Bản án số 49/2026/HS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 49/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 49/2026/HS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 49/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyen Thi Ly L - Công nhiên chiếm đoạt tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 49/2026/HS-PT
Ngày 20 - 5 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sinh
Ông Lưu Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Nguyễn Hoàng Yến Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 39/2026/TLPT-HS ngày 09 tháng 3 năm
2026 đối với bị cáo Nguyễn Thị Ly L cùng các bị cáo khác do kháng cáo của các
bị cáo đối với Bản án hình sự thẩm số: 11/2026/HS-ST ngày 27 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 Gia Lai.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thị Ly L, sinh ngày 01/02/1997 tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia
Lai); số căn cước công dân: 052197001094; nơi cư trú: Thôn T, xã C, tỉnh Gia Lai;
nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1966 Trần
Thị H, sinh năm: 1964; chồng: Ngô Văn L1: sinh năm: 1993; con: 03 con, lớn
nhất sinh năm 2017 và nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/6/2025 cho đến nay. Có mặt
tại phiên tòa.
2. Trần Thị Đ, sinh ngày 01/01/1972 tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai);
số căn cước công dân: 052172028967; nơi cư trú: Thôn T, xã C, tỉnh Gia Lai; nghề
nghiệp: Nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần S (chết) Nguyễn Thị M (không xác định
được năm sinh); chồng: Nguyễn Xuân H1, sinh năm: 1969; con: 03 con, lớn nhất
sinh năm 1998 và nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi ttừ ngày 29/6/2025 cho đến nay. mặt tại
phiên tòa.
2
3. Trương Thị X, sinh ngày 01/01/1976 tại tỉnh Bình Định (nay tỉnh Gia Lai);
số căn cước công dân: 052176001633; nơi cư trú: Thôn T, xã C, tỉnh Gia Lai; nghề
nghiệp: Nông; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Ngọc H2 (chết) Thị Đ1 (chết); chồng:
Nguyễn Văn C, sinh năm: 1968; con: 04 con, lớn nhất sinh năm 1990 nhỏ
nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi
khỏi nơi cư trú từ ngày 29/6/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo:
1. Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thị Ly L, Trương Thị X Trần Thị
Đ: Ông Phan Quang H3 Luật đang hoạt động tại Công ty L2 thuộc Đoàn luật
sư tỉnh G; địa chỉ: Số B đường Đ, phường Q, tỉnh Gia Lai (Có mặt)
2. Bị hại: Ông Ca Văn D, sinh năm: 1970 bà Lê Thị T, sinh năm: 1972; đồng
cư trú tại: Thôn T, xã C, tỉnh Gia Lai (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/12/2023, vợ chồng ông Ca Văn D và bà Lê Thị T thuê nhân công đến
cắt keo tại khu vực có tục danh “Đất bà H4” thuộc thửa đất số 667, tờ bản đồ số 01
(tờ bản đồ địa chính lâm nghiệp) tọa lạc tại thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định
(nay thôn T, C, tỉnh Gia Lai) (viết tắt thửa đất số 667) đối với diện tích gỗ
keo được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định (cũ) (viết tắt
CCTHADS huyện V) cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền trên đất vào ngày 11/01/2022 theo Bản án số 01/2021/DS-ST ngày 26/02/2021
của Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định (cũ) (viết tắt là Bản án số 01)
Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc nhân công đang cưa, lột keo
bốc keo lên xe máy cày thì Trương Thị X, Trần Thị Đ, Nguyễn Thị Ly L ng đến
ngăn cản, không cho nhân công tiếp tục làm việc và yêu cầu đổ skeo đã bốc lên xe
máy cày xuống. Lúc này, T biết tin nên đã đến khu vực trên và nói với Đ, X, L
rằng đợi báo cáo với Công an đến giải quyết. Sau đó, T gọi điện cho ông D đi báo
Công an rồi T đi về nhà. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, thấy không có ai đến
thì Đ, X, L đã thống nhất cùng nhau gọi xe máy cày của ông Nguyễn Văn P ở cùng
địa phương đến và thuê số công nhân đang làm cho vợ chồng ông D bốc số gỗ keo
đã khai thác lên xe máy cày, rồi yêu cầu ông P chở đến Công ty Trách nhiệm hữu
hạn H5 (viết tắt là Công ty H5) thôn H, xã C, tỉnh Gia Lai để bán. Sau đó, L đến
Công ty H5 nhận phiếu cân gỗ 3.930kg quay về trả tiền cho công nhân bốc keo
lên xe 300.000 đồng. Một tuần sau, L cầm phiếu cân gỗ đến Công ty H5 lấy tiền
bán keo là 5.226.900 đồng. L đã trả tiền thuê xe cho ông P là 570.000 đồng, trả tiền
cưa lột vỏ keo cho công nhân 800.000 đồng, chia cho Đ X mỗi người
1.200.000 đồng, số tiền còn lại L giữ.
Cuối tháng 01/2024, X, Đ, L gặp nhau bàn bạc thống nhất gọi nhân công
tiếp tục đến cắt keo tại khu vực “Đất H4”. Ngày 31/01/2024, Đ, X, L gọi nhân
3
công đến cưa, lột keo gọi xe đến chở đi bán. Do không đường cho xe chở gỗ
keo ra nên L đã nói với Trương Thị S1 cho cắt một đường trên đám keo đất
của S1 để làm đường cho xe chở keo đi ra S1 đồng ý. Trên thực tế, phần
đất này cũng nằm trong diện tích đất của ông D thuê nêu trên, do S1 đã lấn chiếm
đất của ông D. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, T phát hiện đang có nhân công
cưa và bốc gỗ keo lên xe máy cày tại khu vực “Đất bà H4của gia đình nên đã gọi
cho ông D để trình báo sự việc cho Công an xã C (cũ). Đến 10 giờ cùng ngày, Công
an xã C (cũ) đến lập biên bản cho tạm dừng khai thác và hai bên thỏa thuận cho xe
chở gỗ keo đã cưa đến Công ty H5 cân gỗ, lấy phiếu cân giao nộp cho Công an
để giải quyết vụ việc. Kết quả khối lượng gỗ keo mà X, Đ, L đã cho nhân công khai
thác là 5.520kg, giá trị là 7.341.600 đồng; phần gỗ keo nhân công cưa trên đất
S1 tranh chấp với ông D là 1.430kg, có giá trị là 1.901.900 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 14/3/2025, Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V (cũ) kết luận:
- Tại thời điểm định giá tháng 12/2023: 3,93 tấn gỗ keo thu hoạch ngày
27/12/2023 (cây keo lúc thu hoạch đường kính nhỏ nhất là 10cm, lớn nhất
26cm, có thời gian trồng trên đất là 05 năm) có giá trị 5.226.900 đồng.
- Tại thời điểm định giá ngày 03/10/2024: 5,52 tấn gỗ keo thu hoạch ngày
31/01/2024 độ tuổi 05 tuổi, cây keo lúc thu hoạch đường kính nhỏ nhất
10cmlớn nhất là 26cm giá trị 7.341.600 đồng; 1,43 tấn gỗ keo thu hoạch ngày
31/01/2024 độ tuổi 05 tuổi, cây keo lúc thu hoạch đường kính nhỏ nhất
10cm và lớn nhất là 26cm có giá trị 1.901.900 đồng.
Vợ chồng ông D, T yêu cầu các bị cáo Đ, X, L bồi thường số tiền 5.226.900
đồng và xin nhận số tiền 9.243.500 đồng.
Tại Bản án hình sự thẩm số 11/2026/HS-ST ngày 27/01/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 2 Gia Lai đã căn cứ khoản 1 Điều 172, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm
g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo L X 09 tháng tù về tội
“Công nhiên chiếm đoạt tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 172, các điểm s, x khoản 1
Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đ 06 tháng tù
về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về
phần trách nhiệm dân sự, xử vật chứng, án phí, nghĩa vthi hành án quyền
kháng cáo theo quy định.
Ngày 04/02/2026, các bị cáo X, Đ, L kháng cáo yêu cầu xem xét lại phần trách
nhiệm hình sự của bản án sơ thẩm.
Tại phiên tphúc thẩm, các bị cáo X, Đ, L thừa nhận hành vi phạm tội của
mình như nội dung của bản án thẩm thay đổi nội dung kháng cáo, xin giảm
nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai căn cứ
điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo X, Đ, L; giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
4
Tại phiên toà phúc thẩm, người bào chữa của các bị cáo X, Đ, L đề nghị xem
xét lại hành vi “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm
xử phạt các bị cáo tội danh nêu trên chưa phù hợp đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm xét xử vụ án theo đúng quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của các bị cáo, bị hại tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị
cáo, bị hại có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở
xác định:
[1.1] Vào năm 1994, các hộ gia đình Trần Thị H Nguyễn Văn B (là cha m
bị cáo Nguyễn Thị Ly L), Trương Thị X Nguyễn Văn C Trần Thị Đ Nguyễn
Xuân H1 đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhiều
thửa đất khác nhau, trong đó hộ ông B được cấp thửa đất số 327A, cấp cho hộ ông
C thửa đất số 327B và cấp cho hộ ông H1 thửa đất số 327C cùng thuộc tờ bản đồ s
07, diện tích 1.600m
2
/thửa, loại đất BHK tại thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định
(nay là thôn T, xã C, tỉnh Gia Lai). Thực hiện dự án xây dựng công trình hồ C tại
C (đợt C), hạng mục Bãi vật liệu số 7, các thửa đất 327A, B, C đã bị thu hồi toàn
phần và theo hồ thu hồi, bồi thường đất (bút lục 160) thể hiện các ông B, C, H1
đã nhận tiền bồi thường vào ngày 14/01/2005 (các ông B, C, H1 người nhận
số tiền 6.160.000 đồng/người). Như vậy, tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất, các h
H B, X C, Đ - H1 (là những người sử dụng đất) đã chấm dứt quyền sử dụng đất
đối với các thửa đất 327A, B, C; các thửa đất còn lại trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất không bị thu hồi đất vẫn được nhà nước gia hạn thời hạn sử dụng đất theo
quy định. Hiện nay, các thửa đất 327A, B, C đã được chỉnh lý thành thửa đất số 667
và do Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã quản lý.
Ngày 18/02/2019, UBND huyện V (cũ) đã ban hành các quyết định giao cho
07 người dân (trong đó ông D) thuê 07 thửa đất thuộc thửa đất s667 để trồng
cây lâu năm, thời hạn sử dụng đất là 05 năm. Sau đó, ông D đã thuê lại 06 thửa đất
còn lại, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất được UBND C (cũ) công chứng ngày
25/5/2020. Khi ông D chuẩn bị mua keo giống về trồng tại các thửa đất đã thuê nêu
trên thì có 05 gia đình, trong đó có vợ chồng H B, X C, Đ H1 mua keo giống
vào trồng trên một phần diện tích đất ông D đã thuê. Ông D đã khởi kiện đến
Tòa án nhân dân huyện Vân Canh (cũ) vào năm 2020, yêu cầu 03 gia đình trên trả
lại diện tích đất đã lấn chiếm 4.722m
2
thuộc một phần thửa đất số 667. Tại Bản án
số 01, Tòa án nhân dân huyện Vân Canh (cũ) đã tuyên xử buộc vợ chồng H B, X
C, Đ H1 phải trả lại cho ông D diện tích đất đã lấn chiếm 4.722m
2
; giao cho ông
D được quyền sở hữu toàn bsố cây keo trồng trên diện tích đất đang tranh chấp,
ông D nghĩa vụ trả cho những người nêu trên số tiền 11.750.000 đồng (tương
đương 840 cây keo). Tại phiên tòa tòa thẩm ngày 26/02/2021, các bị cáo X, Đồng
đều mặt tại Bản án số 01 đã thể hiện cụ thể các nội dung về nguồn gốc diện
tích đất đang tranh chấp, trình tự, thủ tục thu hồi đất cũng như việc vợ chồng ông D
5
được nhà nước cho thuê đất. Sau khi xét xử sơ thẩm, do không có kháng cáo, kháng
nghị nên Bản án số 01 đã có hiệu lực pháp luật và CCTHADS huyện V (cũ) đã thực
hiện việc thi hành bản án theo quy định nhưng 03 gia đình trên không tự nguyện thi
hành nghĩa vụ của mình cũng như không nhận tiền thi hành án, CCTHADS huyện
V (cũ) đã áp dụng biện pháp cưỡng chế giao tài sản cho ông D đồng thời gửi ngân
hàng các khoản tiền ông D đã nộp theo bản án. Hồ thi hành án cũng đã thể
hiện quan thi hành án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản thi hành án nhưng
gia đình của 03 bị cáo không nhận nên đã lập biên bản theo quy định. Tại các
biên bản lấy lời khai tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo
X, Đ cũng đều thừa nhận biết việc nhà nước thu hồi đất, các bị cáo tham gia
phiên tòa nghe kết quả xét xử của phiên tòa ngày 26/02/2021, mặc không đồng
ý với bản án nhưng không kháng cáo và khi cơ quan thi hành án mời gia đình các bị
cáo đến nhận tiền nhưng không đồng ý nhận tiền. Ngoài ra, bị cáo L không liên
quan đến diện tích đất đang tranh chấp vì thửa đất số 327A được Nhà nước cấp cho
cha mẹ của bị cáo, bị cáo cho rằng đã được cha mẹ cho đất nhưng không cung cấp
được văn bản tặng cho, chuyển nhượng theo quy định.
[1.2] Vào ngày 27/12/2023 và 31/01/2024, các bị cáo L, Đ, X không có ý thức
che giấu đã có hành vi công khai thuê công nhân khai thác và chiếm đoạt tài sản
số gỗ keo của vợ chồng ông D, T tại khu vực đất tục danh “Đất H4thuộc
thửa đất số 667; cụ thể:
- Ngày 27/12/2023, các bị cáo đã có hành vi ngăn cản công nhân do ông D, bà
T thuê khai thác keo tại khu vực đất nêu trên. Sau đó, bà T đến và gọi điện cho ông
D để báo Công an giải quyết nhưng chờ lâu không thấy ai đến giải quyết nên 03 bị
cáo đã thuê xe máy cày đến và thuê số công nhân đang có mặt tại nơi xảy ra vụ việc
bốc số gỗ keo trên lên xe chở đi bán cho Công ty H5. Số gỗ keo bị chiếm đoạt trong
ngày 27/12/2023 là 3,93 tấn, có giá trị 5.226.900 đồng.
- Ngày 31/01/2024, các bị cáo tiếp tục hành vi thuê công nhân công khai đến
khai thác keo tại khu vực đất trên của ông D, bà T. Trong lúc khai thác keo, T
đến ngăn cản và sau đó Công an xã C (cũ) đến lập biên bản cho tạm dừng khai khác
và hai bên thỏa thuận cho xe chở gỗ keo đã khai thác mang đến Công ty H5 cân gỗ,
lấy phiếu cân để giải quyết vụ việc. Số gỗ keo bị các bị cáo chiếm đoạt trong ngày
31/01/2024 là 5,52 tấn, có giá trị 7.341.600 đồng.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc người bào chữa cho các bị cáo yêu cầu
xem xét lại hành vi “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” của các bị cáo nhưng các bị cáo
đều thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Như vậy, xuất phát từ việc không đồng ý với quyết định của Tòa án nhân dân
huyện Vân Canh (cũ) tại Bản án số 1 (đã có hiệu lực pháp luật), các bị cáo L, Đồng
X1 đã hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản của vợ chồng ông D, T như đã
nêu trên; tổng gtrị tài sản 03 bị cáo đã chiếm đoạt 12.568.500 đồng. Tại thời
điểm thực hiện hành vi khai thác keo nêu trên, các bị cáo không còn quyền sử dụng
đất cũng như quyền sở hữu số cây keo tại khu vực đất tục danh “Đất bà H4thuộc
6
thửa đất số 667 nên hành vi của 03 bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Công nhiên
chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 172 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 2 Gia Lai đã xét xử các bị cáo L, Đồng X1
về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 172 của Bộ luật Hình sự
là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa không phù hợp với
nhận định trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[2] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của
người khác, gây mất trật tự tại địa phương nên cần phải xử nghiêm nhằm răn đe
và phòng ngừa chung.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo L, X1, Đ; Hội đồng
xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Các bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở
lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều khai nhận đầy đủ,
đúng sự thật, chính xác, ràng về hành vi của mình, tại cấp sơ thẩm mặc dù các bị
cáo không thừa nhận hành vi của các bị cáo sai nhưng tại cấp phúc thẩm, các bị
cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nhận thức được hành vi của mình
sai và xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người
phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51
của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Đ con Liệt sĩ nên bị cáo được áp dụng thêm
tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo
L 03 con, lớn nhất sinh năm 2017 nhỏ nhất sinh năm 2023, đang độ tuổi đi
học, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Tòa án
cấp sơ thẩm chưa xem xét tình tiết giảm nhẹ nêu trên nên Hội đồng xét xáp dụng
thêm cho bị cáo L.
Ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã liệt kê thì các bị cáo không cung cấp thêm tình
tiết giảm nhẹ nào khác tại cấp phúc thẩm.
Từ những phân tích trên, căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm
tội, nhân thân các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã
nêu trên, Tòa án cấp thẩm đã xử phạt các bị cáo L, X1 09 tháng tù, bị cáo Đ 06
tháng tù là phù hợp, đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét
xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đ,
L, X1; giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo.
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên
bản án sơ thẩm nên các bị cáo L, X1 và Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
7
Căn cứ khoản 1 Điều 172, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1
Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Ly L.
Căn cứ khoản 1 Điều 172, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52,
Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Thị X.
Căn cứ khoản 1 Điều 172; các điểm s, x khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều
52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị Đ.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều
23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Ly L, Trương Thị X
Trần Thị Đ. Giữ nguyên bản án hình sự thẩm số 11/2026/HS-ST ny
27/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai về phần hình phạt đối với các
bị cáo.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ly L 09 (chín) tháng về tội “Công nhiên chiếm
đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
3. Xử phạt bị cáo Trương Thị X 09 (chín) tháng về tội “Công nhiên chiếm
đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
4. Xử phạt bị cáo Trần Thị Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt
tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Thị Ly L, Trương Thị X
và Trần Thị Đ mi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
6 Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 2 Gia Lai;
- VKSND khu vực 2, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 2, tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
Nguyễn Tiến Sỹ
Tải về
Bản án số 49/2026/HS-PT Bản án số 49/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 49/2026/HS-PT Bản án số 49/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất