Bản án số 05/2025/HNGĐ- ngày 28/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 05/2025/HNGĐ-
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 05/2025/HNGĐ-
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 05/2025/HNGĐ-
| Tên Bản án: | Bản án số 05/2025/HNGĐ- ngày 28/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu |
| Số hiệu: | 05/2025/HNGĐ- |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/08/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Vụ án yêu cầu ly hôn tranh chấp nuôi con khi ly hôn Lan + Hân |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/8/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi
con khi ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do -Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đức Hiệp;
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lù Thanh Xá;
2. Bà Lý Thị The;
- Thư ký phiên tòa: Bà Thào Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai
Châu mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý
số: 12/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
02/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số:
02/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự sau:
1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị L, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu
(Nay là bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu)
(Vắng mặt tại phiên tòa có lý do).
2. Bị đơn: Anh Mào Văn H, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Bản Nậm Hài, xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (Nay
là bản Nậm Hài, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu)
(Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12/5/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án nguyên đơn chị Lường Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Mào Văn H đến với nhau trên cơ sở hoàn
toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nậm

Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (Nay là UBND xã Nậm Hàng, tỉnh Lai
Châu) vào ngày 09/6/2020. Sau khi kết hôn, chị và anh H chung sống hòa thuận
hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh
nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H
thường xuyên chơi bời, nghiện hút ma túy không chịu tu chí làm ăn dẫn đến vợ
chồng cãi vã kéo dài và không có tiếng nói chung. Mặc dù chị và gia đình hai bên
nội ngoại cũng đã nhiều lần khuyên bảo để anh H thay đổi nhưng không có kết
quả. Đến nay chị và anh H đã sống ly thân được 02 năm. Chị xét thấy tình cảm
vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân
không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh
Mào Văn H.
Về con chung: Chị và anh Mào Văn H có 01 con chung tên là Mào Anh Đ,
sinh ngày 20/7/2020. Nguyện vọng của chị L là giao cháu Mào Anh Đ cho anh H
trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi cháu Đ trưởng
thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Lường Thị L và anh Mào Văn H tự thỏa
thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lường Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc ở xa nên chị Lường Thị L không thể tham gia phiên tòa
xét xử vì vậy chị L đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt chị và giải quyết vụ
án theo quy định của pháp luật.
* Theo các lời khai có trong hồ sơ, bị đơn anh Mào Văn H trình bày:
Anh và chị Lường Thị L về chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào
ngày 09/6/2020 tại UBND xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (Nay
là UBND xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu). Việc kết hôn giữa anh và chị Lường Thị
L là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống
vui vẻ, hạnh phúc. Đến cuối năm 2022 thì chị L bỏ nhà, bỏ con nói là đi làm Công
ty cùng với bà ngoại nhưng khi đến chỗ làm thì chị L lại đi chỗ khác không làm
chung với bà ngoại nữa. Làm được một tháng sau bà ngoại về nhà rồi nhưng chị
L vẫn không về cùng bà và đi kéo dài hơn một năm. Giờ chị L quay về đề nghị
Tòa án giải quyết ly hôn thì quan điểm của anh không nhất trí vì con cái còn nhỏ,
anh H không muốn gây ảnh hưởng đến tư tưởng của con chung và mong muốn
Tòa án xem xét, hòa giải cho vợ chồng anh, chị để quay về đoàn tụ cùng nhau
nuôi dạy con cái trưởng thành. Trường hợp phải ly hôn anh có nguyện vọng được
trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Mào Anh Đ, sinh ngày
20/7/2020 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi
con: Do chị Lường Thị L và anh Mào Văn H tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa
án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung anh cũng không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, anh Mào Văn H đã có văn bản trả lời Thông báo thụ
lý vụ án của Tòa án và được Tòa án triệu tập đến làm việc, đã có biên bản lấy lời
khai. Tuy nhiên quá trình về sau anh H không đến Toà án để làm việc theo giấy

triệu tập, thông báo mở phiên họp Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải của Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu phát
biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như
sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án;
thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương
sự trong vụ án; việc ra và gửi Thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra
xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa
hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; Thư
ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực
hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng, đảm bảo quyền nghĩa vụ theo Điều 70, 72 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Căn cứ
khoản 1 Điều 28, 35; 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3
Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi bổ sung năm
2025); Căn cứ vào Điều 51, Điều 56,Điều 57,Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều
83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét quyết định:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị
Lường Thị L được ly hôn với anh Mào Văn H.
Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Mào Anh Đ, sinh ngày
20/7/2020 cho anh Mào Văn H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo
dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Lường Thị L và anh Mào Văn H tự thỏa
thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Do chị Lường Thị L và anh Mào Văn H không
yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết
Về án phí: Nguyên đơn chị Lường Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của
đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ
kèm theo của nguyên đơn, xét yêu cầu khởi kiện của chị Lường Thị L là hoàn toàn
tự nguyện, đúng pháp luật nên cần chấp nhận. Toà án xác định đây là vụ án “Tranh
chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Mào Văn H có đăng ký thường
trú tại bản Nậm Hài, xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (Nay là bản
Nậm Hài, xã Mường Mô, tỉnh Lai Châu) vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu được quy định tại khoản 1 Điều 28;
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về điều luật áp dụng: Chị L và anh H kết hôn năm 2020 nên Toà án
sẽ áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét tính
hợp pháp của quan hệ hôn nhân và áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và
gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.
[1.4] Về việc vắng mặt đương sự: Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại
các Điều 175, Điều177 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc anh H không thực hiện quyền
và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự là do
anh H đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Ngày 08/8/2025 Tòa án nhân dân
khu vực 4 - Lai Châu đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu
tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, chị L
có đơn xin xét xử vắng mặt, còn anh H tiếp tục vắng mặt lần thứ hai mà không có
lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản
3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh
Mào Văn H.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của chị Lường Thị L và
các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị L và anh Mào Văn H tự nguyện
kết hôn được UBND xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (Nay là
UBND xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày
09/6/2020. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H là hợp pháp.
Quá trình chung sống chị L cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng
quan điểm sống, anh H thường xuyên chơi bời, nghiện hút ma túy không chịu tu
chí làm ăn dẫn đến vợ chồng cãi vã kéo dài, không có tiếng nói chung. Về phía
anh H cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do chị L bỏ nhà đi làm Công ty hơn
một năm mới quay về rồi đòi ly hôn đối với anh nên quan điểm của anh là không
nhất trí ly hôn với chị L. Mặc dù chị L, anh H đều đưa ra nguyên nhân mâu thuẫn
khác nhau nhưng cả hai đều xác định là có mâu thuẫn, cãi vã và thực tế chị L, anh
H hiện nay đã sống ly thân, không còn ai quan tâm đến ai, kinh tế vợ chồng hoàn
toàn độc lập nên càng làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng dạn nứt, mục đích
hôn nhân không đạt được. Nhận thấy việc chị L, anh H đã sống ly thân từ năm

2022 thể hiện việc cả hai anh, chị đã vi phạm nghĩa vụ của người vợ, người chồng,
dẫn đến không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, cùng chia sẻ thực hiện các công việc
trong gia đình với nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014. Tại phiên tòa hôm nay chị L vẫn cương quyết đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mào Văn H để giải phóng bản thân
chị khỏi cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc này.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H vắng mặt tại phiên họp Kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như vắng mặt phiên
tòa xét xử không có lý do. Điều này thể hiện sự không thiện chí trong việc hòa
giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, cũng như việc tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ
của mình.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu
thương, chăm sóc lẫn nhau, phải có thái độ tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, cùng chia
sẻ thực hiện các công việc trong gia đình, trong cuộc sống. Để đảm bảo quyền lợi
cho chị Lường Thị L và giải phóng cho chị khỏi cuộc sống hôn nhân khi mà anh
H không đem lại hạnh phúc cho chị, mâu thuẫn gia đình ngày càng trở nên trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được.
Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L về việc đề
nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H là hoàn toàn có căn cứ theo
quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Chị Lường Thị L và anh Mào Văn H có 01 con chung
tên là Mào Anh Đ, sinh ngày 20/7/2020. Hiện nay cháu Đ đang ở với chị L tại bản
Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (Nay là bản Nậm Cầy,
xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu). Sau khi ly hôn chị L có nguyện vọng giao cháu
Mào Anh Đ cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và anh H cũng có nguyện
vọng là được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu Đ trưởng thành
(đủ 18 tuổi). Tại Biên bản lấy lời khai của chị L ngày 20/5/2025 thể hiện trong
thời gian vợ chồng sống ly thân, anh H vẫn thường xuyên gọi điện hỏi thăm con
chung và đưa đón cháu Đ qua lại hai bên gia đình nội ngoại cho thấy mặc dù vợ
chồng sống ly thân nhưng anh H vẫn luôn yêu thương, quan tâm và có trách nhiệm
đối với con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Con chung là cháu Mào Anh Đ, sinh ngày
20/7/2020 đều được cả anh H, chị L yêu thương, quan tâm, chăm sóc và phát triển
khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. Xét nguyện vọng của chị L là giao con
chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là hợp pháp và nguyện vọng của anh H là
được trực tiếp nuôi dạy cháu Mào Anh Đ là chính đáng vì anh H có chỗ ở, thu
nhập ổn định khoảng 6.000.000 đồng/tháng nên sẽ đảm bảo điều kiện tốt hơn so
với chị L đang đi làm ăn xa. Do đó, căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giải quyết về con chung
của chị L và anh H: Giao con chung cháu Mào Anh Đ, sinh ngày 20/7/2020 cho
anh Mào Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến
khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lường Thị L có quyền đi lại, thăm
nom con chung theo quy định của pháp luật.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Lường Thị L và anh Mào Văn H tự
thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu do đó Hội
đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[2.5] Về án phí: Chị Lường Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo
khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4
- Lai Châu tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35; 39; khoản 4 Điều 147 điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 3 điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi bổ
sung năm 2025);
- Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều
82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị L được ly hôn với anh Mào Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung Mào Anh Đ, sinh ngày 20/7/2020 cho
anh Mào Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến
khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lường Thị L có quyền, nghĩa vụ
thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Lường Thị L và anh Mào Văn H tự thỏa thuận
và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
5. Về án phí: Chị Lường Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia
đình sơ thẩm. Xác nhận chị L đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000484 ngày 19/5/2025 tại Chi cục Thi hành
án Dân sự huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Chị Lường Thị L đã nộp đủ án phí
HNGĐ-ST.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản
án được niêm yết./.

Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4;
- Thi hành án Dân sự tỉnh Lai Châu;
- UBND xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu;
- Các Đương sự;
- Lưu hồ sơ. /.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Lý Đức Hiệp
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 20/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 19/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 17/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 17/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 16/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Bản án số 50/2025/HNGĐ ngày 15/12/2025 của TAND tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm