Bản án số 895/2026/DS-PT ngày 03/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 895/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 895/2026/DS-PT ngày 03/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 895/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: - Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn B1.- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2026/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 895/2026/DS-PT Bản án số 895/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 895/2026/DS-PT Bản án số 895/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN T Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 895/2026/DS-PT
Ngày: 03 8 2026
V/v “Tranh chấp ranh giới
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
Ông Võ Bảo Anh
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Thúy Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Nguyễn Thị
Hồng Thắm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 03 tháng 8 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ số 1089/2026/TLPT-DS ngày 03 tháng 7 năm 2026
về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sthẩm số 121/2026/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s1282/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn B, sinh năm 1956. Địa chỉ: ấp B, V, thành
phố Cần Thơ (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Huỳnh Nhật H, sinh năm:
2003. Địa chỉ: A, N, phường B, thành phố Cần Thơ (có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Đinh Thị Mỹ
L, sinh năm: 1984. Địa chỉ: A, N, phường B, thành phố Cần Thơ (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn B1, sinh năm 1956. Địa chỉ: ấp B, V, thành phố
Cần Thơ (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Trần Thị Thu M, sinh năm 1980.
Địa chỉ: ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ (có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn B1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Nguyên đơn ông Phan Văn B trình bày nội dung yêu cầu khởi kiện
như sau: Ông quyền sử dụng phần đất thuộc thửa 379, tờ bản đồ số 3, diện tích
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 4.150m
2
, tọa lạc tại ấp B, V, huyện
V, tỉnh Hậu Giang (cũ). Hướng Bắc sau hậu, phía Đông giáp đất ông Trần Văn
B1, phía trước sông X. Phần đất của ông Trần Văn B1 cặp ranh với đất của ông
thửa 380, tờ bản đồ số 3, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2.096m
2
. Phía trước ông B1 đã xây hàng rào kiên cố đúng với ranh đất, nhưng ông
B1 vẫn nói chưa tới ranh và đòi lấn qua thêm 40cm ngang. Phía sau hậu ông B1
đã nhiều lần lấn ranh rất nhiều qua đất của ông khoản 2m tự ý cắm ranh không
thông qua ông hiện tại dần dần ông B1 còn lấn ranh thêm. Nay ông khởi kin
yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Trần Văn B1 trả lại phần đất đã lấn
chiếm theo thực tế đo đạc.
* Trước yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn B, ông Trần Văn B1 ý kiến
yêu cầu phản tố như sau: Ông quyền sdụng phần đất tại thửa 380, 391, tờ
bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (cũ) giáp thửa 379
của ông B. Vào năm 1995 thì ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
E 0504415, phần đất này ông canh tác, sử dụng ổn định đã cặm trụ đá làm ranh
ràng. Tuy nhiên, khoảng năm 2024 thì ông B phát sinh tranh chấp cho rằng ông
lấn chiếm đất của ông B, nhưng thực tế ông không lấn chiếm đất. Nay ông
yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án công nhận phần đất tranh chấp cho ông theo kết
quả đo đạc thực tế thể hiện qua lược đồ số 22-2024 ngày 29/01/2024 của Công ty
TNHH Đ.
* Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử thẩm công khai.
Tại Bản án thẩm số 121/2026/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn B.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn B1.
3. Công nhận buộc bị đơn ông B1 giao trả cho nguyên đơn ông B phần
đất tranh chấp diện tích 186,3m
2
theo kết quả đo đạc thực tế thể hiện qua lược
đồ số 22-2024 ngày 29/01/2024 của Công ty TNHH Đ như sau: Chiều ngang trước
là 0,61m, chiều ngang còn lại 2,5m, chiều dài giáp phần đất nguyên đơn là
119,97m, chiều dài còn lại giáp phần đất bị đơn là 120,11m.
4. Về cây trồng trên phần đất tranh chấp nguyên đơn tiếp tục quản lý, sử
dụng trên phần đất được Tòa án công nhận, đối với cây trồng nằm giữa phần đất
của nguyên đơn và bị đơn thì chặt bỏ trả lại hiện trạng ranh đất trống.
5. Đối với công trình trên đất: Nếu công trình của bị đơn nằm trên phần đất
của nguyên đơn được công nhận thì bị đơn phải nghĩa vụ tháo dỡ, di dời để trả
lại đất trống.
6. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí thẩm định và quyền
kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 24 tháng 3 năm 2026 bị đơn ông B1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
3
phúc thẩm xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý
kháng cáo của bị đơn.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu quan
điểm: thực tế sử dụng đất của nguyên đơn thiếu nhiều so với giấy được cấp, bị đơn
sử dụng diện tích được cấp, bị đơn cho rằng đất chiều ngang bđơn 21,7m dựa
vào việc bồi thường đất nhưng thời điểm cấp giấy không thể hiện số đo các cạnh
nên không có căn cứ xác định bị đơn có cạnh chiều ngang 21,7m, về bồi thường thì
chỉ thể hiện diện tích bị thu hồi, không thể hiện cạnh đất của bị đơn. Đnghị Hội
đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xem xét các
chứng cứ trong hồ sơ, căn cứ xác định, phần đất tranh chấp của nguyên
đơn bởi diện tích trong giấy nguyên đơn còn thiếu hình thể phù hợp, đề nghị
Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: ông B1, ông B vắng mặt nhưng người đại diện nên Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của ông Trần Văn B1:
[2.1] Qua xem xét các chứng cứ trong hồ diễn biến tranh tụng ti
phiên tòa phúc thẩm hôm nay, có sở xác định: Phần đất tranh chấp giữa nguyên
đơn bị đơn theo kết quả đo đạc thực tế thhiện qua Mảnh trích đo địa chính số
22-2024 23-2024 ngày 29/01/2024 của ng ty TNHH MTV Đ như sau: chiều
ngang trước là 0,61m, chiều ngang còn lại 2,5m, chiều dài giáp đất hai bên tại vị trí
II diện tích 186,3m
2
. Phần đất các bên được cấp giấy vào năm 1995, nhưng
hiện không thống nhất được ranh sdụng đều yêu cầu được sử dụng theo
đúng diện tích đất được cấp giấy chứng nhận.
[2.2] Phần đất của nguyên đơn tại thửa 379 có diện tích được cấp là 4.150m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0504406 ngày 20/10/1995 nhưng
theo đo đạc thực tế 3.422,6m
2
(chưa kể phần IIIc diện tích 462,5m
2
) phần đang
tranh chấp với ông C. Còn phần đất của bị đơn tại thửa số 380 diện tích được
công nhận là 2.096m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0504415 ngày
20/10/1995 nhưng theo đo đạc thực tế là 2.251,3m
2
. Nếu không tính diện tích tranh
chấp thì đất của nguyên đơn sử dụng thiếu 727,4m
2
, bị đơn sử dụng nhiều hơn
phần đất đã được quan thẩm quyền công nhận 155,3m
2
. Tuy nhiên, việc sử
dụng thừa hay thiếu cũng chưa đủ sở để xác định việc chồng lấn ranh hay
4
không mà phải qua quá trình sử dụng thực tế các bên thỏa thuận mốc ranh, theo
tập quán hay ranh giới đã tồn tại 30 năm trở lên. Xét, thực tế các bên sử dụng chưa
xác định ranh cụ thràng, nhưng quá trình sử dụng phía bị đơn ông B1 xây
tường rào cho rằng chừa phần đất ngoài tường để làm đường nước nhưng
phía nguyên đơn không thống nhất ông B1 không chứng minh được sự thỏa
thuận này.
[2.3] Bị đơn còn cho rằng chiều ngang phần đất của mình sử dụng 21,7m
được thể hiện qua việc bồi thường, nhưng xem xét qua quá trình cấp giấy cho các
bên không đo đạc cụ thể các cạnh, chỉ cấp tổng diện tích, việc bồi thường chỉ
thể hiện tổng diện tích được bồi thường không thể hiện cạnh đất của bị đơn 21,7m
nên lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ.
[2.4] Bên cạnh đó, xét về hình thể thửa đất cấp giấy chứng nhận cho nguyên
đơn thì nhìn mắt thường thể thấy chiều ngang (giáp Kênh Thống Nhất) rộng
hơn chiều ngang (giáp Kênh X) đối chiếu với đo đạc thực tế thì hình thể là phù
hợp nếu xác định phần đất của nguyên đơn. Nếu xác định phần đất cho bị đơn
thì hình thể đất của bị đơn sẽ không đúng hình thể được cấp và như vậy thực tế
chiều ngang giáp Kênh T sẽ rộng hơn chiều ngang giáp Kênh X không phù hợp
với hình thể trong giấy được cấp.
[2.5] Mặt khác, các bên đều ý kiến sử dụng phần đất đúng diện tích được
cấp nhưng thực tế bị đơn lại thừa nhiều so với diện tích giấy được cấp, do đó, u
cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Vì vậy, kháng cáo của bị đơn cho rằng
đất tranh chấp nằm trong thửa 380 của bị đơn là chưa đủ căn cứ công nhận
[3] Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông B là đúng nên giữ nguyên.
[4] Về phần án phí:
[4.1] Sơ thẩm: ông B1 được miễn do là người cao tuổi.
[4.2] Phúc thẩm: ông B1 được miễn do là người cao tuổi.
[5] Về chi phí thẩm định giá: giữ nguyên như án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
* Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn B1.
5
- Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 121/2026/DS-ST ngày 20 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn B.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn B1.
3. Công nhận phần đất tranh chấp diện tích 186,3m
2
tại vị trí II theo
Mảnh trích đo địa chính số 22-2024 23-2024 ngày 29/01/2024 của Công ty
TNHH MTV Đ thuộc thửa 379, tờ bản đồ s3 theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đã cấp cho ông Phan Văn B.
Ông Phan Văn B quyền liên hệ quan nhà nước thẩm quyền thực
hiện chỉnh lý theo kết quả của bản án.
Buộc ông Trần Văn B1 giao trả diện tích đất đã công nhận nêu trên cho ông
Phan Văn B.
(Kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 22-2024 và 23-2024 ngày 29/01/2024
của Công ty TNHH MTV Đ).
4. Về cây trồng trên phần đất tranh chấp nguyên đơn tiếp tục quản lý, sử
dụng trên phần đất được Tòa án công nhận, đối với cây trồng nằm giữa phần đất
của nguyên đơn và bị đơn thì chặt bỏ trả lại hiện trạng ranh đất trống.
5. Đối với công trình trên đất: Nếu công trình của bị đơn nằm trên phần đất
của nguyên đơn được công nhận thì bị đơn phải nghĩa vụ tháo dỡ, di dời để trả
lại đất trống.
- Về chi phí tố tụng và án phí dân sự thẩm: Ginguyên như bản án sơ
thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn B1 được miễn, ông B1 được nhận lại
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005366 ngày
24/3/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7, 8 và Điều
36 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND khu vực 11;
- THADS Tp Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hà Thị Phương Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 895/2026/DS-PT Bản án số 895/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 895/2026/DS-PT Bản án số 895/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất