Bản án số 851/2025/DS-PT ngày 30/12/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 851/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 851/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 851/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 851/2025/DS-PT ngày 30/12/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 851/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/12/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quốc H. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 851/2025/DS-PT
Ngày: 30-12-2025
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Phúc
Ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 688/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11
năm 2025 về “tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh)”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 818/2025/QĐ-PT ngày
12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Quốc H, sinh năm 1962 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ C, khu phố B, phường N, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Trần Quốc D, sinh năm 1994
(có mặt).
Địa chỉ: Tổ C, khu phố B, phường N, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn: Công ty X.
Địa chỉ: Số D đường C khu phố B, phường T, tỉnh Tây Ninh.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Công ty TNHH MTV X.
Địa chỉ trụ sở: Số A đường T, phường L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn P.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quốc T, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh.
2
(theo văn bản ủy quyền ngày 25-12-2025).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Diệu H1, sinh
năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ C, ấp B, phường N, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Bà Trần Thị Kiều K, sinh năm
2000 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ C, ấp B, phường N, tỉnh Tây Ninh.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Quốc H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khi kiện ngày 25 tháng 7 năm 2024 của ông H và các lời khai
trong quá trình giải quyết vụ án, ông H trình bày:
Về nguồn gốc và quá trình hình thành phần đất ông đang sử dụng: Năm
2000, ông mua 01 phần đất của ông T1 diện tích khoảng 1800 m
2
, khi mua đất thì
ông T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, hai bên đến
UBND xã C làm thủ tục sang tên tách thửa cho vợ chồng ông đứng tên. Năm
2011, vợ chồng ông đã bán diện tích 200 m
2
(chiều ngang 05 m x chiều dài 40m)
cho ông Nguyễn Văn T2, sau đó ông T2 bán phần đất này cho ông T3 (hiện ông
T3 là chủ sử dụng phần đất tiếp giáp với đất ông và đất Công ty X). Diện tích đất
còn lại khoảng 1600 m
2
, đến khoảng năm 2011 Nhà nước thu hồi diện tích đất
khoảng 250 m
2
để làm đường 784, diện tích còn lại là 1348 m
2
do vợ chồng ông
đứng tên. Năm 2008, vợ chồng ông có mua thêm diện tích 79 m
2
của ông H2 và
vợ chồng ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/5/2008.
Khoảng năm 2008, vợ chồng ông tiếp tục mua phần đất diện tích khoảng 200 m
2
của ông H2 phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm
2018, ông làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 200 m
2
mà ông mua
của ông H2. Đồng thời ông làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền sáp nhập toàn
bộ diện tích ông đã sử dụng gồm 1348 m
2
+79 m
2
và diện tích khoảng 200 m
2
thành 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bởi vì 03 phần đất này liền ranh với
nhau.
Ngày 19/11/2018 ông làm thủ tục hợp 03 thửa số 424, thửa số 387, thửa số
384, cùng tờ bản đồ 14. Sau khi hợp thửa ông đã được Sở Tài nguyên và Môi
trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa đất mới số 694 có tổng
diện tích 1630,1 m
2
, tờ bản đồ số 30. Lúc này, ông mới phát hiện đất của ông bị
thiếu chiều ngang mặt tiền đường khoảng hơn 1 mét. Đồng thời phía sau giáp với
đuôi đất của ông T3 cũng bị thiếu chiều ngang là 0,25 m chiều dài là 11,8 m = 2,6
m
2
đất.
Theo ông, đất ông bị thiếu là do năm 2009 Cửa hàng xăng dầu 123 là chi
nhánh của Công ty X xây dựng hàng rào đã lấn sang đất của ông chiều ngang 0,25
m chiều dài là 11,8 m = 2,6 m
2
đất, ông yêu cầu Công ty X trả lại đất cho ông.
3
Quá trình giải quyết, sau khi có kết quả đo đạc, ông xác định lại diện tích
đất tranh chấp là 0,7 m
2
. Do đó, ông khởi kiện buộc Công ty X phải tháo dỡ và di
dời hàng rào trả lại cho ông diện tích đất ngang 0,25 m chiều dài là 5,39 m = 0,7
m
2
.
Bị đơn Công ty X do ông Phạm Quốc T là đại diện theo ủy quyền trình bày
trong quá trình giải quyết vụ án:
Nguồn gốc phần đất Công ty X đang sử dụng tiếp giáp với đất ông H là do
Công ty thuê lại của Ủy ban nhân dân tỉnh T để kinh doanh xăng dầu, theo giấy
chứng nhận có diện tích 2.858,3 m
2
. Năm 2009, thì bắt đầu thuê và xây dựng trạm
xăng dầu theo đúng ranh đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh T giao không ai tranh
chấp. Riêng phần đất phía sau chưa được xây dựng tường gạch kiên cố, tuy nhiên
vẫn có ranh giới được cắm mốc rõ ràng. Đến năm 2023-2024 thì Công ty có xây
hàng rào kiên cố toàn bộ phần đất phía sau thì phát sinh tranh chấp với ông H.
Nay ông H khởi kiện cho rằng Công ty lấn đất thì Công ty không đồng ý; bởi vì
phần đất này Công ty được Ủy ban tỉnh X cho thuê và giao, Công ty sử dụng đúng
ranh đã nhận, không có lấn chiếm đất của ông H nên không chấp nhận với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Diệu H1 trình bày:
Bà là vợ của ông H, bà thống nhất với lời trình bày của ông H, không bổ sung gì
thêm.
Sự việc tranh chấp đã được Tòa án cấp sơ thẩm hòa giải nhưng các đương
sự không thỏa thuận với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh đã căn cứ
Căn cứ Điều 175 của Bộ luật Dân sự; Điều 17 của Luật Đất đai; Điều 165
của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Toà án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc H đối với Công
ty X, về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” diện tích 0,7 m
2
thuộc thửa 6053, tờ bản
đồ số 03 (theo bản đồ 2010 đổi thành thửa 294, 1132, tờ bản đồ số 30) đất tọa lạc
tại khu phố B, phường N, tỉnh Tây Ninh. (Có sơ đồ kèm theo)
2. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty X không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm. Ông Trần Quốc H không phải chịu án phí, do ông H là người cao tuổi và có
đơn xin miễn phí.
2.2. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Quốc H phải chịu 38.048.000 (ba mươi
tám triệu không trăm bốn mươi tám nghìn) đồng tiền đo đạc, xem xét thẩm định
tại chỗ và định giá tài sản, ghi nhận ông Trần Quốc H đã chi phí xong.
4
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền
và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 03/10/2025, nguyên đơn ông Trần Quốc H kháng cáo không đồng ý
bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị
đơn trả phần đất diện tích 0,7 m
2
.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn ông Trần Quốc H do ông Trần Quốc D là người đại diện theo
ủy quyền trình bày: Phần đất của ông H và đất của Công ty X giáp ranh nhau.
Khoảng năm 2008-2009 Công ty X xây tường rào, khi đó ông H nghĩ rằng Công
ty xây đúng vị trí trên đất của mình nên ông H không có ý kiến gì. Đến năm 2022
ông H kiểm tra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới phát hiện đất ông H sử
dụng diện tích thiếu so với giấy chứng quyền sử dụng đất nên phát sinh tranh chấp
ranh giới. Vị trí đất tranh chấp diện tích 0,7 m
2
nằm bên trong hàng rào của Công
ty X. Đề nghị Hội đồng xét căn cứ vào quá quá trình hình thành thửa đất, các quy
định của luật để giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
Bị đơn do ông Phạm Quốc T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguồn gốc đất Công ty xăng dầu được Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Khoảng năm 2008-2009 Công ty xây tường rào trên đất
của mình, không lấn ranh, đã sử dụng ổn định không ai tranh chấp. Công ty sử
dụng đất ít hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi đó ông H sử
dụng thực tế nhiều hơn giấy chứng nhận nên ông H cho rằng Công ty lấn đất là
không phù hợp, đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Diệu H1 do bà Trần
Thị Kiều K trình bày: Bà thống nhất với trình bày của nguyên đơn, không bổ sung
gì thêm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và
đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của
đương sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn Trần Quốc H không đồng ý bản án
sơ thẩm, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
Thửa 6053: Do Công ty X thuê lại của UBND tỉnh T với diện tích 2.858,3m
2
và được cấp GCN.QSD đất thửa số 6053, năm 2009 để xây dựng cơ sở kinh doanh
xăng dầu theo Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 07/01/2008 của UBND tỉnh T.
Thửa 694: Năm 2000, ông H nhận chuyển nhượng của ông T1 khoảng
1.800m
2
(đã có GCN.QSD đất) và sang tên cho vợ chồng ông H. Năm 2008, ông
5
H mua thêm 79m
2
(được cấp GCN.QSD đất ngày 02/5/2008) và khoảng 200m
2
liền kề của ông H2 (chưa có GCN). Năm 2011, ông H bán 200m
2
cho ông T2 (sau
chuyển cho ông T3) và Nhà nước thu hồi khoảng 250m
2
làm đường 784, còn lại
1.348m
2
đứng tên vợ chồng ông H. Năm 2018, ông H đăng ký QSD phần diện
tích 200m
2
và làm thủ tục nhập 03 phần đất liền ranh. Ngày 19/11/2018, ông H
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa đất mới là thửa 694 tờ
bản đồ 30 diện tích 1.630,1m
2
.
Về ranh giới giữa các thửa đất: Theo kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại
chỗ phần đất tranh chấp 0,7 m
2
nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
cấp cho Công ty X (thuộc thửa 6053 tờ bản đồ 03). Đối chiếu hiện trạng với chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa 694 cấp cho ông Trần Quốc H là 1.630,1 m
2
so với
đo thực tế là 1.675,5 m
2
(tăng 45,1 m
2
); giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
6053 cấp cho Công ty là 2.858,3m
2
so với đo đạc thực tế là 2.750,1 m
2
(giảm 108,2
m
2
). Mặt khác, ông H khởi kiện cho rằng Công ty X lấn ranh của ông H nhưng
trên thực tế diện tích hiện trạng ông H nhiều hơn diện tích được cấp trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông H được cấp.
Từ các căn cứ nêu trên, có cơ sở xác định phần diện tích 0,7 m
2
mà ông H
yêu cầu đòi lại nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Công ty
X và phù hợp hồ sơ địa chính, kết quả đo đạc, thẩm định tại chỗ. Ông H không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh lấn đất; trong khi diện tích thực tế
thửa đất của ông H tăng so với diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn Trần Quốc H; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ
nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quốc H
được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, ông Trần Quốc H, ông Trần Quốc D, ông Phạm Quốc T, bà
Nguyễn Thị Diệu H1, bà Trần Thị Kiều K có mặt, các đương sự còn lại vắng mặt.
Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Nguyên đơn ông Trần Quốc H khởi kiện yêu cầu Công ty X trả phần đất
diện tích 0,7 m
2
thuộc một phần thửa 6053, tờ bản đồ số 03 (theo bản đồ 2010 đổi
thành thửa 294, 1132, tờ bản đồ số 30) đất tọa lạc tại khu phố B, phường N, tỉnh
Tây Ninh.
6
Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, đề
nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự còn lại không
kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương
sự không thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng
cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quốc H, thấy rằng:
[3.1] Vị trí đất tranh chấp:
Các đương sự thống nhất vị trí đất tranh chấp theo Mảnh trích đo sơ đồ hiện
trạng sử dụng đất số 29/SĐHT ngày 31/3/2025 của Công ty TNHH Đ, được Văn
phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh D1 duyệt ngày 24/6/2025 có diện tích 0,7 m
2
(0,25 m x 5,39 m) thuộc một phần thửa đất 6053, tờ bản đồ số 03 (theo sơ đồ đo
lưới năm 2010 đổi thành thửa 294, 1132, tờ bản đồ số 30), loại đất SKC, tọa lạc
tại khu phố B, phường N, tỉnh Tây Ninh do UBND tỉnh T cấp Công ty xăng dầu
tỉnh X theo giấy chứng nhận số vào sổ: T 01372. Vị trí nằm bên trong hàng rào
của Công ty xăng dầu tỉnh X đang quản lý sử dụng. Ông H cho rằng năm 2008
Công ty X xây hàng rào đã lấn đất của ông. Trong khi đó, Công ty X cho rằng 0,7
m
2
đất này nằm trong giấy chứng nhận đã được cấp cho Công ty, khi xây hàng rào
Công ty đã xây đúng ranh đất do Ủy ban nhân dân tỉnh T giao nên không đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3.2] Về nguồn gốc, quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Thửa 6053: Công ty X trình bày có nguồn gốc do Công ty X thuê lại của
UBND tỉnh T với diện tích 2.858,3m
2
và được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa số 6053, loại đất SKC theo Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày
07/01/2008 của UBND tỉnh T.
Thửa 694: Ông H trình bày vào năm 2000, ông mua 01 phần đất của ông
T1 diện tích khoảng 1800 m
2
, vợ chồng ông đã đứng tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Năm 2011, vợ chồng ông đã chuyển nhượng diện tích 200 m
2
(chiều
ngang 05 m x chiều dài 40m) cho ông Nguyễn Văn T2, sau đó ông T2 bán phần
đất này cho ông T3. Diện tích đất còn lại khoảng 1600 m
2
, đến khoảng năm 2011
thì Nhà nước thu hồi diện tích đất khoảng 250 m
2
để làm đường 784, diện tích còn
lại là 1348 m
2
. Năm 2008, vợ chồng ông có mua thêm diện tích 79 m
2
của ông H2
và vợ chồng ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/5/2008.
Khoảng năm 2008, vợ chồng ông tiếp tục mua phần đất diện tích khoảng 200 m
2
của ông H2 phần đất này chưa được cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do các vị trí đất này liền ranh nhau nên năm 2018, ông làm đơn xin đăng ký quyền
sử dụng đất nhập thửa gồm 1348 m
2
+ 79 m
2
và diện tích khoảng 200 m
2
thành 01
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 19/11/2018, ông được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa đất mới thành thửa 694 tờ bản đồ 30 diện tích 1.630,1
m
2
, loại đất ONT, CLN,LUK.
[3.3] Về diện tích hiện trạng sử dụng so với Giấy chứng nhận đã được cấp:
7
Đất của ông H sau khi hợp 03 thửa đất lại thành thửa 694, tờ bản đồ số 30,
diện tích ghi trong giấy chứng nhận là 1.630,1 m
2
, diện tích thực tế là 1.675,5 m
2
(tăng 45,1 m
2
). Đối với phần đất của Công ty X thuộc thửa số 6053, tờ bản đồ số
03 (nay đổi thành thửa 294-1132, tờ bản đồ số 30), diện tích trong giấy là 2.858,3
m
2
, diện tích thực tế là 2.750,1 m
2
(giảm 108,2 m
2
) so với diện tích đã được cấp.
Theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số 29/SĐHT ngày 31/3/2025, Biên bản
xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện diện tích 0,7 m
2
thuộc một phần thửa 6053, tờ
bản đồ số 03 là loại đất SKC đã được cấp cho Công ty X. Trong khi đó thửa đất
số 694, tờ bản đồ số 30 của ông H là đất ONT, CLN,LUK là các loại đất có mục
đích sử dụng khác nhau. Hiện trạng sử dụng đất của Công ty X với hồ sơ địa chính
và bản đồ đo đạc chính quy. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm ông H thừa nhận
vào năm 2008 khi Công ty X xây hàng rào ông biết nhưng không có ý liến phản
đối, các bên sử dụng đất đúng theo hiện trạng có hàng rào được xây dựng từ năm
2008 đến nay. Nay ông cho rằng đất của ông bị thiếu nên khởi kiện cho rằng Công
ty làm hàng rào lấn sang đất của ông nhưng ông không cung cấp được chứng cứ
chứng minh bị đơn có hành vi dịch chuyển mốc giới hoặc lấn chiếm đất. Do đó,
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn
cứ. Ông H kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới làm thay đổi nội dung
vụ án nên không có căn cứ chấp nhận. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham
gia phiên tòa.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông H không được chấp
nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, ông H là người cao tuổi có đơn xin
miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Do ông H được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên không hoàn
tiền tạm ứng án phí cho đương sự.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quốc H.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.
Căn cứ Điều 175 của Bộ luật Dân sự; Điều 17 của Luật Đất đai; Điều 165
của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Toà án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc H đối với Công
ty X, về “tranh chấp quyền sử dụng đất” diện tích 0,7 m
2
thuộc thửa 6053, tờ bản
8
đồ số 03 (theo bản đồ 2010 đổi thành thửa 294, 1132, tờ bản đồ số 30) đất tọa lạc
tại khu phố B, phường N, tỉnh Tây Ninh (có sơ đồ kèm theo).
2. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty X không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm.
Ông Trần Quốc H không phải chịu án phí, do ông H là người cao tuổi và
có đơn xin miễn phí.
2.2. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Quốc H phải chịu 38.048.000 (ba mươi
tám triệu không trăm bốn mươi tám nghìn) đồng tiền đo đạc, xem xét thẩm định
tại chỗ và định giá tài sản, ghi nhận ông Trần Quốc H đã chi phí xong.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Quốc H được miễn án phí.
4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trong trường hợp bản án được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 11 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 11 - Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 28/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm