Bản án số 05/2023/HC-ST ngày 13/09/2023 của TAND tỉnh Ninh Bình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2023/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 05/2023/HC-ST ngày 13/09/2023 của TAND tỉnh Ninh Bình
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 05/2023/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/09/2023
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Thị H - Ủy ban nhân dân thành phố N "khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 05/2023/HC-ST Bản án số 05/2023/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 05/2023/HC-ST
Ngày: 13 - 9 - 2023
V/v khiếu kiện nh vi
hành cnh
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Mạnh Huy;
2. Ông Phạm Văn Hậu.
- Thư ký phiên tòa:Phạm Thị Bích Diệp Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa:
Bùi Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 13/9/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử thẩm
công khai vụ án thụ lý số 05/2023/TLST-HC ngày 01/6/2023 về khiếu kiện hành
vi hành chính theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐST-HC ngày
05/9/2023, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1950; địa chỉ: xóm T, xã N,
huyện H, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: ông Phạm Viết Hoàng, sinh
năm 1960; địa chỉ: xóm 7, M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. người đại diện theo
ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 27/6/2023). (Có mặt)
2. Người bị kiện:
+ Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình; địa chỉ: đường T, N, thành phố N, tỉnh
Ninh Bình.
Người đại diện hợp pháp của Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình: ông Nguyễn
Trường T, Giám đốc Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình. người đại diện theo pháp
luật. (Vắng mặt, có Văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)
+ Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ: số 33, đường L,
phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
2
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố N: ông Trần Thanh
C, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N. Là người đại diện theo uỷ quyền
(Văn bản uỷ quyền ngày 27/8/2023). (Vắng mặt, Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
3. Người quyền lợi, nghĩa vliên quan: Ủy ban nhân dân phường K, thành
phố N, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ: đường K, phố B, phường K, thành phố N, tỉnh
Ninh Bình.
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân phường K: ông Hoàng Văn
C, Phó Chủ tịch UBND phường K, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. người đại
diện theo uỷ quyền (Văn bản u quyền ngày 06/9/2023). (Vắng mặt, Đơn đề
nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 23/5/2023, trong quá trình giải quyết vụ án, người
khởi kiện (bà Nguyễn Thị H) người đại diện hợp pháp của người khởi kiện
trình bày:
Bà Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án giải quyết:
+ Buộc Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thành phố N, tỉnh Ninh
Bình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt GCNQSDĐ)
cho bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng 80m² đất ở tại thửa số 4, tờ bản đồ s
43, bản đồ địa chính phường K lập năm 2006 chỉnh năm 2010, địa chỉ thửa đất:
phố M, phường K, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (sau đây viết tắt là thửa đất số 4).
+ Hủy ng văn số 03/PC-CNVPĐK ngày 09/01/2023 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố N, tỉnh Ninh Bình v/v chuyển trả hồ sơ về việc
đăng ký, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất lần đầu
của Nguyễn Thị H (sau đây viết tắt Công văn số 03). Buộc Văn phòng Đ
tỉnh Ninh Bình đăng ký quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H được quyền sử
dụng 80m² đất tại thửa số 4, tờ bản đồ số 43, bản đồ địa chính phường K lập
năm 2006 chỉnh năm 2010, địa chỉ thửa đất: phố M, phường K, thành phố N,
tỉnh Ninh Bình.
do khởi kiện:
Ông Nguyễn Tử C (tên gọi khác là Nguyễn Tử T, Nguyễn Văn T) sinh năm
1920, đã chết năm 1997, vTrịnh Thị X, sinh năm 1917, đã chết năm
2008. Bố mẹ đẻ của ông T, X đã chết trước ông T, X. Ông T bà X 4
người con, gồm: Nguyễn Thị L, sinh năm 1945; Nguyễn Thị H, sinh năm
1950; ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1954 (là liệt sỹ chống Mỹ, hy sinh năm 1973
không có vợ con); ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1958.
Năm 1992, 1993 nhiều hộ gia đình ở xã K, huyện H, tỉnh Ninh Bình có nhu
cầu giao đất làm nhà ở và đơn xin giao đất làm nhà ở, trong đó có gia đình ông
T X. Nghị quyết Hội đồng nhân dân K, huyện H họp ngày 04/8/1993, kỳ
họp thứ 15 nhiệm kỳ 1989-1994 chủ trương giao đất cho các hộ gia đình
3
đơn. Vị trí cấp trong làng 160m²/xuất. Mức thu đền hoa lợi 1.456.000
đồng/1 xuất. Ông T X lúc đó hộ khẩu tại thôn Cam Giá, K, huyện H
(người địa phương) được giao đất tại khu vườn Ngà (phố M) với diện tích
160m²/xuất.
Về nghĩa vụ tài chính: tại Phiếu thu số 130 ngày 28/01/1994 của UBND
K, huyện H đã thu số tiền 1.408.000 đồng, Phiếu thu số 130 số tiền thu 360.000
đồng, Phiếu thu số 170 ngày 30/8/1994 UBND xã K, huyện H đã thu số tiền làm
đường 600.000 đồng. Cả 3 Phiếu thu nêu trên đều do Nguyễn Thị H nộp
thay bố mẹ. Như vậy bố mbà H đã nộp 2 Phiếu thu số 130 ngày 28/01/1994 là:
1.408.000 đồng + 360.000 đồng = 1.768.000 đồng. Số tiền này cao hơn mức quy
định của Hội đồng nhân dân xã K, huyện H.
Ông T bà X cho con là anh Nguyễn Trọng T (con trai út) 1/2 diện tích đất ở
là 80m², ông Thịnh không có nhu cầu ở đã chuyển nhượng cho người khác. Phần
còn lại 80m
2
anh em trong gia đình họp bàn thống nhất để bà H được toàn quyền
sử dụng. Bà H đã xây nhà 02 tầng trên phần đất 80m² còn lại vào năm 2009.
Tại tờ bản đồ số 26 bản đồ địa chính phường K lập năm 1997 thể hiện: thửa
đất số 153, diện tích 162m
2
chủ sử dụng đất mang tên Thởn. Sổ mục K,
huyện H năm 1997 phù hợp với bản đồ nêu trên. Tại tờ bản đồ số 43 bản đồ địa
chính phường K lập năm 2006, chỉnh m 2010 thể hiện: thửa đất s4, diện
tích 80m
2
, chủ sử dụng đất mang tên Hằng. Sổ mục kê phường K, huyện H m
2010 phù hợp với bản đồ nêu trên. Thửa đất H đang sử dụng phù hợp với quy
hoạch là đất ở đô thị và không tranh chấp với ai.
H đã nhiều lần đơn đề nghị quan Nhà nước thẩm quyền cấp
GCNQSDĐ cho H nhưng không được chấp nhận. Ngày 04/01/2023 H gửi
đơn bộ hồ lên Trung tâm một cửa liên thông của thành phố N, tỉnh Ninh
Bình về việc đăng ký cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với
đất lần đầu. Cán bộ một cửa liên thông của thành phố N nhận bộ hồ sơ củaH
rồi giao cho bà H "Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả", trong giấyghi hẹn
thời gian trả kết quả giải quyết hồ sơ vào ngày 22/02/2023. Ngày 22/02/2023 cán
bộ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N đã trả cho H bộ hồ
nói nội dung hồ chưa đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ. H mở hồ
thấy có Công văn số 03, trong công văn có ghi: trong thành phần hồ sơ không có
một trong các giấy tờ quyền sử dụng đất theo Điều 100 Luật Đất đai Điều 18
Nghị định số 43/NĐ-CP của Chính phủ nên hồ chưa đủ điều kiện để cấp
GCNQSDĐ. vậy đề nghị liên hệ với quan Nhà nước để hoàn thiện thủ
tục công nhận quyền sdụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định
của pháp luật để cấp GCNQSDĐ theo đúng quy định. Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai thành phố N chuyển trả lại hồ cho Trung tâm một cửa liên thông
thành phố đthông báo cho Nguyễn Thị H hoàn thiện hồ theo đúng quy
định.
Sau khi nhận lại hH được biết đất ông T được giao không tên trong
các quyết định giao đất UBND phường K lưu trữ. Như vậy căn cứ khoản 1
Điều 23 Nghị định 43/2014/NĐCP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, đất ông T
4
X thuộc trường hợp được giao đất không đúng thẩm quyền vào năm 1994. Căn cứ
khoản 4 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1, khoản 3 Điều 23, khoản 2
Điều 20 Nghị định 43/2014/-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; thửa đất
H đang sử dụng có diện tích 80m
2
mang tên bà H đủ điều kiện được cấp
GCNQSDĐ.
Về nghĩa vụ tài chính: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 8 Nghị định số
45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, H phải nộp thêm tiền nếu như
ở thời điểm năm 1994 ông T bà X nộp không đủ số tiền 1.458.000 đồng. Thực tế
2 Phiếu thu 130 ngày 28/01/1994 ông T, X đã nộp 1.768.000 đồng. Như vậy
số tiền ông T bà X đã nộp vượt mức quy định của Nghị quyết Hội đồng nhân dân
K. Do đó bà H không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính. Tại khoản 1 Điều 11
Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về việc miễn
tiền sử dụng đất. Ông T bà X bố mẹ của liệt sỹ Nguyễn Văn C (Nguyễn Tử C,
Nguyễn Mạnh C) theo quy định nêu trên thì ông T X được miễn nộp tiền sử
dụng đất nhưng thời điểm năm 1994 UBND xã K, huyện H, tỉnh Ninh Bình chưa
miễn tiền sử dụng đất cho ông T, bà X.
Tại Công văn số 626/VPĐK-ĐKCG ngày 28/6/2023, Văn phòng Đ tỉnh Ninh
Bình quan điểm như sau: Văn bản số 03/PC-CNVPĐK ngày 09/01/2023 do
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N ban hành, không phải văn bản
do Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình ban hành. Cơ quan thực hiện đăng ký đất đai đối
với hộ gia đình, nhân (bà Nguyễn Thị H) do Chi nhánh Văn phòng đăng đất
đai thành phố N thực hiện theo chức ng, nhiệm vụ được Giám đốc Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh Ninh Bình giao tại Quyết định số 438/QĐ-STNMT
ngày 15/11/2022 về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ
cấu tổ chức và biên chế của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Văn
phòng Đ tỉnh Ninh Bình. Do vậy, liên quan đến nội dung Nguyễn Thị H yêu
cầu trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình thay đổi người bị kiện, từ Văn
phòng đăng đất đai, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Ninh Bình thành Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N, Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình.
Tại Công văn số 1694/UBND-TNMT ngày 14/7/2023, UBND thành phố N
có quan điểm như sau:
Theo Quyết định số 415/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của UBND tỉnh Ninh
Bình về công bố Danh mục thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung
trong lĩnh vực tài nguyên nước, đất đai, tổng hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của
Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp huyện, UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình. Đối với thủ tục hành chính đăng ký và cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu: sau khi hộ gia đình, cá nhân nộp hồ
tại Bộ phận tiếp nhận trả kết quả của UBND cấp huyện hoặc Bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả tại UBND cấp xã, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp
huyện, UBND cấp trách nhiệm hoàn thiện hồ chuyển đến Phòng Tài
nguyên Môi trường kiểm tra hồ trình quan thẩm quyền cấp giấy
chứng nhận. Hồ cấp GCNQSDĐ (lần đầu) của Nguyễn Thị H chưa được
chuyển đến Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố để kiểm tra trình UBND
5
thành phố N cấp giấy chứng nhận quyền theo thẩm quyền. Đề nghị Toà án giải
quyết vụ việc theo quy định.
Tại Công văn số 71/UBND ngày 29/8/2023, UBND phường K có ý kiến như
sau: trên sở nguồn gốc đất qua các thời kỳ hgiấy tờ liên quan, UBND
phường K đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xem xét quyết định.
Tại phiên tòa: người đại diện hợp pháp của người khởi kiện trình bày: do
Công văn số 03 đã bị thu hồi nhưng phía người bị kiện chưa nhận lại hồ xin
cấp GCNQSDĐ của H nên H xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà
án giải quyết về vấn đề sau: buộc UBND thành phố N Văn phòng Đ tỉnh Ninh
Bình (do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N thực hiện) phải tiếp
nhận, thẩm tra hồ và thực hiện trình tcấp GCNQSDĐ cho bà H theo quy định
pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa
và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án phát biểu ý kiến
về việc giải quyết vụ án như sau: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều
30, Điều 116, điểm c khoản 2 Điều 193, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; khoản
4 Điều 100, Điều 105 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định 43/2014/-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ; Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
ca Ủy ban thường v Quc hi. X: chấp nhận yêu cầu thay đổi yêu cầu khởi
kiện của người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: buộc UBND thành
phố N, tỉnh Ninh Bình và Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình (do Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai thành phố N thực hiện) tiếp nhận thực hiện trình tự cấp
GCNQSDĐ cho Nguyễn Thị H theo nhiệm vụ, công vpháp luật quy định.
Về án phí hành chính thẩm: UBND thành phố N và Văn phòng Đ tỉnh Ninh
Bình phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật,
Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính xét thấy:
[1] Về tố tụng.
[1.1] Về sự có mặt của các đương sự.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình,
người đại diện hợp pháp của UBND thành phố N, người đại diện hợp pháp của
UBND phường K vắng mặt nhưng đều Văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Do
đó, căn cứ Điều 157, Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định của pháp luật.
[1.2] Về đối tượng khởi kiện.
6
Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện xin thay đổi yêu
cầu khởi kiện, H chđề nghị Toà án giải quyết về vấn đề sau: buộc UBND
thành phố N Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình (do Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai thành phố N thực hiện) phải thực hiện hành vi hành chính tiếp nhận, thẩm
tra hồ thực hiện trình tự cấp GCNQSDĐ cho H đối với thửa đất số 4 theo
quy định pháp luật.
Xét thấy: yêu cầu thay đổi yêu cầu khởi kiện của người đại diện hợp pháp
của người khởi kiện liên quan đến hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ lần đầu của
bà H bị trả lại, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Hội đồng xét
xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của người đại diện hợp pháp của
người khởi kiện theo khoản 1 Điều 173 Luật Tố tụng hành chính. Do đó, Hội đồng
xét xử xem xét, giải quyết yêu cầu thay đổi yêu cầu khởi kiện của người đại diện
hợp pháp của người khởi kiện theo quy định của pháp luật. Hành vi hành chính
không tiếp nhận lại hồ sơ, không cấp GCNQSDĐ lần đầu cho bà H của người bị
kiện thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính được quy định tại khoản 4 Điều
3 Luật Tố tụng hành chính. Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 3, khoản
4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì khiếu kiện của H thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
[1.3] Về xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị kiện.
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N là đơn vị trực thuộc Văn
phòng Đ tỉnh Ninh Bình. Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai trách nhiệm
thẩm định hồ đề nghị cấp giấy chứng nhận của H nằm trong quy trình cấp
GCNQSDĐ lần đầu cho cá nhân thuộc thẩm quyền của UBND thành phố N. Căn
cứ Điều 2 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao về xác định người bị kiện, căn cứ khoản 9 Điều 3
Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét x xác định người bị kiện trong vụ án này
Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình và UBND thành phố N. Do đó, Hội đồng xét xử
không chấp nhận đề nghị của Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình về việc thay đổi người
bị kiện, tVăn phòng Đ tỉnh Ninh Bình thành Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai thành phố N.
[1.4] Về thời hiệu khởi kiện.
Ngày 22/02/2023 bphận tiếp nhận hồ sơ của Trung tâm một cửa liên thông
thành phố N đã thông báo trả cho H hồ cấp GCNQSDĐ, cùng ngày
22/02/2023 H biết được UBND thành phố N không cấp GCNQSDĐ lần đầu
cho bà. Ngày 25/5/2023 bà H đã nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Toà án, thực hiện
quyền khởi kiện trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116
Luật Tố tụng hành chính.
[2] Xét tính hợp pháp của hành vi hành chính bị khởi kiện.
Tại Nghị quyết Hội đồng nhân dân K ngày 04/8/1993 thông qua chủ
trương xét đơn giao đất từ trước đến ngày 10/8/1993, diện tích cấp đất cho một
hộ trong làng là 160m
2
với mức thu đền bù hoa lợi đất đai trong làng là 1.456.000
đồng/xuất. Gia đình ông T được UBND xã K giao đất thuộc trường hợp giao đất
7
không đúng thẩm quyền. Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 23 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: trường hợp đất được
giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn định từ ngày 15/10/1993 đến
trước ngày 01/7/2014, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì được cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định
tại khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Người sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất phải thực hiện nghĩa vụ tài
chính theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, UBND phường K đã giao nộp cho Toà án Danh
sách các hộ nộp tiền đấtthể hiện gia đình ông Nguyễn Tử T đã nộp các khoản
tiền sau: tiền hoa lợi 1.408.000 đồng, tiền phúc lợi lệ phí 360.000 đồng, tổng số
tiền nộp 1.768.000 đồng. Những khoản tiền nêu trên cũng phù hợp với tài liệu do
phía người khởi kiện giao nộp cho Toà án phiếu thu thể hiện UBND xã K, nay là
phường K đã thu tiền của gia đình ông T như sau: Phiếu thu số 130 ngày
28/01/1994 thu số tiền hoa lợi đất 1.408.000 đồng, Phiếu thu số 130 thu số
tiền phúc lợi và lệ phí địa chính là 360.000 đồng.
Quá trình sử dụng đất, ông T và X cho con trai anh Nguyễn Trọng T
khoảng 1/2 diện tích đất, ông Thịnh đã chuyển nhượng cho người khác và đã được
cấp giấy chứng nhận. Phần còn lại khoảng 80m
2
anh em trong gia đình họp bàn
thống nhất để bà H được toàn quyền sử dụng. Bà H đã xây nhà 02 tầng trên phần
đất còn lại. Ngày 04/01/2023 bà H nộp hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ lần đầu tại
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Trung tâm một cửa liên thông thành phố N,
sau đó bà H đã nhận Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả giải quyết hồ sơ.
Căn cứ Điều 17 của Nghị định 61/2018/-CP ngày 23/4/2018 của Chính
phủ, việc tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
giải quyết thủ tục hành chính đã xem xét, kiểm tra, trường hợp hồ cấp
GCNQSDĐ lần đầu của H đã đầy đủ, chính xác theo quy định, cán bộ tiếp nhận
hồ sơ đã lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn ngày trả kết quả là đúng quy định.
Ngày 07/12/2022 UBND phường K đã tiến hành trình tự, thủ tục tiến hành
niêm yết công khai hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận của bà H theo đúng quy
định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định 43/2014/-CP ngày 15/5/2014 của Chính
phủ.
Căn cứ khoản 19 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của
Chính phủ, khoản 2 Điều 62, Điều 70 Nghị định 43/2014/-CP ngày 15/5/2014
của Chính phủ, căn cứ Quyết định số 16/2019/QĐ-UBND ngày 02/5/2019
Quyết định số 07/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND tỉnh Ninh Bình
quy định: Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cử cán bộ tiếp nhận và trả kết quả
hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận. Cán bộ tiếp nhận trả kết quả của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai hoạt động đồng bộ với bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả của UBND cấp huyện. Bộ phận tiếp nhận hồ trách nhiệm ghi đầy đủ
thông tin vào Sổ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, trao Phiếu tiếp nhận hồ và trả
kết quả cho người nộp hồ sơ…Sau khi hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại bphận
tiếp nhận và trả kết quả của UBND cấp huyện, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
8
đai cấp huyện có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ chuyển đến Phòng Tài nguyên và
Môi trường kiểm tra hồ sơ và trình cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận.
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện có trách nhiệm chuyển đến Chi
cục thuế cấp huyện hồ của người sử dụng đất để Chi cục thuế cấp huyện xác
định các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất. Trách nhiệm
của Văn phòng đăng ký đất đai là chỉ đạo Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
phối hợp với các quan, đơn vị thuộc UBND cấp huyện thực hiện các chương
trình dự án, nhiệm vụ do UBND cấp huyện giao theo chức năng, nhiệm vụ…có
kế hoạch bố trí nhân lực, trang thiết bị thực hiện các nhiệm vụ theo chương trình,
kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của UBND cấp huyện. Trách nhiệm của UBND cấp
huyện chủ trì giải quyết những ý kiến không đồng nhất giữa Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai, Phòng Tài nguyên Môi trường trong việc thẩm định,
kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận.
Tại Quyết định số 739/QĐ-UBND ngày 22/9/2021 của UBND tỉnh Ninh
Bình (văn bản có hiệu lực tại thời điểm H nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận
lần đầu) quy định: quan thẩm quyền quyết định thực hiện thủ tục hành chính
UBND cấp huyện. quan trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện.
Đối chiếu với các quy định trên, xét thấy Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai thành phố N chưa chuyển hồ sơ, chưa gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế
để quan thuế xác định các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử
dụng đất. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận chưa thể hiện việc xác định và xử lý nghĩa
vụ tài chính của người đề nghị cấp giấy chứng nhận, gia đình ông T thuộc trường
hợp gia đình người có công với cách mạng (có Giấy chứng nhận gia đình liệt sỹ)
nhưng chưa có văn bản của cơ quan thuế xác định trường hợp gia đình liệt s
thuộc đối tượng được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 11,
Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hay không.
Do đó Công văn số 03 nội dung hồ cấp giấy chứng nhận không một trong
các giấy tờ về quyền sdụng đất, chưa đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ chưa
đúng pháp luật. Đến ngày 19/7/2023 Chi nhánh n phòng đăng ký đất đai thành
phố N đã ban hành Công văn số 204/CV-CNVPĐK về việc thu hồi Công văn số
03 do quá trình xử văn bản chưa được đảm bảo đúng pháp luật. Tuy nhiên,
phía người bị kiện chưa tiếp nhận lại, xử hồ đề nghị cấp giấy chứng nhận
của H. Như vậy, hành vi hành chính của người bị kiện trong việc xử hồ
đề nghị cấp GCNQS của H chưa được đảm bảo, không đúng quy định của
pháp luật.
[3] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu thay
đổi yêu cầu khởi kiện của người đại diện hợp pháp của người khởi kiện, buộc Văn
phòng Đ tỉnh Ninh Bình (do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N
thực hiện) phải thực hiện hành vi hành chính theo quy định về nhiệm vụ, công vụ
pháp luật quy định đối với việc tiếp nhận, thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp
GCNQSDĐ của Nguyễn Thị H. UBND thành phố N căn cứ vào kết quả giải
quyết hồ đề nghị cấp giấy chứng nhận của Văn phòng Đ tỉnh Ninh nh (do
9
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N thực hiện) để thực hiện nhiệm
vụ, công vụ mà pháp luật quy định đối với việc cấp GCNQSDĐ cho bà H đối với
thửa đất số 4 theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí hành chính thẩm: do chấp nhận yêu cầu thay đổi yêu cầu
khởi kiện của người đại diện hợp pháp của người khởi kiện nên người bkiện chịu
án phí hành chính thẩm theo quy định của pháp luật. Người khởi kiện không
phải nộp án phí hành chính sơ thẩm.
[5] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4, khoản 9 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 3, khoản 4
Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; Điều 157; Điều 158; khoản 1 Điều 173; điểm
c khoản 2 Điều 193; Điều 204; Điều 206; Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính.
Căn cứ Điều 100, khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định
43/2014/-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Nghị định số 45/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Nghị định 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của
Chính phủ; Nghđịnh 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ; Thông
số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường.
Căn cứ khoản 2 Điều 32 của Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim,
thu, np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án. Tuyên x:
1. Chấp nhận yêu cầu thay đổi yêu cầu khởi kiện của người đại diện hợp
pháp của người khởi kiện.
Buộc Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình (do Chi nhánh Văn phòng đăng đất
đai thành phố N thực hiện) phải thực hiện hành vi hành chính theo quy định về
nhiệm vụ, công vụ pháp luật quy định đối với việc tiếp nhận, thẩm tra hồ
đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị H đối với
thửa đất số 4, tờ bản đồ số 43, bản đồ địa chính phường K lập năm 2006 chỉnh lý
năm 2010. Uỷ ban nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình căn cứ vào kết quả giải
quyết hồ đề nghị cấp giấy chứng nhận của Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình (do
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N thực hiện) để thực hiện nhiệm
vụ, công vụ pháp luật quy định đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất cho bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 4, tờ bản đồ số 43, bản đồ địa
chính phường K lập năm 2006 chỉnh lý năm 2010 theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
+ Văn phòng Đ tỉnh Ninh Bình chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án
phí hành chính sơ thẩm.
10
+ Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình chịu 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Án xử thẩm công khai, đương scó mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không mặt tại
phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án
được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
-TAND cp cao ti Hà Ni;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Các đương sự;
- Chi nhánh VPĐKĐĐ TP.Ninh Bình;
- Phòng KTNV-THA;
- Cục THADS tỉnh Ninh Bình;
- Lưu hồ sơ, HCTP, Tòa HC.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Thị Phượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 05/2023/HC-ST Bản án số 05/2023/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất