Bản án số 52/2026/HS-PT ngày 27/05/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 52/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 52/2026/HS-PT ngày 27/05/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 52/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vo Duc L - Trộm cắp tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 52/2026/HS-PT
Ngày 27 - 5 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Lam
Các Thẩm phán: Ông Trương Nam Trung
Ông Ung Quang Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Thị Kiều Ngân Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 75/2026/TLPT-HS ngày 28 tháng 4 năm
2026 đối với bị cáo Võ Đức L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự
thẩm số: 30/2026/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2
Gia Lai.
Bị cáo có kháng cáo:
Đức L, sinh ngày 09/12/1985 tại tỉnh Bình Định (nay tỉnh Gia Lai); số
căn cước công dân: 052085055694; nơi cư trú: Khu phố L, phường Q, tỉnh Gia Lai;
nghề nghiệp: Công nhân xây dựng; trình độ học vấn: 9/12, dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đức T (chết) Nguyễn
Thị H (chết); vợ: Đồng Thị H1, sinh năm 1995; con: 03 con, lớn nhất sinh năm
2017 nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/02/2024, bị
Trưởng Công an thành phố Q, tỉnh Bình Định (cũ) xử phạt vi phạm hành chính
2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành xong quyết định xử
phạt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú từ ngày
10/11/2025 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do thiếu tiền tiêu xài nên khoảng 08 giờ 00 phút ngày 09/10/2025, Đức L
điều khiển xe không gắn biển kiểm soát (xe số khung 79Y-113190, số máy
2
HC12E-1314062) đến công trình khu nhà ở kết hợp chỉnh trang đô thị N - B đường
T thuộc thôn V, xã T, tỉnh Gia Lai với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến đường
tông ven bờ đê sông H, L đi bộ theo đường đất vào khu vực công trình rồi đến
kho chứa vật tư, thiết bị của ông Nguyễn T1 (là kỹ xây dựng, người quản tài
sản của công trình) lấy 01 cây búa và 01 cây xà beng có sẵn tại khu vực công trình,
cạy phá khóa cửa kho, lén lút đột nhập vào bên trong, lấy trộm 01 máy hàn điện lớn
01 máy thủy lực cắt sắt màu xanh. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, L mang số
tài sản trên đến cất giấu tại công trình nơi L đang làm việc hẻm D đường H, phường
Q, tỉnh Gia Lai. Do máy hàn hoạt động kém, L mang đến Cửa hàng Đ tại số G đường
T, phường Q, tỉnh Gia Lai để sửa chữa. Đến khoảng 04 giờ 00 phút ngày 10/10/2025,
L tiếp tục điều khiển xe nêu trên quay lại kho công trình. Do cửa kho đã bị
cạy phá từ trước nên L lẻn vào bên trong tiếp tục lấy trộm 01 máy cắt gỗ, 01 máy
cắt sắt cầm tay, 01 máy khoan bê tổng và 01 cuộn dây điện cho vào 02 bao nhựa rồi
mang về cất giấu tại hẻm D đường H.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã thu hồi và trả lại cho ông T1 toàn
bộ các tài sản bị trộm cắp nêu trên; ông T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường
thêm.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 05/11/2025, Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã T đã kết luận giátrị các tài sản tại thời điểm
bị trộm cắp như sau: 01 máy cắt thủy lực trị giá 4.125.000 đồng, 01 máy hàn điện
lớn trị giá 1.688.000 đồng, 01 máy cắt gỗ trị giá 300.000 đồng, 01 máy khoan
tông trị giá 825.000 đồng, 01 máy cắt sắt cầm tay trị giá 300.000 đồng, 01 cuộn dây
điện dài 30m, lõi 4mm trị giá 225.000 đồng; tổng giá trị tài sản bị cáo đã trộm
cắp trong 02 ngày là 7.463.000 đồng.
Tại Bản án hình sthẩm số 30/2026/HS-ST ngày 18/3/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 2 – Gia Lai đã căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm
g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L 12 tháng tù về tội
“Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, bản án thẩm n quyết định về phần án phí và quyền
kháng cáo theo quy định.
Ngày 31/3/2026, bị cáo L kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo L thay đổi yêu cầu kháng cáo, xin giảm nh
hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị
chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt không chấp nhận kháng cáo xin
được hưởng án treo của bị cáo L, sửa bản án thẩm về phần hình phạt đối với bị
cáo, giảm cho bị cáo L 03 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
3
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bcáo trong hồ
sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào sáng ngày 09/10/2025 và rạng sáng ngày
10/10/2025, bị cáo Võ Đức L đã có hành vi lén lút trộm tài sản của ông Nguyễn T1
tại công trình khu nhà ở kết hợp chỉnh trang đô thị N - B đường T thuộc thôn V, xã
T, tỉnh Gia Lai với tổng giá trị tài sản bị cáo đã trộm cắp trong 02 ngày là
7.463.000 đồng; trong đó: Tài sản bị trộm cắp trong ngày 09/10/2025 là 01 máy cắt
thủy lực trị giá 4.125.000 đồng 01 máy hàn điện lớn trị giá 1.688.000 đồng; tài
sản bị trộm cắp trong ngày 10/10/2025 01 máy cắt gtrị giá 300.000 đồng, 01
máy khoan tông trị giá 825.000 đồng, 01 máy cắt sắt cầm tay trgiá 300.000 đồng,
01 cuộn dây điện trị giá 225.000 đồng. Sau khi vụ việc bị phát hiện, tài sản đã được
thu hồi và trả lại cho bị hại.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai đã xét xử bị cáo Võ Đức L về tội
“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự căn cứ, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Bị cáo nhận thứchành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở
hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội,
bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần xử nghiêm, tương
xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo
Võ Đức L, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày
07/02/2024, chưa chấp hành xong quyết định xử phạt tiếp tục thực hiện hành vi
trộm cắp tài sản vào hai ngày 09 và ngày 10/10/2025 nên bị cáo bị áp dụng tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản
1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51
của Bộ luật Hình sự. Sau khi sự việc bị phát hiện, bị hại ông Nguyễn T1 đã nhận lại
tài sản; tại cấp phúc thẩm, ông T1 tiếp tục đơn xin bãi nại, xin cho bị cáo được
hưởng án treo đồng thời bị cáo cung cấp thêm đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia
đình bị cáo rất khó khăn, vợ bị cáo thường xuyên đau ốm, 03 con của bị cáo còn nhỏ,
đang độ tuổi đi học (có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Q, tỉnh Gia Lai) nên
bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự.
Xét thấy tại cấp phúc thẩm, bị cáo phát sinh thêm tình tiết giảm nhẹ mới mà
chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét; căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành
vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo
L, giảm cho bị cáo một phần hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe phòng ngừa
chung.
4
Bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày
07/02/2024 tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo chưa chấp hành xong quyết
định xphạt nên căn cứ Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo
không đủ điều kiện được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
[3] Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo L không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề
nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo L, sửa bản án thẩm
về phần hình phạt đối với bị cáo, giảm cho bị cáo L 03 tháng tù là phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1
Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 2 Điều
23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không chấp nhận kháng cáo
xin được hưởng án treo của bị cáo Đức L. Sửa bản án thẩm số 30/2026/HS-
ST ngày 18/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 Gia Lai về phần hình phạt đối
với bị cáo Võ Đức L.
2. Xử phạt bị cáo Võ Đức L 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Đức L không phải chịu.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 2 Gia Lai;
- VKSND khu vực 2, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 2, tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
Phạm Duy Lam
Tải về
Bản án số 52/2026/HS-PT Bản án số 52/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 52/2026/HS-PT Bản án số 52/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất