Bản án số 99/2026/HS-PT ngày 15/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 99/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 99/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 99/2026/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 99/2026/HS-PT ngày 15/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 99/2026/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Nguyễn Lý Q |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 99/2026/HS-PT
Ngày: 15-5-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thanh Giang
Ông Trần Thanh Tòng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Hoàng Phận – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2026/TLPT-HS ngày 01 tháng
4 năm 2026. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lý Q đối với Bản án hình sự sơ
thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu
vực 9 – Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Lý Q, sinh ngày 12/02/1990, tại tỉnh Tây Ninh. Căn cước công
dân số 080090007214. Nơi cư trú: Ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm
thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch:
Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Lý B (đã chết) và bà Đào Thị H,
sinh năm 1964; vợ Trần Thị Cẩm V, sinh năm 1996 (Bị cáo trong cùng vụ án);
con 02 người, sinh năm 2013 và sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 19/4/2017, bị Trưởng Công an huyện V, tỉnh Long An
(cũ) xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, vụ án còn có 02 bị cáo khác, 01 bị hại và 01 người liên quan
không có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu
tập.
2
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm,
nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, bị cáo Nguyễn Lý Q nảy sinh ý định chiếm đoạt 01 đầu
máy dầu Kubota RT 140 Plus của bà Lê Thị Kim H1, cụ thể: Trưa ngày 06/6/2025,
bị cáo Q mượn một chiếc xe kéo tay tự chế của bà Lý Thị M (ngụ cùng ấp) rồi
đẩy đến tiệm sửa xe của ông Trần Thanh S, bơm bánh xe và để cập đường phía
trước nhà của ông S. Khoảng 03 giờ ngày 07/6/2025, bị cáo Q rủ bị cáo Trần Thị
Cẩm V (cả hai là vợ chồng) cùng đi chiếm đoạt 01 đầu máy dầu Kubota RT 140
Plus và được bị cáo V đồng ý. Bị cáo Q mang theo một chìa khóa 17, sử dụng xe
mô tô chở bị cáo V ngồi sau kéo xe kéo tự chế đi đến nơi đặt xe cải tiến gắn 01
đầu máy dầu Kubota RT 140 Plus của bà H1 ngoài đồng ruộng tại ấp G, xã V,
tỉnh Tây Ninh. Bị cáo Q dùng chìa khoá 17 mở ốc vít, đưa xe kéo vào phía dưới
đầu xe cải tiến, đẩy máy xuống xe kéo, rồi cùng bị cáo V đẩy ra đường, buộc vào
xe mô tô kéo đến nơi mua ve chai, phế liệu tại ấp S, xã V, tỉnh Tây Ninh bán cho
bị cáo Nguyễn Việt L. Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, các bị cáo Q và Lào
khuân đầu máy để trước cửa nhà, bị cáo L bảo các bị cáo Q và V đi về sáng mai
tính tiền.
Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Nguyễn Việt L điện thoại cho
ông Nguyễn Văn D đến để bán lại. Ông D bận việc nên bảo khi xong việc sẽ qua
xem máy và thỏa thuận giá. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Q đến lấy
tiền bán máy. Bị cáo L điện thoại cho ông D đến xem máy và thỏa thuận mua với
giá 5.000.000 đồng, bị cáo Q đồng ý bán. Bị cáo L nhận chở máy đến nhà giao
cho ông D và nhận 5.000.000 đồng do ông D trả. Khoảng 14 giờ cùng ngày, bị
cáo Q đến lấy tiền, bị cáo L trừ tiền công chở máy đi bán là 1.000.000 đồng và
tiền bị cáo Q mượn trước đó là 1.000.000 đồng, tổng cộng là 2.000.000 đồng. Bị
cáo L chỉ giao cho bị cáo Q 3.000.000 đồng. Bị cáo Q về nhà đưa cho bị cáo V
1.140.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo Q tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, vụ việc bị
phát hiện.
Tại Kết luận định giá tài sản số 180/KL-HĐĐG, ngày 26/6/2025 của Hội
đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện V, tỉnh Long An kết
luận: 01 đầu máy dầu Kubota RT 140 Plus, màu: Cam-đen, đã qua sử dụng, tại
thời điểm định giá ngày 07/6/2025, giá trị là 5.667.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 04 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Tây Ninh, đã xét xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lý Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
2. Về hình phạt:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; các điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38; Điều 17; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

3
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lý Q 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị
cáo còn lại; về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/02/2026 bị cáo Nguyễn Lý Q kháng cáo
với nội dung giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Lý Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Lý Q kháng cáo đúng thời hạn và đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục
phúc thẩm.
Về nội dung vụ việc và yêu cầu kháng cáo: Qua các tài liệu chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp
sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Lý Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định
tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, không oan
cho bị cáo và đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo không
có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ để xem xét. Đề
nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo trình bày có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mong
Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội
đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Lý Q có
Đơn kháng cáo. Xét Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định,
nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tại
các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ việc và yêu cầu kháng cáo:
[2.1] Về nội dung vụ việc:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Q tại phiên
tòa, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 07/6/2025, tại ấp G, xã V, tỉnh Tây
Ninh, bị cáo Q cùng với đồng phạm có hành vi lén lúc chiếm đoạt một đầu máy
dầu hiệu Kubota RT 140 Plus của bà Lê Thị Kim H1 trị giá 5.667.000 đồng. Do
đó, Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Tây Ninh đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Lý Q phạm
4
tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là xét
xử đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo.
[2.2] Về quyết định hình phạt của cấp sơ thẩm và yêu cầu kháng cáo của bị
cáo:
Cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với
bị cáo như: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo, được quy định tại các điểm i và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình
sự và đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo giảm nhẹ hình
phạt, nhưng không có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ
để xem xét.
Trong vụ án này, bị cáo Q cùng với bị cáo Trần Thị Cẩm V (là vợ chồng
với nhau) cùng thực hiện hành vi phạm tội. Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã xem xét
đến điều kiện về hoàn cảnh gia đình của bị cáo, nên cho bị cáo V được hưởng án
treo là phù hợp. Bị cáo Q kháng cáo được hưởng án treo và trình bày cũng với lý
do về hoàn cảnh gia đình, nên không có căn cứ để xem xét chấp nhận kháng cáo
của bị cáo.
[2.3] Từ những căn cứ và nhận định trên, xét kháng cáo của bị cáo Q là
không có căn cứ để chấp nhận, đề nghị đại diện của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Tây Ninh tham gia phiên tòa là có căn cứ để chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Lý Q phải chịu án phí, do kháng
cáo không được chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lý Q. Giữ nguyên về hình
phạt đối với bị cáo Nguyễn Lý Q tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST
ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Tây Ninh.
2. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lý Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
3. Về hình phạt:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; các i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38;
Điều 17; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lý Q 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị
cáo chấp hành án.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Lý Q nộp 200.000
đồng án phí sung ngân sách Nhà nước.
5
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh (01);
- TAND Khu vực 9 (02);
- VKSND Khu vực 9 (01);
- Công an tỉnh Tây Ninh (01);
- THADS tỉnh Tây Ninh (01);
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thiện Tâm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 26/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 26/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 26/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 26/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 25/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 25/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 25/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 22/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 22/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 22/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 21/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 21/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 21/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm