Bản án số 90/2025/DS-ST ngày 26/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 90/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 90/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 90/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 90/2025/DS-ST ngày 26/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 90/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/08/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chấp nhận kk |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16–THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 90/2025/DS-ST
Ngày: 26-8-2025
V/v tranh chấp hợp dân sự vay
tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Công
2. Bà Trần Ngọc Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Bùi Phương Uyên – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ
Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 143/2025/TLST-DS ngày 25 tháng 7 năm
2025 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
156/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2025; giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang M, sinh năm 1990; địa chỉ: Số F, N, phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 2004;
địa chỉ: Tổ C, ấp A, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí
Minh) Theo giấy ủy quyền ngày 15/4/2025. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1968; bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm
1978; cùng địa chỉ: Số E, Khu phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là
phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Văn Anh K, sinh năm 1993; địa chỉ:
Tổ C, ấp A, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng và
lời khai tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T trình
bày:
Ông Nguyễn Quang M do có quen biết với vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn
Thị Ngọc H. Vào ngày 18/9/2024 ông Nguyễn Quang M và bà Nguyễn Thị Ngọc H đại diện
đứng thay cho ông Nguyễn Văn T1 đồng ý ký giấy xác nhận và cam kết với nội dung là nợ
ông M số tiền 450.000.000 đồng; thời hạn trả nợ là 02 tháng (ngày 18/11/2024 trả nợ). Ngoài
ra, hai bên còn thỏa thuận về việc bà H, ông T1 giao cho ông M 01 Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nhưng không công chứng ủy quyền hay chuyển nhượng cho ông M. Đồng thời,
hai bên còn thống nhất thỏa thuận đồng ý cho gia hạn nhưng phải trước ngày 18/11/2024.
Mục đích mượn tiền để phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong gia đình, phục vụ kinh doanh.
Ông M giao số tiền 450.000.000 đồng cho bà H bằng hình thức chuyển khoản và giao
tiền mặt (trong đó tiền mặt là 250.000.000 đồng và ông M nhờ ông Văn Anh K chuyển khoản
200.000.000 đồng vào số tài khoản 6551978 ngân hàng Á chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Ngọc
H).
Sau khi ký kết giấy xác nhận và cam kết ngày 18/9/2024, bà H, ông T1 có liên hệ với
ông M để mượn thêm số tiền 100.000.000 đồng và có đề nghị ông M đưa lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để tiến hành bán cho bên thứ ba để có tiền trả ông M.
Do tin tưởng ông T1, bà H nên ông M đã đồng ý. Một phần do còn có 01 tháng là tới
ngày trả nợ toàn bộ số tiền nên ông M đồng ý đưa lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho bà H, ông T1, nhưng bà H phải ký nhận đủ số tiền 550.000.000 đồng.
Do ông M nhiều lần liên hệ với ông T1, bà H yêu cầu trả tiền, nhưng không liên lạc
được. Do đó, ông M khởi kiện cụ thể:
Theo đơn khởi kiện ông M yêu cầu: Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị Ngọc
H phải thanh toán cho ông Nguyễn Quang M nợ gốc là 550.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính
đến ngày 18/9/2025 là 45.565.000 đồng.
Theo đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 18/8/2025 và tại phiên tòa ông M chỉ yêu
cầu bà Nguyễn Thị Ngọc H phải hoàn trả cho ông M số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng và lãi
suất tính từ ngày vi phạm 19/01/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm là 07 tháng 07 ngày x
0,83%/tháng = 33.020.166 đồng
Tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp là giấy xác nhận và cam kết ngày 18/9/2024
Theo bản tự khai, quá trình tố tụng bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Ông là chồng của bà Nguyễn Thị Ngọc H. Ông không có quan hệ quen biết ông
Nguyễn Quang M. Theo đơn khởi kiện ông M xác định vợ chồng ông vay tiền của ông M số
tiền 550.000.000 đồng đề nhằm mục đích phục vụ sinh hoạt trong gia đình và phục vụ kinh
doanh là không đúng sự thật vì thực tế ông không có quan hệ quen biết ông M nên không có
việc ông M cho ông vay tiền. Theo tờ cam kết ngày 18/9/2024 thì giấy này chỉ có chữ ký của
vợ ông là bà Nguyễn Thị Ngọc H. Riêng việc bà H có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông M hay không thì ông không biết. Và số tiền bà H vay của ông M ông cũng
không biết vì bà H không nói cho ông biết có việc vay tiền của ông M. Trong quá trình chung
sống thì bà H và ông làm ăn riêng, không có buôn bán kinh doanh chung. Ông có công ăn
3
việc làm buôn bán tự do thu nhập ổn định nên không việc vay tiền để sinh sống. Theo bản
cam kết ngày 18/9/2024 không có chữ ký của ông, việc ông M, bà H tự thỏa thuận viết bản
cam kết ở đâu ông không biết, bà H và ông M cũng không thông báo cho ông biết. Do đó,
ông M khởi kiện yêu cầu ông cùng bà H phải trả số tiền 550.000.000 đồng và tiền lãi phát
sinh là không phù hợp. Hiện nay bà H đã bị bắt và đang bị tạm giam tại trại tạm giam B, tỉnh
Bình Dương. Thời gian ở trong trại giam bà H có gửi cho ông bức thư xác định tất cả việc
vay mượn, làm ăn bà giấu ông không cho ông biết và xin lỗi ông, đồng thời trong thư bà H
xác định bà sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ các khoản vay và những người có cho bà vay có
quyền yêu cầu một mình bà trả nợ mà không có liên quan đến ông. Do đó, ông không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông M, đồng thời ông không có yêu cầu phản tố trong vụ án.
Quá trình tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn T1 là vợ chồng. Bà không có quen biết ông Nguyễn Quang M.
Riêng ông Văn Anh K bà quen biết qua bà Nguyễn Thị K1 là mẹ ruột của ông K. Do có quen
biết nên vào năm 2024 bà có nhờ ông Văn Anh K vay tiền dùm để bà giải quyết công việc
của bà và được K đồng ý nói “Cháu sẽ vay cho cô”. Sau khi thỏa thuận K đưa cho bà giấy
xác nhận và cam kết ngày 18/11/2024 kêu bà ký vào giấy xác nhận và điểm chỉ dấu vân tay
vào giấy xác nhận. Sau khi ký và điểm chỉ xong K chuyển tiền vào tài khoản số 6551978 của
bà. Bà xác định bà không có trực tiếp vay tiền của ông M mà tiền do ông K chuyển vào tài
khoản cho bà. Khi K đưa cho bà tờ giấy thì bà ký vào cuối tờ giấy, phía trên không có nội
dung. Tuy nhiên, bà xác định có nhờ ông K vay tiền dùm và được ông K đồng ý, nhưng ông
K mượn tiền của ai thì bà không biết. Khi ông K chuyển tiền cho bà thì bà có thế chấp 01
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay. Sau khi ông K chuyển tiền
vào tài khoản của bà thì bà lại chuyển ngược lại vào số tài khoản của ông K số tiền
300.000.000 đồng để nhờ ông K thanh toán dùm tiền dịch vụ đối với căn nhà bên A.
Bà H thừa nhận có nhận của ông K số tiền 450.000.000 đồng, nhưng không hiểu vì lý
do tại sao bà lại ghi đã nhận số tiền 550.000.000 đồng, nhưng bà xác định chữ viết trên giấy
xác nhận “Ngày 1 tháng 10 năm 2024 tôi đã nhận số tiền tổng là 550.000.000 đồng (năm trăm
năm mươi triệu đồng)” là chữ viết của bà, khi bà viết không có ai ép buộc mà bà tự nguyện
viết do tin tưởng nhau.
Bà H xác định số tiền bà nhờ ông K vay dùm cho bà không có liên quan gì đến ông T1
vì đây là tiền làm ăn riêng của bà, trong gia đình kinh tế của bà và ông T1 là độc lập, bà làm
ăn riêng không có thông báo cho ông T1 biết. Do đó, giao dịch vay tiền ngày 18/11/2024
không có liên quan đến ông T1 mà đó là trách nhiệm của bà. Bà có vay tiền thì bà sẽ có trách
nhiệm trả. Trường hợp sau này ông K không kiện bà đòi tiền thì bà đề nghị Tòa án giải quyết
vụ án này theo quy định của pháp luật.
Theo bản tự khai, quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn
Anh K trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc H có quan hệ làm ăn từ khoảng 10 năm trước đây. Vào
trước ngày 18/9/2024 bà H có nhu cầu mượn tiền nên bà H hỏi ông có tiền thì cho bà vay,
ông trả lời không có thì bà H nhờ nói mượn tiền dùm bà thì ông đồng ý. Sau khi đồng ý với
bà H thì ông liên hệ với ông Nguyễn Quang M (ông M là bạn đồng nghiệp với ông) hỏi ông
M có tiền không để cho bà H vay thời hạn là 02 tháng với số tiền 450.000.000 đồng và có lãi
suất thì ông M đồng ý. Tuy nhiên, ông M yêu cầu hai bên phải lập giấy xác nhận và cam kết
trả trong thời hạn 02 tháng, đồng thời ông M yêu cầu bên vay phải thế chấp giấy chứng nhận
4
quyền sử dụng đất. Sau khi trao đổi với ông M xong ông có nói lại sự việc với bà H thì bà H
đồng ý. Ngày 18/9/2024 hai bên lập giấy xác nhận và cam kết có nội dung bà H vay của ông
M số tiền 450.000.000 đồng, bà H thế chấp cho ông M tài sản là sổ hồng thửa đất số 168 tờ
bản đồ số 12. Số tiền 450.000.000 đồng ông là người trực tiếp chuyển khoản 200.000.000
đồng và đưa tiền mặt 250.000.000 đồng cho bà H, nhưng ông xác định số tiền này là tiền của
ông M, không phải tiền của ông.
Vào ngày 01/10/2024 bà H lại tiếp tục vay thêm số tiền 100.000.000 đồng và ông có
đưa bà H số tiền 100.000.000 đồng, nhưng ông xác định số tiền 100.000.000 đồng này là của
ông M đưa cho ông để ông giao cho bà H.
Ông xác định ông M và bà H chưa bao giờ gặp nhau mà việc ký xác nhận và cam kết
giao nhận tiền đều thông qua ông, ông cũng là người nhận tiền từ ông M, sau đó giao lại cho
bà H. Sau khi ông giao cho bà H số tiền 450.000.000 đồng thì tháng đầu tiên ông nhớ bà H có
đưa tiền lãi cho ông để ông trả cho ông M (số tiền bao nhiêu ông không nhớ, nhưng ông nhớ
khoảng 7 triệu hay 9 triệu đồng) và ông đã chuyển trả cho ông M xong tiền lãi. Sau ngày
nhận thêm số tiền 100.000.000 đồng thì bà H không thanh toán tiền gốc và lãi cho ông M.
Ông K xác định việc vay mượn tiền này ông và ông M không làm việc trực tiếp với
ông T1, còn ở nhà bà H có trao đổi với ông T1 hay không thì ông không biết.
Nay, ông M khởi kiện yêu cầu bà H, ông T1 phải thanh toán cho ông M nợ gốc và lãi
thì ông không có ý vì số tiền này không phải là tiền của ông mà thực tế tiền này là của ông M
cho bà H vay. Do ông không có quyền lợi, nghĩa vụ gì trong vụ án này nên ông không có yêu
cầu độc lập trong vụ án. Trường hợp Tòa án xác định bị đơn phải thanh toán tiền cho ông thì
ông tự nguyện yêu cầu Tòa án tuyên buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả tiền cho ông M, không
phải trả cho ông vì tiền này không phải là của ông. Và ông xác định giao dịch vay mượn số
tiền 550.000.000 đồng trong vụ án này sẽ chấm dứt kể từ thời điểm có quyết định, bản án của
Tòa án, ông cam kết không dùng chứng cứ giao nhận tiền này để khởi kiện bà H cũng như
ông T1 trong một vụ án khác.
Riêng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà H dùng để thế chấp trong giao dịch vay
mượn này thì ông M đã trả cho bà H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua
ông là người trực tiếp đưa cho bà H.
Việc ông M đồng ý trả giấy chứng nhận cho bà H là do ông xin cho bà H vì bà H
muốn giao dịch đất này bán lấy tiền trả cho ông M nên nhờ ông thuyết phục ông M trả giấy
chứng nhận cho bà H thì ông đồng ý và nói với ông M thì ông M đồng ý. Do đó, mới có việc
ông M trả giấy chứng nhận cho bà H.
Tài liệu chứng cứ ông K cung cấp là 03 tờ chuyển khoản thành công ngày 18/9/2024.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án: Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý,
giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố
tụng dân sự. Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng
pháp luật tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ nhận thấy yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
5
kiện của nguyên đơn. Đối với việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
ông Nguyễn Văn T1 phải thanh toán tiền nợ vay là tự nguyện, phù hợp với ý chí của bà H,
ông T1 nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn
cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Nguyễn Quang
M khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T1; bà Nguyễn Thị Ngọc H; cùng địa chỉ: Số E, Khu
phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh)
trả tiền nợ vay và lãi phát sinh. Xét, đây là vụ án Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản và
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí
Minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn Anh K có đơn đề nghị
giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều
228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Qúa trình tố tụng các đương sự thừa nhận giữa ông K và ông M có quan hệ bạn bè
là đồng nghiệp; giữa bà H và ông K có quan hệ quen biết nên vào trước ngày 18/9/2024 do có
nhu cầu vay tiền để làm ăn nên bà H nhờ ông K vay tiền dùm cho bà H số tiền 450.000.000
đồng thì được ông K đồng ý; vào ngày 18/9/2024 ông M đã giao cho ông K số tiền
450.000.000 đồng để ông K giao cho bà H (trong đó ông K chuyển khoản 200.000.000 đồng
và đưa tiền mặt 250.000.000 đồng cho bà H); khi ông K giao tiền cho bà H thì bà H có giao
cho ông K 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm mục đích thế chấp đảm
bảo cho khoản vay; sau khi ông K giao số tiền 450.000.000 đồng thì bà H có nhờ ông K
chuyển tiền dùm cho bà H để làm thủ tục dịch vụ nhà đất bên A; ông K, ông M thống nhất
xác định vào ngày 01/10/2024 bà H nhờ ông K vay thêm của M cho bà H số tiền 100.000.000
đồng; bà H xác nhận chữ viết “Ngày 1 tháng 10 năm 2024 tôi đã nhận số tiền tổng là
550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng)” là chữ viết của bà, khi bà viết không có
ai ép buộc mà bà tự nguyện viết và hiện nay ông M đã trả cho bà H bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thông qua ông K; giao dịch vay tiền giữa ông K, ông M, bà H không
có sự chứng kiến và tham gia của ông Nguyễn Văn T1; ông K xác định toàn bộ số tiền
550.000.000 đồng giao cho bà H là tiền của ông M nên ông K yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà
H trả số tiền này cho ông M, không phải tuyên trả cho ông K. Xét, sự thừa nhận của đương
sự là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[4] Theo đơn khởi kiện ông M yêu cầu ông T1, bà H trả nợ gốc và lãi cho ông. Tuy
nhiên, theo đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 18/8/2025 ông M thay đổi không buộc ông
T1 phải cùng bà H trả nợ gốc và lãi cho ông. Xét thấy, tại bản tự khai ngày 28/7/2025 ông T1
xác định ông không biết giao dịch vay tiền giữa bà H và ông M; bà H vay tiền không dùng sử
dụng sinh hoạt hay làm ăn chung của vợ chồng nên việc ông M khởi kiện yêu cầu ông cùng
bà H trả nợ vay và nợ lãi là không phù hợp; tại biên bản lấy lời khai ngày 08/8/2025 bà H xác
định giao dịch vay tiền giữa bà và ông K, ông M không có liên quan đến ông T1 mà là trách
nhiệm của riêng bà; lời khai của ông K cũng xác định việc mượn tiền giữa ông và ông M, bà
6
H không có sự tham gia của ông T1. Do đó, có căn cứ xác định ông T1 không có liên quan
đến giao dịch vay tiền giữa ông M, ông K và bà H nên yêu cầu thay đổi khởi kiện của nguyên
đơn là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Lời khai của các đương sự có phần mâu thuẫn nhau, nhưng phía nguyên đơn có
đơn xin không tham gia đối chất; bị đơn là bà H có đơn đề nghị từ chối đối chất. Do đó, Tòa
án không tiến hành đối chất giữa ông M, bà H, ông T1, ông K được.
[6] Xét thấy, vào ngày 18/9/2024 giữa bên A là ông Nguyễn Quang M; bên B là bà
Nguyễn Thị Ngọc H; bên C ông Văn Anh K là người làm chứng cùng lập giấy xác nhận và
cam kết. Theo văn bản thì bà H xác nhận vào ngày 18/9/2024 có nhận của ông M số tiền
450.000.000 đồng; hẹn đến ngày 18/11/2024 (sau đó gia hạn đến ngày 18/01/2025) bà H phải
trả hết nợ gốc và lãi cho ông M; bà H giao cho ông M 01 bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nhằm mục đích đảm bảo cho khoản vay; ngày 01/10/2024 bà H ký xác nhận đã
nhận tổng số tiền 550.000.000 đồng của ông M. Theo ông K trình bày thì số tiền 550.000.000
đồng ông giao cho bà H là tiền của ông M, ông chỉ là người đứng ra vay dùm cho bà H; bà H
cũng thừa nhận số tiền ông K giao cho bà là tiền bà nhờ ông K vay dùm cho bà. Do đó, có
căn cứ xác định số tiền 550.000.000 đồng là tiền của ông M cho bà H vay. Ông K yêu cầu
Tòa án có tuyên buộc bà H trả thì tuyên trả cho ông M là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp
pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Qúa trình tố tụng bà H thừa nhận chữ viết “Ngày 1 tháng 10 năm 2024 tôi đã nhận số
tiền tổng là 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng)” là chữ viết của bà, khi bà
viết không có ai ép buộc mà bà tự nguyện viết. Do đó, có căn cứ xác định bà H đã nhận từ
ông K số tiền 550.000.000 đồng.
Giấy xác nhận và cam kết ngày 18/9/2024 tuy ông M không trực tiếp ký với bà H mà
bà H ký thông qua ông K. Nhưng, nội dung của thỏa thuận không trái đạo đức xã hội, bà H tự
nguyện ký và xác nhận có nhận tiền thì bà H phải có trách nhiệm thực hiện theo đúng cam
kết. Tuy nhiên, đến hạn trả tiền bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là đã vi phạm nghĩa vụ
trả nợ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện buộc bà H phải trả số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng và
nợ lãi tính từ ngày vi phạm cam kết từ ngày 19/01/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất
0,83%/tháng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Như vậy, Tổng nợ gốc và lãi bà H phải trả cho ông M là 583.020.166 đồng (trong
đó nợ gốc 550.000.000 đồng; nợ lãi 33.020.166 đồng)
[8] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có
căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 228;
khoản 1 Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
7
- Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quang M về việc Tranh
chấp hợp đồng dân sự vay tài sản đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H.
2. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải thanh toán ông Nguyễn Quang M số tiền
583.020.166 đồng (trong đó nợ gốc 550.000.000 đồng; nợ lãi 33.020.166 đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành
xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 27.320.807 đồng án phí dân sự sơ
thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Quang M số tiền 13.913.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004187 ngày 18/7/2025 (do bà Nguyễn Thanh T nộp thay)
tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thời hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
Phạm Thị Bạch Tuyết
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm