 cũng do anh N, chị B tnhận
chuyển nhượng, đổi chác từ trước đất 03 nông nghiệp), cộng với diện tích
thửa đất số 13, tờ bản đồ 39 thửa đất s11/7, tbản đồ số 4 thì diện tích xin
chuyển đổi là 3.483m2.
Như vậy, diện tích đất chuyển đổi là 3.483m2, thuộc 3 thửa đất, gồm:
- Thửa đất số 13, tờ bản đồ 39, diện tích 516m2, nguồn gốc đổi chác,
chuyển nhượng với ông Bùi Văn B1, mã đất LUC (Theo bản đồ đo đạc hiện trạng
sử dụng đất nông nghiệp năm 2005)
- Thửa 11/7 (của ông Ngô Văn Ú), tờ bản đồ số 4, diện tích 350m2, loại 1,
đất LUC, xđồng khu Trại, ghi chú chuyển cho anh i Văn N xóm 9 sử
dụng” (Theo biên bản giao nhận diện tích đất năm 2004 cho ông Ngô Văn Ú)
- Thửa 82, tờ bản đồ số 39, diện tích 2.569m2, đất TSN - nuôi trồng
thủy sản (Theo bản đồ đo đạc hiện trang sử dụng đất nông nghiệp năm 2005)
Tổng cộng 3 thửa nêu trên = 3.435m2. So với hồ sơ chuyển đổi diện tích
3.483 m2, chênh giảm 48m2 là do sai số.
Hiện thửa đất số 13, tờ bản đồ 39, diện tích 516m2 (đo vẽ hiện trạng diện
tích 453,3m2 (do chị B anh N dùng một phần đất làm đường đi); Thửa đất số
11/7 (nhận chuyển nhượng từ ông Ngô Văn Ú), tờ bản đồ số 4, theo biên bản giao
nhận diện tích đất năm 2004 (nay thửa 78, tờ bản đồ 39), diện tích đo vẽ hiện
10
trạng 343,7m2, (diện tích giảm do anh N chị B dùng một phần đất làm đường
đi). 02 thửa đất này nằm trong diện tích chuyển đổi nhưng anh N chị B đang sử
dụng để cấy lúa, trồng mầu. Ngoài ra còn một thửa đất số 19, tờ bản đồ 39, theo
đo đạc hiện trạng là diện tích 371,2m2, anh N, chị B cũng đang sử dụng để cấy
lúa, trồng mầu (thửa đất số 19 này không nằm trong diện tích chuyển đổi).
Thửa đất số 82, đất TSN, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo hiện
trạng diện tích là 3.321,6m2. Diện tích đất này chị B, anh N sử dụng phần lớn để
đào ao nuôi cá, diện tích ao là 2076,5m2; diện tích còn lại là bờ ao trên trồng cây,
một phần diện tích đã xây dựng công trình nhà trông coi và công trình sử dụng để
chăn nuôi, sân, lán. Diện tích chênh lệch 3.321,6 m2 2.569m2 = 752,6m2
diện tích đất do chị B, anh N lấn đất của UBND xã quản lý.
Như vậy, quyền sử dụng đất nông nghiệp (đất 03, đất chuyển đổi) hợp pháp
của anh N, chị B tại khu vực xin chuyển đổi (thửa 82), địa chỉ tại Trại ông T5, T,
Quang T8 2.569m2; Đối với diện tích đất lấn chiếm 752,6m2, tạm để cho anh
N, chị B sử dụng, khi nào Nnước lấy lại thì anh N chị B phải trả lại Nhà nước
không được yêu cầu bồi thường. Diện tích đất lấn chiếm 752,6m2 này thuộc
phía Đông Nam phía Tây Nam của thửa đất số 82 (phần giáp sông đào).
Việc xây dựng nhà trông coi theo quyết định 1654/QĐ-UBND ngày
03/5/2007 của UBND tỉnh H về việc ban hành qui định về quản xây dựng
nhà trông coi trên đất chuyển đổi. Theo đó, diện tích nhà trông coi trên đất chuyển
đổi chỉ được phép xây dựng không quá 20m2, nhà chăn nuôi thì theo phương án
chuyển đổi đã đăng ký, trong trường hợp này của nhà anh N chị B đăng ký 30 m2
nhà trông coi, 72m2 là nhà chăn nuôi. Xây dựng trên đất chuyển đổi nhằm phục
vụ trông coi bảo vệ tài sản đầu tư trên đất chuyển đổi, xây dựng tính chất
tạm thời dễ tháo dỡ, với kết cấu nhà móng tường xây gạch, mái lợp ngói, tôn,
hoặc các vật liệu tương tự (không đổ mái bằng sàn tông cốt thép). Còn lại nếu
xây vượt quá xây sai qui định. Việc xây vượt quá, sai quy định, UBND Q
chưa có quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với anh N, chị B.
Tại bản án dân sự thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 21/9/2024, Tòa án
nhân dân thị Kinh Môn đã căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 33, 38,
59, 62 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; các điều 129, 131, 210 của Luật
đất đai 2013; Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điu 147; khon 2 Điều 227 và
khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điu 273 ca B Lut t tụng dân sự; Luật
phí lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
11
1. Chp nhn yêu cu khi kin ca ch Nguyn Th B:
1.1. Xử cho chị Nguyễn Thị B ly hôn anh Bùi Văn N.
1.2. Giao cháu Bùi Minh Đ, sinh ngày 13/12/2008 (hiện đang cùng anh
N) cho anh N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng
thành, đủ 18 tuổi. Cháu Bùi Thùy L, sinh ngày 02/6/2000, Bùi Thanh B2, sinh
ngày 02/02/2004 đã trưởng thành, không đặt ra việc giải quyết. Chấp nhận sự tự
nguyện của chị B cấp dưỡng nuôi con cùng anh N, mỗi tháng 1.000.000 đồng,
thời gian cấp dưỡng từ tháng 10/2024 đến khi cháu Đ trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Kể tngày đơn
yêu cầu thi hành án của anh N cho đến khi thi hành án xong, chB còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người
không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chung.
1.3. Tài sản chung và phân chia tài sản:
* Xác định tài sản chung của chị B, anh N gồm:
- Đất chuyển đổi:
+ 2075,6m2 đất ao, thửa 82 tờ bản đồ 39, trị giá 155.737.000 đồng;
+ 492,5m2 đất trồng cây lâu năm, thửa 82 tờ bản đồ 39, trị giá 39.400.000
đồng;
- 1.168,2m2 đất trồng cây hàng năm (cấy lúa) gồm 3 thửa: Thửa 13, thửa
19 và thửa 78, tờ bản đồ số 39, trị giá 87.615.000 đồng;
- Công trình, vật kiến trúc trị giá còn lại: 226.404.000 đồng;
- Cây trồng trên đất trị giá 18.985.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản chung của anh N, chị B 528.104.000 đồng.
* Phân chia tài sản:
Giao cho anh N được hưởng 56% tổng giá trị tài sản, tương đương =
293.973.000 đồng; giao cho chị B được hưởng 44% tổng giá trị tài sản, tương
đương = 234.132.000 đồng, chia bằng hiện vật, cụ thể:
- Giao cho chị B:
+ Quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm diện tích 371,2m2, thửa 19, tờ
bản đồ 39; quyền sử dụng đất diện tích 212,9m2, thuộc thửa 13, tờ bản đồ số 39,
được giới hạn bởi các điểm 38, 38A, 39A, 39 đến 38. Trị giá: 43.807.500 đồng.
12
+ Quyền sử dụng đất ao 916m2 thuộc thửa 82, tờ bản đồ 39, được giới hạn
bởi các điểm từ 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 37A, 63 đến 25.
Trị giá: 68.700.000 đồng.
+ Quyền sử dụng diện tích 289.2 m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 82,
tờ bản đồ 39, được giới hạn bởi các điểm 54, 55, 56,57, 61, 62, 24, 25, 63,64,
65,66,67 đến 54. Trị giá: 23.136.000 đồng
+ Tạm giao cho chị B sử dụng diện tích 453.7m
2
đất lấn Sông đào được
giới hạn bởi các điểm từ 11A, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24,
25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 37A đến 11A.
+ Giao cho chị B sở hữu, sử dụng: Mái lợp Fibroximăng giáp cổng vào; Bể
nước 6,1m3; Nhà tắm mái bằng; Nhà kho mái Fibroximăng 51,3m2; Lán lợp
Fibroximăng 37,9m2 trước nhà kho, nhà chăn nuôi; Lán lợp Fibroximăng 14,2m2
trên góc ao; Nền bê tông 15,9m2 cuối dãy chăn nuôi 14,2m2; Chuồng trại
124,1m2; 02 bể Piogas 18,84m3; T9 ao 15m3; 01 cây nn tán 10m; 01 cây
nhãn tán 7m; Hồng xiêm 15 cây; 14 cây mít đường kính gốc 15cm. Các tài sản
này hiện hữu trên đất giao cho chị B. Tổng trị giá: 98.488.000 đồng.
- Giao cho anh N:
+ Quyền sử dụng diện tích 343,7m2, thửa 78, tờ bản đồ số 39 diện tích
240m2 thuộc thửa 13, tờ bản đồ số 39, được giới hạn bởi các điểm từ 38A, 39A,
40, 41, 42, 43, 44, 45, 46 đến 38A. Trị giá: 43.807.500 đồng.
+ Quyền sử dụng 1.160m2 đất ao thuộc thửa 82, tờ bản đồ 39 được giới hạn
bởi các điểm từ 37A, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53,
54, 67, 66, 65, 64, 63 đến 37A. Trị giá: 87.000.000 đồng.
+ Quyền sử dụng diện tích 203,3m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 82, tờ
bản đồ 39, được giới hạn bởi các điểm 1, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60 đến 1. Trị
giá: 16.264.000 đồng
+ Tạm giao cho anh N sử dụng diện tích 298.9m
2
đất lấn Sông đào được
giới hạn bởi các điểm t1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11A, 37A, 38, 39, 40, 41, 42,
43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53 đến 1.
+ Giao cho anh N sở hữu, sử dụng: Nhà ở 1 tầng + tum; Nhà phụ mái bằng
1 tầng; Mái lợp Fibroximăng hồi nhà diện ch 15m2; Lán lợp Fibroximăng
16m2 giáp nhà phụ; Sân tông 13,58m3; cánh cổng sắt 6,63m2; T9 kè ao
17.08m3; Tường bao 3,21m3; 02 Cây nhãn đường kính tán 5m; 03 cây mít đường
kính gốc 15cm; 01 cây mít gốc 30cm; 01 cây vải tán 7m; 01 cây dừa gốc 35cm;
01 cây xoài gốc 30cm; 01 cây khế tán 7m. Các tài sản này hiện hữu trên đất giao
cho anh N. Tổng trị giá: 146.901.000 đồng.
* Đối với công trình xây trên đất không đúng quy định, cây cối, công
trình trên phần đất lấn Sông đào của anh N, chị B, tạm giao cho anh N, chị B sở
13
hữu, sử dụng, khi nào Nhà nước yêu cầu, thì anh N, chị B phải thực hiện theo yêu
cầu của Nhà nước trên cơ sở quy định của pháp luật.
* Số lượng thủy sản trong ao do anh N đang chăn nuôi (là tài sản thuộc sở
hữu của anh N), anh N phải thu hoạch và giao trả diện tích ao cho chị B.
* Lúa cấy vụ mùa 2024 (là tài sản thuộc sở hữu của anh N), đến kỳ thu
hoạch vụ mùa năm 2024, anh N phải thu hoạch lúa và trả ruộng cho chị B.
* Chị B, anh N quyền đăng ký biến động đất tại cơ quan có thẩm quyền.
* Thời hạn sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Có sơ đồ phân chia kèm theo)
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí quyền kháng cáo của các
đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, bị đơn anh Bùi Văn N kháng cáo đối với bản án
dân sự sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 21/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã
Kinh Môn, cụ thể: Không nhất trí mức cấp dưỡng nuôi con 1.000.000
đồng/tháng, yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng; không
đồng ý xác định toàn bdiện tích đất khu chuyển đổi tài sản chung của vợ
chồng mà có một phần là tiêu chuẩn đất 03 của ông bà nội và bố mẹ đẻ anh N nên
phải trả lại những phần đất này cho người sử dụng hợp pháp; ngoài ra vợ chồng
còn vay bố đẻ anh N một khoản tiền, đề nghị Tòa án giải quyết khoản nợ chung
của vợ chồng.
Tại giai đoạn phúc thẩm, anh N rút một phần kháng cáo, không yêu cầu giải
quyết khoản nợ của vợ chồng với bố đẻ là ông Bùi Văn V.
Chị B đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể chị không đề nghị
Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng
anh N là 2.205.000 đồng/tháng.
Tại phiên tòa, chị B vắng mặt đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh N
đồng ý việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị B về nội dung chia tài sản
chung của vợ chồng đồng ý khoản tiền cấp dưỡng nuôi con của chị B
2.205.000 đồng/tháng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bluật ttụng dân sự. Về việc
giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 299, các khoản 2, 4, 5
Điều 308, Điều 309, Điều 311, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, nghị quyết
326/2016/UBTVQH: Hủy một phần bán án dân sự sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST
và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng giữa
chị B và anh N; đình chỉ xét xphúc thẩm đối với kháng cáo của anh Bùi Văn N
về yêu cầu giải quyết khoản nợ của vợ chồng với ông Bùi Văn V; chấp nhận
kháng cáo của anh N, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng công nhận sự t
14
nguyện của chị B cấp dưỡng nuôi con cùng anh N là 2.205.000 đồng/tháng; anh N
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hvụ án, được thẩm tra công
khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
(viết tắt là HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của anh Bùi Văn N trong thời gian luật định
đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ nên kháng cáo hợp lệ; nguyên đơn chị
Nguyễn Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người có quyền lợi - nghĩa
vụ liên quan là ông B1, bà N2, ông Ủ, bà T, anh K, chị T1, ông H, bà T2, ông V1,
H1, ông V2, bà T4, đại diện UBND Q vắng mặt nhưng những người này
không kháng cáo không quyền lợi - nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo
nên căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt
những người trên.
[2] Quá trình xét xử phúc thẩm, chị Nguyễn Thị B rút một phần yêu cầu
khởi kiện, cụ thể không đề nghị Tòa án giải quyết tài sản chung của vợ chồng, bị
đơn anh Bùi Văn N nhất trí việc rút yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn. Việc
rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơnviệc bị đơn đồng ý việc rút
một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không ảnh
hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác nên căn cứ vào Điều 299,
khoản 4 Điều 308 và Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX hủy mt phần
bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 21/9/2024 của Tòa án nhân
dân thị xã Kinh Môn đối với nội dung chia tài sản chung của vợ chồng và đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự đối với nội dung trên.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Bùi Văn N cũng rút một phần nội dung
kháng cáo đối với việc yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ của vợ chồng với ông
Bùi Văng V3 nên căn cứ khoản 5 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX đình
chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo này của anh Bùi Văn N.
[4] Xét kháng cáo yêu cầu tăng mức cấp dưỡng nuôi con chung của anh
Bùi Văn N, HĐXX thấy: Tại cấp thẩm, anh N không đến tham gia tố tụng
không bày tỏ quan điểm về mức cấp dưỡng nuôi con, chB tự nguyện cấp dưỡng
nuôi con cùng anh N 1.000.000 đồng/tháng, cấp thẩm đã chấp nhận sự tự
nguyện này của chị B. Sau đó, anh N kháng cáo không đồng ý với mức cấp dưỡng
này. Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày
16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì “Trường hợp các
bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu
nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của
người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp
15
hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang trú cho
mỗi tháng đối với mỗi người con”. Căn cứ Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày
30/6/2024 của Chính phủ quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động
làm việc theo hợp đồng lao động thì mức lương tối thiểu vùng tại thị K là
4.410.00 đồng/tháng. Do đó, Tòa án cấp thẩm chấp nhận stự nguyện của chị
B cấp dưỡng nuôi con cùng anh N 1.000.000 đồng/1 tháng không phù hợp với
quy định của pháp luật. Anh N kháng cáo nội dung này là có căn cứ. Tại cấp phúc
thẩm, anh N yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/1 tháng, chị B
tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng anh N 2.205.000 đồng/tháng. Mức cấp
dưỡng này của chị B cao hơn mức anh N yêu cầu, lợi cho anh N con, phù
hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận sự tự nguyện của chị B cấp
dưỡng nuôi con là 2.205.000 đồng/1 tháng.
[5] Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận kháng cáo của anh Bùi Văn
N, sa bn án dân s sơ thm s 63/2024/HNGĐ- ST ngày 21/9/2024 ca Tòa án
nhân dân th xã Kinh Môn đối vi phn cp dưỡng nuôi con chung.
[6] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh N được chấp nhận nên anh N
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm;
[7] Các nội dung khác của bản án không kháng cáo, kháng nghị, không
được HĐXX xem xét giải quyết hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 299, khoản 2, khoản 4, khoản 5 Điều 308, Điều 309, Điều
311, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lphí Tòa
án:
1. Hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/HN-ST ngày
21/9/2024 của Tòa án nhân dân thị Kinh Môn đình chỉ giải quyết một phần
vụ án dân sự thụ số 35/2024/TLPT-HNGĐ ngày 01/11/2024 của Tòa án nhân
dân tỉnh Hải Dương đối với yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Bùi Văn N về nội
dung yêu cầu giải quyết khoản vay nợ của vợ chồng với ông Bùi Văn V.
3. Chấp nhận kháng cáo của anh Bùi Văn N, sửa bản án hôn nhân gia
đình thẩm số 63/2024/HN-ST ngày 21/9/2024 của Tòa án nhân dân thị
Kinh Môn, tỉnh Hải Dương về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Căn cứ vào các điều 33, 38, 59, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và
gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của U ban Thường vụ
16
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí
Tòa án:
Về quan hệ con chung: Giao cháu Bùi Minh Đ, sinh ngày 13/12/2008 cho
anh N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi,
trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị B cấp dưỡng nuôi con cùng anh N
2.205.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 10/2024 đến khi cháu Đ
đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Chị Nguyễn Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được
cản trở.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề
nghị thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền
trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi
suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357, Điều
468 Bộ luật dân sự.
4. Án phí dân s phúc thm: Anh N không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Trả lại anh N 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ pTòa án số 0006975 ngày 22/10/2024 của Chi cục thi
hành án dân sự thị xã Kinh Môn.
5. Các nội dung khác của bản án không kháng cáo, kháng nghị, không
được HXX xem xét hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- TAND, Chi cục Thi hành án dân sự thị
xã Kinh Môn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Thị Hƣơng Nhu
Tải về
Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất