Bản án số 50/2026/HS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 50/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 50/2026/HS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 50/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Ksor L - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 50/2026/HS-PT
Ngày 20 - 5 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sinh
Ông Lưu Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Nguyễn Hoàng Yến Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 44/2026/TLPT-HS ngày 09 tháng 3 năm
2026 do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2026/HS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 – Gia Lai.
- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng
có liên quan đến kháng cáo:
Ksor Lê, sinh ngày 08/02/2007 tại tỉnh Gia Lai; số căn cước công dân:
064207015946; nơi trú: Làng B, I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình
độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Gia rai (Ja Rai); giới tính: Nam; tôn giáo: Kng; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Rơ Mah Y, sinh năm 1971 và bà Ksor Y1, sinh năm 1975;
vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 07/02/2024, bị Công an huyện I, tỉnh Gia Lai (cũ) xử phạt hành chính
bằng hình thức phạt tiền 1.250.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
- Ngày 17/4/2024, bị Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai (nay là Toà
án nhân dân khu vực 9 - Gia Lai) xử phạt 06 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/6/2024.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2025 cho đến nay. Có đơn xin xét x
vắng mặt.
2
- Những người tham gia tố tụng có kháng cáo:
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty T; địa chỉ trụ sở:
Tầng B, Tòa nhà R, số I Đ, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án: Ông Huỳnh Thanh K Chuyên gia là người đại diện theo ủy quyền của Công ty
T; địa chỉ liên hệ: Tầng B, Tòa nhà R, số I Đ, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 05/7/2025, Ksor L sử dụng điện thoại gắn số sim
0349930835 gọi điện thoại cho một đối tượng theo khai được lưu tên là “Núi đá”
và hỏi mua của người này 03 gói ma tuý với giá 1.700.000 đồng. Sau khi thống nhất
thì L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, không có biển kiểm
soát, số máy JK14E-0546560, số khung RLHJK1402SZ317033 của đi từ I,
tỉnh Gia Lai đến khu vực đường đồi thông xã I, tỉnh Gia Lai gặp 01 người nam thanh
niên (chưa xác định được nhân thân) mua 1.700.000 đồng ma tuý. Sau khi mua được
ma tuý, Lê đi về nhà ở làng B, xã I, tỉnh Gia Lai và lấy ma tuý ra sử dụng một phần
tại khu vực lô cao su ở gần nhà, phần ma tuý còn lại được Lê cất trong 02 gói nilon
gói trong 01 gói giấy bạc cất trong lớp xốp của mũ bảo hiểm của L. Khoảng 15
giờ ngày 06/7/2024, L điều khiển xe mô tô đi đến khu vực làng D, xã I, tỉnh Gia Lai
thì gặp lực lượng Biên phòng Ia O. Thấy L biểu hiện nghi vấn kiểm tra thì phát
hiện số ma tuý mà L cất giấu trong bảo hiểm nên Biên phòng Ia O đã lập biên
bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành tạm giđối với Ksor L; tạm giữ 01 gói
giấy bạc bên trong 02 gói nilon, bên trong các gói nilon chứa chất tinh thể màu
trắng (được niêm phong theo quy định), Ksor L khai nhận ma tuý đá, mục đích
cất G để sử dụng; tạm giữ 01 bảo hiểm màu xám, dán tem ghi chữ
QUATEST 3R, không kính, dây quai màu đen, bên trong lót xốp (đã qua
sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max, màu vàng đồng (đã
qua sử dụng) và 01 điện thoại di động hiệu Realme, kiểu máy RMX3760, màu vàng
(đã qua sử dụng); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, không có biển
kiểm soát.
Tại Kết luận giám định số 16/KL-KTHS ngày 09/7/2025, Phòng K1 Công an
tỉnh G kết luận: Toàn bộ chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong 02 gói nilon bên
trong 01 gói giấy bạc đựng trong thư niêm phong gửi giám định ma tuý, loại
Methamphetamine, khối lượng 0,4522 gam.
Tại Bản án hình sự thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 27/01/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 9 – Gia Lai đã xử phạt Ksor L 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ
luật Hình sự; vphần xử vật chứng, trả lại cho Ksor L 01 xe nhãn hiệu
Honda Air Blade màu đen, không có biển kiểm soát, đã qua sử dụng. Ngoài ra, bản
3
án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý các vật chứng khác, án phí và quyền kháng
cáo theo luật định.
Ngày 24/02/2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Công ty T
(gọi tắt F) đơn kháng cáo yêu cầu giao xe Honda Air Blade số máy
JK14E0546560, số khung RLHJK1402SZ317033 cho FE Credit quản lý và thanh
tài sản theo quy định để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ksor L hoặc bán đấu giá, phát
mãi tài sản để thanh toán số tiền vay cho công ty.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng
hình sự, không chấp nhận kháng cáo của F, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần xử
lý vật chứng đối với xe mô tô Honda Air B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trước khi xét xử phúc thẩm, Ksor L đã có đơn xin xét xử vắng mặt đngày
17/3/2026; ông Huỳnh Thanh K (người đại diện hợp pháp của F) cũng đã các đơn
xin xét xử vắng mặt đề ngày 22/4/2026 ngày 11/5/2026, đồng thời ông K cũng đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng cho bán đấu giá, phát
mãi tài sản xe mô tô Honda Air Blade để trả cho F số tiền mà Ksor L đã vay.
Xét thấy, Ksor L, ông K đã có bản khai cụ thể, rõ ràng thể hiện trong hồ sơ vụ
án việc vắng mặt của những người nêu trên không làm ảnh hưởng đến việc xét
xử, giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Ksor L và ông K theo quy định.
[2] Vào ngày 05/7/2025, Ksor L đã mua 1.700.000 đồng ma tuý loại
Methamphetamine và lấy ra một ít để sử dụng một mình tại nhà ở làng B, xã I, tỉnh
Gia Lai. Còn lại, Ksor cất giấu 02 gói ma tuý tổng khối lượng 0,4522 gam
trong bảo hiểm nhằm mục đích để sdụng bị lực lượng Biên phòng Ia O kiểm
tra bắt quả tang vào ngày 06/7/2024.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai đã xét xử Ksor L về tội “Tàng trữ
trái phép chất ma y” theo điểm c khoản 1 Điều 249 căn cứ, đúng quy định
của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án FE
Credit về phần xử lý vật chứng đối với xe mô tô Honda Air Blade, Hội đồng xét xử
phúc thẩm thấy rằng:
Ngày 27/5/2025, Ksor L mua trả góp xe mô tô Honda Air Blade có số máy
JK14E0546560, số khung RLHJK1402SZ317033 tại cửa hàng xe máy Kiên N với
giá 49.500.000 đồng. Trong cùng ngày, F Ksor L đã hợp đồng tín dụng số
20250527-0960569 với nội dung FE Credit cho L vay 36.777.000 đồng (đã bao
gồm bảo hiểm ntín dụng 2.277.000 đồng) để mua trả góp xe nêu trên,
thời hạn vay 12 kỳ, khoản trả hàng tháng 3.686.000 đồng (ngày 08 hàng tháng)
4
và hợp đồng thế chấp xe mô tô trên. Cửa hàng đã nhận đủ số tiền 15.000.000 đồng
từ K 34.500.000 đồng giải ngân từ F. Tính đến ngày 06/10/2025, Ksor L mới
thanh toán cho FE Credit 01 kỳ vào ngày 23/6/2025 với số tiền 3.686.000 đồng,
còn nợ FE Credit số tiền 38.186.465 đồng (trong đó nợ gốc là 34.600.142 đồng, tiền
lãi và phí để tất toán hợp đồng là 3.586.323 đồng). Cho đến nay, cửa hàng vẫn chưa
làm thủ tục cấp giấy đăng ký xe biển số xe cho Ksor V không liên lạc được
với Ksor Lê .
Xét thấy, mặc dù giữa Ksor L F ký hợp đồng tín dụng và thế chấp xe mô
nêu trên nhưng tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của người vay (tức K). Trong
vụ án này, xe mô tô H không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên căn cứ các
Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án
cấp sơ thẩm đã trả lại cho chủ sở hữu (K) xe mô tô trên là đúng quy định.
Do đó, FE Credit kháng cáo yêu cầu giao xe tô cho FE Credit quản
thanh lý tài sản theo quy định để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ksor L hoặc bán đấu
giá, phát mãi tài sản đthanh toán số tiền vay cho FE Credit không phù hợp với
nhận định trên. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan đến hợp đồng
tín dụng và thế chấp xe nêu trên sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có đơn
khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên
bản án thẩm phần xử lý vật chứng đối với xe nhãn hiệu Honda Air Blade
nên F phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án Công ty T. Giữ nguyên bản án hình sự thẩm số 06/2026/HS-ST ngày
27/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai về phần xử lý vật chứng.
2. Trả lại cho Ksor 0 (một) xe nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen,
không biển kiểm soát, số khung RLHJK1402SZ317033, số máy JK14E-0546560,
không phần nhựa bên phía trước, đã qua sdụng (theo biên bản giao nhận vật
chứng, tài sản ngày 26/01/2026 giữa quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G
Phòng thi hành án dân sự khu vực 9, tỉnh Gia Lai).
3. Về án pdân sự phúc thẩm: Công ty T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng).
5
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 9 Gia Lai;
- VKSND khu vực 9, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 9, tỉnh Gia Lai;
- Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
Nguyễn Tiến Sỹ
Tải về
Bản án số 50/2026/HS-PT Bản án số 50/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 50/2026/HS-PT Bản án số 50/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất