Bản án số 47/2026/HS-PT ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 47/2026/HS-PT ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 47/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Phan Minh T - Đánh bạc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 47/2026/HS-PT
Ngày 19 - 5 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Ông Trương Nam Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan
Hòa Hiệp Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 45/2026/TLPT-HS ngày 10 tháng 3 năm
2026 đối với bị cáo Phan Minh T do kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình s
thẩm số: 13/2026/HS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân n khu
vực 2 – Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phan Minh T, sinh ngày 27/9/1988 tại tỉnh Bình Định (naytỉnh Gia Lai); số
căn cước công dân: 052088014294; trú tại: Tổ dân phố T, phường A, tỉnh Gia
Lai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Ngọc T1 (chết) và bà Thiệu Thị H,
sinh năm 1947; vợ: Trần Thị Cẩm T2, sinh năm 1992; con: 01 con sinh năm
2014; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 05/7/2019, bị Công an thị xã A, tỉnh Bình Định (cũ) xử phạt vi phạm
hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
- Ngày 04/5/2020, bị Toà án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là
Tòa án nhân dân khu vực 2 Gia Lai) xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về
tội “Đánh bạc”, đã được xóa án tích.
Bị tạm giữ từ ngày 27/4/2025 đến ngày 05/5/2025 được thay đổi biện pháp
ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2
- Người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo:
Người bào chữa cho bị cáo Phan Minh T: Ông Nguyễn D Luật sư đang hoạt
động tại ng ty L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: Số D đường T, phường
A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Ngoài ra, còn có các bị cáo Nguyễn Hoàng T3, Phan Thị Mai P, Lê Thanh D1
không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; các bị cáo Dương Hoài V
và Phạm Minh T4 có kháng cáo nhưng đã có văn bản về việc rút toàn bộ kháng cáo
trước khi mphiên tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã đình chỉ việc xét
xử phúc thẩm đối với 02 bị cáo nêu trên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 27/4/2025, Dương Hoài V nhờ Nguyễn Văn T5
chở đến ngôi nhà hoang thuộc tổ dân phố N, phường A, tỉnh Gia Lai với mục đích
tổ chức đánh bạc nhưng không nói cho T5 biết. Tại đây, trong lúc T5 ngồi chơi điện
thoại, V gọi điện cho Phạm Minh T4, Phan Minh T, Thanh D1, Nguyễn Hoàng
T3 rủ đến ngôi nhà hoang để đánh bạc và những người này đồng ý. Trong lúc đợi
T4, T, D1, T3 đến tcó 03 người không nhân thân, lai lịch cũng đến để đánh bạc
nhưng không biết ai chỉ đến. Sau đó, T4 điều khiển xe mô biển kiểm soát 93P1-
43974 đến điểm hẹn, do chưa có đánh bạc nên ngồi chơi điện thoại. Sau đó, T gọi V
nhờ chở đến điểm hẹn nên V nhờ T5 chở giúp. Sau khi T5 đi, V lấy bộ bầu cua đặt
dưới sàn nhà thì T4 đến lấy bộ bầu cua ngồi xóc. Lúc T4 xóc thì 03 người không rõ
nhân thân, lai lịch tham gia đặt cược. Sau đó, lần lượt D1 điều khiển xe mô tô biển
kiểm soát 77F1-157.28 đến, T được T5 chở đến. Thấy T4 đang cầm cái xóc bầu cua
nên T cùng tham gia đặt cược với T4 những người khác; còn V, T5, D1 không
đặt cược. chỉ mang số tiền 630.000 đồng nên T4 không cho người chơi đặt lớn.
Thấy vậy, T lấy số tiền 2.000.000 đồng để tham gia đặt cược, còn số tiền 11.000.000
đồng Triều cất túi riêng để sử dụng mua tủ thờ cho ba của mình. Đến khoảng 18 giờ
00 phút cùng ngày, khi T4 cầm cái c được khoảng 04 -05 ván thì hoà vốn nên nghỉ
đi ăn tối. Do không người cầm cái, cả nhóm ngồi chơi đợi V gọi thêm người chơi
đến đặt cược, lúc này 01 người không nhân thân, lai lịch đi vtrước. Đến
khoảng 19 giờ cùng ngày, vì đợi lâu không thấy ai đến cầm cái nên T hỏi V cho T
cầm cái và trả tiền thuê địa điểm với giá 1.500.000 đồng/60 phút để xóc bầu cua cho
những người chơi đặt cược. Sau đó, T4 quay lại để tiếp tục đánh bạc, Phan Thanh
H1 đến tìm người và chơi với V, Nguyễn Hoàng T3 điều khiển xe mô tô biển kiểm
soát 77F1-224.56, Phan Thị Mai P điều khiển xe mô biển kiểm soát 77X9-9980
đến cùng tham gia đặt cược với T, D1, T4 02 người không nhân thân, lai
lịch.
Cách thức đánh bạc như sau: Khi bắt đầu mỗi ván chơi, T bỏ 03 hột bầu cua
hình khối (gồm 06 mặt, mỗi mặt có in các hình gồm: quả bầu, con cua, con tôm, con
cá, con con nai) trên đĩa nhôm, dùng thau nhôm úp lại để không ai nhìn thấy
3
03 hột bầu cua. Sau đó, T xóc mạnh bộ đĩa, thau nhôm cho các hột bầu cua bên trong
lăn ngẫu nhiên rồi đặt thau nhôm trên bàn bầu cua (được làm từ nhựa dẻo màu trắng
có in hình bầu, con cua, con tôm, con cá, con gà và con nai ở 06 vị trí khác nhau) để
những người chơi khác đặt cược tiền. Sau đó, những người tham gia đánh bạc khác
lần lượt đặt tiền cược lên bầu cua tại vị trí tương ứng với hình 06 mặt của hột bầu
cua. Khi có người đặt tiền trên bàn bầu cua thì người khác có thể dời, tả (tức chuyển
tiền của người đã đặt trước sang ô khác). Sau khi những người chơi đặt cược và dời,
tả xong, T sẽ mở thau nhôm ra xem kết quả. Kết quả được xác định, ba mặt trên
cùng xuất hiện trên ba hột bầu cua, rồi T so sánh lấy stiền đặt cược các mặt
không xuất hiện trên các hột bầu cua và chung tiền cho những mặt xuất hiện theo tỉ
lệ 1:1 cùng với số lượng các mặt xuất hiện. Những người tả cũng dựa trên kết quả
này để tính tiền ăn thua với nhau.
Trong quá trình chơi, 02 người không xác định được nhân thân, lai lịch đi về
trước; T, D1, T3, T4, P đánh bạc đến 20 giờ 15 phút cùng ngày bị Tổ công tác Đội
4 Phòng C Công an tỉnh G kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc
gồm: 01 bộ dụng cụ xóc bầu cua (gồm 01 đĩa nhôm, 01 thau nhôm, 03 hột bầu cua
bằng xốp 01 bàn bầu cua được làm từ nhựa dẻo màu trắng in các hình bầu, con
cua, con tôm, con cá, con con nai 06 vị trí khác nhau), 41.100.000 đồng
(trong đó số tiền thu tại chiếu bạc 34.000.000 đồng số tiền các đối tượng xác
định sử dụng vào việc đánh bạc 7.100.000 đồng) bắt giữ 04 đối tượng T, D1,
T3 P. Riêng H1, V, T5 T4 bỏ trốn.
Tại Bản án hình sự thẩm số 13/2026/HS-ST ngày 27/01/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 2 – Gia Lai đã căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 khoản
2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T 09 tháng về tội “Đánh
bạc”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt đối với các bị cáo
V, T4, T3, P, D1; phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 28/01/2026, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tại phiên toà
phúc thẩm, bị cáo T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai căn cứ
điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đnghị không
chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình
phạt đối với bị cáo T.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo T đề nghị xem xét cho bị cáo được
hưởng án treo trong trường hợp bị cáo không được hưởng án treo thì đề nghị xem
xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ ván đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phợp với lời khai của bị cáo trong h
sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
4
Chiều ngày 27/4/2025 tại ngôi nhà hoang thuộc tổ dân phố N, phường A, tỉnh
Gia Lai, Dương Hoài V đã hành vi rủ rê, cung cấp địa điểm, công cụ đánh bạc để
Phạm Minh T4, Phan Minh T, Nguyễn Hoàng T3, Phan Thị Mai P, Thanh D1
thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi bầu cua, thắng thua bằng tiền với
tổng số tiền là 41.100.000 đồng.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai đã xét xử bị cáo V về tội “Tổ chức
đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bluật Hình sự và 05 bị cáo còn lại về
tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự căn cứ, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bcáo T nhận thức hành vi
đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý
thực hiện. Hành vi đánh bạc của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự
công cộng được nhà nước bảo hộ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật ttại địa
phương. Do đó, cần xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây
ra.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Minh T đnghị
cho bị cáo được hưởng án treo của người bào chữa cho bị cáo T, Hội đồng xét xử
phúc thẩm thấy rằng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bcáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có hoàn cảnh gia
đình khó khăn, lao động chính nuôi vợ bị bệnh con nhỏ nên được áp dụng
các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự.
Trong vụ án này, bị cáo vừa là người tham gia chơi lúc đầu và sau đó là người
cầm cái, đặt cược thắng thua bằng tiền, số tiền dùng để đánh bạc của bị cáo là nhiều
nhất. Bị cáo nhân thân xấu, đã từng bị quan Công an xphạt hành chính về
hành vi đánh bạc vào năm 2019 và sau đó tiếp tục bị Tòa án xử phạt về tội đánh bạc
vào năm 2020 nhưng không lấy đó làm tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Tại
cấp phúc thẩm, bcáo cung cấp thêm đơn xác nhận của Ủy ban nhân dân
phường A, tỉnh Gia Lai thể hiện là bị cáo thường xuyên dùng xe riêng của mình để
đưa lính của thôn về nơi tập kết tham gia nghĩa vụ quân sự tnăm 2021 đến năm
2025, bị cáo thường xuyên tham gia các hoạt động thể thao, giữ gìn trật tự chung,
giúp đỡ hàng xóm gải quyết khó khăn và Sổ lĩnh tiền trợ cấp hội của vợ bị cáo;
tuy nhiên, tình tiết giảm nhẹ này đều thuộc khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và
một phần đã được Tòa án cấp thẩm xem xét. Ngoài ra, bị cáo không cung cấp tình
tiết giảm nhẹ nào khác.
Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 09 tháng tù
tương xứng với tính chất, mức độ, nhân thân của bcáo nên không căn cứ để chấp
nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo đnghị cho bị cáo được hưởng
án treo của người bào chữa cho bị cáo T. Do đó, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án
thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo T, cách ly bị cáo ra khỏi hội một thời
gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
5
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên
bản án sơ thẩm nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38
của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều
23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Minh
T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2026/HS-ST ngày 27/01/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Phan Minh T.
2. Xử phạt bị cáo Phan Minh T 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn
chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian bị cáo
bị tạm giữ từ ngày 27/4/2025 đến ngày 05/5/2025.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phan Minh T phải chịu 200.000 đồng
(hai trăm nghìn đồng).
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 2 Gia Lai;
- VKSND khu vực 2, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 2, tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
Nguyễn Tiến Sỹ
Tải về
Bản án số 47/2026/HS-PT Bản án số 47/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 47/2026/HS-PT Bản án số 47/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất