Bản án số 17/2026/DSPT ngày 30/01/2026 của TAND tỉnh Nghệ An về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 17/2026/DSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 17/2026/DSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 17/2026/DSPT
| Tên Bản án: | Bản án số 17/2026/DSPT ngày 30/01/2026 của TAND tỉnh Nghệ An về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Nghệ An |
| Số hiệu: | 17/2026/DSPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bản án dân sự phúc thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 17/2026/DS-PT
Ngày: 30 - 01 - 2026
V/v: Tranh chấp đòi lại tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh
Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Kiều Hương.
Bà Lưu Thị Hồng Thể.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Tuyết Loan; Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2025/TLPT - DS ngày 15 tháng 12 năm
2025, về việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2026/QĐPT-DS ngày 14/01/2026
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Xồng Bá R; Sinh năm 1994;
Nơi cư trú: Bản Na Cáng, xã Na Ngoi, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Công Thiết,
Trợ giúp viên - Thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Vắng
mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Và Bá B (tên gọi khác: Và Bá Minh); sinh năm 1998;
Nơi cư trú: Bản Nậm Càn, xã Na Ngoi, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Và Pà Chống, sinh năm: 1951;
Nơi cư trú: Bản Nậm Càn, xã Na Ngoi, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Và Y N; sinh năm: 1997;
Nơi cư trú: Bản Nậm Càn, xã Na Ngoi, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
4. Người làm chứng:
- Anh Và Bá Lầu; sinh năm: 1992;
2
Nơi cư trú: Bản Nậm Càn, xã Na Ngoi, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
- Ông Và Vá Chơ; sinh năm: 1973;
Nơi cư trú: Bản Nậm Càn, xã Na Ngoi, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 07 năm 2024, quá trình tham gia tố tụng
và tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, nguyên đơn anh Xồng Bá R trình bày:
Vào ngày 15/07/2020, khi đó anh đang đi xuất khẩu lao động làm thuê tại
Nhật Bản, anh nhận được một cuộc gọi qua ứng dụng messenger (có nhìn rõ cả
hình ảnh và âm thanh) của anh Và Bá B với ních facebook là "Cố Sống Qua
Ngày". Anh Và Bá B nói rằng anh Và Bá B đang rất thích một con bò ở bên Lào,
nhưng hiện tại anh Và Bá B không có tiền để mua con bò đó nên đã trao đổi với
anh Xồng Bá R để vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) để mua con bò đó.
Đồng thời hứa rằng khi nào bán được bò sẽ trả lại đầy đủ số tiền 30.000.000 đồng
(Ba mươi triệu) cho anh Xồng Bá R. Sau khi nghe anh Và Bá B trao đổi như vậy
thì anh Xồng Bá R nghĩ vì đó là em trai của vợ (chị Và Y N) nên anh Xồng Bá R
đã đồng ý cho anh Và Bá B vay số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu). Do có
mối quan hệ là em trai vợ nên anh Xồng Bá R không yêu cầu anh Và Bá B phải trả
tiền lãi suất. Khi vay tiền anh Và Bá B đã hứa khi nào bán được bò hoặc khi anh
Xồng Bá R về nước sẽ trả lại đầy đủ số tiền đó cho anh Xồng Bá R. Anh Xồng Bá
R và vợ (chị Và Y N) đã thống nhất để anh Và Bá B nhận được tiền thì anh Xồng
Bá R sẽ chuyển khoản cho vợ là chị gái của anh Và Bá B, chị Và Y N rút tiền xong
sẽ đưa số tiền đó cho anh Và Bá B.
Ngày 16/07/2020, anh Xồng Bá R đã chuyển khoản số tiền là 36.181.244
đồng (Ba mươi sáu triệu, một trăm tám mươi mốt nghìn, hai trăm bốn mươi bốn)
cho số tài khoản là 3618205053262, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam tên chủ tài khoản là Và Y N (vợ anh Xồng Bá R).
Đến ngày 20/07/2020, anh Và Bá B và chị Và Y N cùng nhau xuống rút tiền
tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh Huyện Kỳ
Sơn, Tây Nghệ An, địa chỉ: khối 1, thị trấn Mường Xén, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ
An với số tiền được rút là: 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu).
Sau đó, chị Và Y N đã đưa số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) cho anh
Và Bá B, còn số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu) thì anh Xồng Bá R cho chị Và Y
N để chi tiêu. Khi nhận được tiền thì anh Và Bá B đã nhắn tin thông báo cho anh
Xồng Bá R là đã được nhận đủ số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) như
thỏa thuận.
Đến khoảng tháng 08 năm 2023, anh Xồng Bá R có gọi điện thoại liên lạc và
nhắn tin nhiều lần cho anh Và Bá B thông báo rằng anh Xồng Bá R cần số tiền đó
để trả nợ và yêu cầu anh Và Bá B trả lại số tiền đã vay. Nhưng anh Và Bá B đã tìm
nhiều lý do gây khó dễ cho anh Xồng Bá R nhằm trốn tránh việc trả lại số tiền đã
vay.
3
Đến nay, anh Và Bá B vẫn chưa trả lại số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi
triệu). Vì vậy, anh Xồng Bá R đề nghị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ
An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12- Nghệ An) căn cứ các quy định pháp luật
buộc anh Và Bá B phải có trách nhiệm trả lại cho anh số tiền đã vay là 30.000.000
đồng (Ba mươi triệu). Về lãi suất: Anh Xồng Bá R không yêu cầu anh Và Bá B
phải trả tiền lãi suất.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm bị đơn vắng mặt, tuy
nhiên bị đơn có đơn trình bày và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Và
Pà Chống trình bày:
Anh Và Bá B thừa nhận có vay anh Xồng Bá R số tiền 30.000.000 đồng (Ba
mươi triệu) tuy nhiên hiện nay anh Và Bá B đã trả hết số tiền vay cho gia đình anh
Xồng Bá R (cụ thể là trả cho chị Và Y N vợ anh Xồng Bá R). Hiện tại, anh Và Bá
B không còn vay mượn tiền, tài sản gì của anh Xồng Bá R. Anh Và Bá B và đại
diện theo ủy quyền Và Pà Chống không đồng ý trả số tiền trên cho anh Xồng Bá R.
Anh Và Bá B đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết đúng theo quy định của pháp
luật.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Và Y N quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa chị Và Y N vắng mặt, tuy nhiên chị Và Y N có đơn
trình bày:
Chị Và Y N thừa nhận trước đó anh Xồng Bá R có gửi về số tiền 36.181.244
đồng (Ba mươi sáu triệu, một trăm tám mươi mốt nghìn, hai trăm bốn mươi bốn)
thông qua số tài khoản ngân hàng của chị mở tại Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam. Chị và anh Và Bá B đã cùng nhau xuống rút tiền tại
ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh Huyện Kỳ
Sơn, Tây Nghệ An với số tiền được rút là: 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu).
Khi đó chị đã đưa cho Và Bá B số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) như thỏa
thuận trước đó của anh Xồng Bá R và Và Bá B. Tuy nhiên, anh Và Bá B đã trả hết
số tiền vay cho vợ chồng chị trước khi chưa ly hôn. Hiện tại Và Bá B không còn
nợ khoản tiền và tài sản nào của anh Xồng Bá R. Trong thời gian anh Xồng Bá R
đi lao động, không có mặt ở nhà chị và con gái bị bệnh, chị đã sang nhà anh Và Bá
B lấy khoản tiền trên để chị và con gái đi điều trị tại bệnh viện và chi tiêu hàng
ngày. Chị Và Y N đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết đúng theo quy định của
pháp luật.
Tại phiên tòa những người làm chứng trình bày:
Ông Và Vả Chơ trình bày: Ông thừa nhận biết việc trước đó anh Và Bá B
(con trai ông) có vay tiền anh Xồng Bá R là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu). Tuy
nhiên, anh Và Bá B đã trả hết số tiền vay cho chị Và Y N để trang trải cuộc sống,
chăm sóc con cái.
Anh Và Bá Lầu trình bày: Anh thừa nhận biết việc trước đó anh Và Bá B (em
trai anh) có vay anh Xồng Bá R số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu). Tuy
nhiên, anh cho rằng anh Và Bá B đã trả hết số tiền vay cho chị Và Y N để chị Và Y
N trang trải cuộc sống, chăm sóc con cái trong thời gian anh Xồng Bá R không có
mặt ở nhà.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn vắng mặt tại phiên
4
tòa nhưng có văn bản trình bày:
Việc anh Và Bá B vay mượn số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) của anh
Xồng Bá R là có thật (anh Và Bá B thừa nhận tại biên bản Hòa giải của BQL bản
ngày 30/11/2023; biên bản Hòa giải của xã Nậm Cắn ngày 13/12/2023; Đơn trình
bày ngày 19/10/2024; đơn trình bày ngày 21/12/2024; Có đoạn tin nhắn, đoạn ghi
âm việc vay mượn tiền do anh Xồng Bá R cung cấp). Anh Và Bá B trình bày là đã
trả số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) cho anh Xồng Bá R. Tuy nhiên không
có bất cứ tài liệu giấy tờ nào chứng minh việc anh Và Bá B đã trả số tiền này cho
cho anh Xồng Bá R.
Số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) anh Và Bá B trả cho anh Xồng Bá R
thông qua vợ của anh Xồng Bá R là chị Và Y N trước đây (nay đã ly hôn) theo như
lời trình bày của chị Và Y N là không có căn cứ. Chị Và Y N cũng không chứng
minh được việc đã nhận số tiền đó từ anh Và Bá B và chứng minh đã thông báo
cho anh Xồng Bá R biết là đã nhận số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) mà
anh Và Bá B đã vay.
Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ cho thấy việc ông Xồng
Bá R khởi kiện ra Tòa án nhân dân khu vực 12 - Nghệ An buộc ông Và Bá B trả lại
số tiền gốc đã vay mượn 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) trước đó là có căn cứ
pháp luật. Vì vậy Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị
HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Xồng Bá R buộc anh Và
Bá B phải trả số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) cho anh Xồng Bá R, không
tính lãi suất do nguyên đơn không yêu cầu.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 12, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147,
Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự
2015; Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2025;
Căn cứ vào các Điều 116, 117,118,119, 166, 463, 465, 466 của Bộ luật Dân
sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Xồng Bá R.
Buộc anh Và Bá B (tên gọi khác: Và Bá Minh) phải có nghĩa vụ trả cho anh
Xồng Bá R số tiền đã vay là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, lãi suất do chậm thi hành
án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16 tháng 10 năm 2025 người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan chị Và Y N kháng cáo: 1. Yêu cầu xác định số tiền 30.000.000 đồng
5
là tài sản có trước thời kỳ hôn nhân, xác định khi anh Và Bá B vay tiền anh anh
Xồng Y R thì chị Và Y N và anh Xồng Bá R là vợ chồng thực tế.
2. Yêu cầu bồi thường công sức lao động của chị Và Y N từ năm 2014 đến
năm 2023, nội trợ có thu nhập 200.000 đồng/ngày .
3. Số tiền 30.000.000 đồng chị Và Y N xác định anh Và Bá B đã trả cho chị
Và Y N để trang trả cuộc sống trong thời gian chị và anh Xồng Bá R chung sống
với nhau như vợ chồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan giữ
nguyên đơn kháng cáo.
Nguyên đơn anh Xồng Bá R giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn yêu cầu không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý
kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ
thẩm: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy
định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy
định tại Điều 30, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự,
việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đảm bảo đúng quy định.
Tại cấp phúc thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định; Hội đồng xét xử
và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị
đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của Chị Và Y N đúng
thời hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ
lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Nguồn gốc số tiền anh Xồng Bá R cho
anh Và Bá B vay là của anh R tạo lập trong thời gian anh R đi xuất khẩu lao động
tại nước ngoài. Tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện chị Và Y N và anh R
chỉ sống chung với nhau như vợ chồng, không phải là vợ chồng hợp pháp được
pháp luật công nhận nên tài sản do anh R tự tạo lập trong thời gian sống chung với
chị N không mặc nhiên được xem là tài sản chung của chị N và anh R. Hồ sơ vụ án
cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh anh R ủy quyền cho chị N nhận số
tiền 30.000.000đ từ anh B thay anh R, cũng không có tài liệu chứng cứ chứng
6
minh anh R biết và chấp nhận, thừa nhận việc anh B trả nợ số tiền 30.000.000đ cho
chị N. Ngoài lời khai thì chị N anh B và những người làm chứng không cung cấp
được tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh việc trả tiền, hiện tại chị N và anh R
không còn chung sống với nhau và đã được Tòa án tuyên bố không công nhận vợ
chồng. Mặt khác, theo quyết định của bản án sơ thẩm thì anh B có nghĩa vụ thanh
toán cho anh R số tiền 30.000.000đ nhưng anh B không kháng cáo bản án sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, thấy rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh
Và Bá B phải trả lại cho anh Xồng Bá R số tiền 30.000.000đ đã vay là có cơ sở.
Đối với số tiền anh B đã trả cho chị Và Y N thì anh B có quyền khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết bằng vụ án khác. Chị Và Y N có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết việc chia tài sản chung, trích trả công sức, chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng
con chung, chăm lo gia đình với anh Xồng Bá R bằng vụ án khác.
- Đối với yêu cầu làm rõ nguyên nhân mục đích anh Xồng Bá R không đi
đăng ký kết hôn với chị Và Y N; buộc anh R bồi thường công sức lao động cho chị
N từ năm 2014 - 2023 với số tiền 200.000đ/ngày để mẹ con chị ổn định cuộc sống
công việc:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không yêu cầu, bị đơn không có yêu
cầu phản tố và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập,
yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung trên, nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem
xét. Do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, giải quyết nên Tòa án cấp phúc thẩm
không có cơ sở xem xét. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
những nội dung trên bằng vụ án khác.
Từ những phấn tích nêu trên, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Và Y N, áp dụng khoản 1 Điều 308
BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp đòi lại tài sản thuộc thẩm
quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh Nghệ An theo quy
định tại khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có
đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo hợp
lệ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nên được xem xét theo trình tự
phúc thẩm. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của
các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không
nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét
xử vụ án theo thủ tục chung.
7
[2]. Xét nội dung kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Và
Y N. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và Y N kháng cáo yêu cầu bồi
thường công sức lao động của chị Và Y N từ năm 2014 đến năm 2023 với số tiền
200.000 đồng/ngày. Đây là yêu cầu không liên quan trong vụ án này, chị N nên
yêu cầu này cấp phúc thẩm không xem xét, chị N có quyền khởi kiện ở vụ án khác.
Đối với kháng cáo yêu cầu xác định số tiền 30.000.0000 đồng là tài sản có
trong thời kỳ hôn nhân và xác định anh B đã trả cho chị N trang trải cuộc sống gia
đình trong thời gian anh R và chị N sống chung như vợ chồng. Hội đồng xét xử
thấy rằng ngày 15/07/2020 anh Xồng Bá R đang ở Nhật Bản cho anh Và Bá B (ních
facebook là "Cố Sống Qua Ngày") vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) để
mua bò thông qua cuộc gọi ứng dụng messenger, không yêu cầu lãi suất. Trong quá
trình giải quyết vụ án anh Và Bá B cũng thừa nhận có vay anh Xồng Bá R số tiền
30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) để mua bò. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các tình tiết nêu trên là tình tiết không phải chứng
minh trong vụ án. Quá trình cho vay anh Xồng Bá R cho rằng, hai bên đã thỏa thuận
khi nào anh Và Bá B bán được bò hoặc khi nào anh Xồng Bá R về nước thì anh Và
Bá B có trách nhiệm trả đầy đủ số tiền trên cho anh Xồng Bá R. Đến khoảng tháng
08 năm 2023, anh Xồng Bá R có gọi điện thoại liên lạc và nhắn tin nhiều lần cho
anh Và Bá B thông báo rằng anh Xồng Bá R cần số tiền đó để trả nợ và yêu cầu
anh Và Bá B trả lại số tiền đã vay. Nhưng anh Và Bá B đã tìm nhiều lý do gây khó
dễ cho anh Xồng Bá R nhằm trốn tránh việc trả lại số tiền đã vay. Đến nay, anh Và
Bá B vẫn chưa trả lại số tiền đã vay là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu). Đối với
việc anh Xồng Bá R có chuyển tiền cho chị Và Y N rút về và giao cho anh Và Bá
B anh B cũng thừa nhận phương thức giao nhận tiền này, đồng thời anh Xồng Bá B
và chị Và Y N chỉ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nên
pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng, do đó chị Và Y N không đồng thời
là chủ thể của hợp đồng vay, cũng không có căn cứ nào chứng minh anh Xồng Bá
R ủy quyền cho chị Và Y N nhận tiền nợ thay. Nay anh Xồng Bá R buộc anh Và Bá
B phải có trách nhiệm trả lại cho anh số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) là có
căn cứ, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Và Bá B phải có
nghĩa vụ trả cho anh Xồng Bá R số tiền đã vay là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu).
Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn bị đơn trả lại số tiền 30.000.000 đồng là có căn
cứ nên kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không có căn cứ
nên không chấp nhận kháng cáo.
8
[3]. Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của hị Và Y N không được chấp nhận
nên chị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án: Không chấp nhận kháng cáo của chị Và Y N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ
thẩm số 01/2025/DSST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh
Nghệ An.
2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Xồng Bá R.
Buộc anh Và Bá B (tên gọi khác: Và Bá Minh) phải có nghĩa vụ trả cho anh
Xồng Bá R số tiền đã vay là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí:
2.1. Bị đơn anh Và Bá B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 1.500.000 đồng
(Một triệu năm trăm nghìn);
2.2. Trả lại cho anh Xồng Bá R số tiền 750.000 đồng (Ba trăm ba mươi nghìn)
đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0001092 ngày 16/10/2024
tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An (Nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 12 – Nghệ An).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
9
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật
thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Và Y N phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự
phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0001929
ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
4. Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- TAND khu vực 12;
- THADS khu vực 12;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đức Anh
10
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thúy Ngọc Nguyễn Thị Thu Từ Nguyễn Thị Thanh Nga
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 02/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 02/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 02/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 29/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 29/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 29/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 29/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 29/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 29/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 28/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm