Bản án số 179/2025/DS-PT ngày 30/12/2025 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 179/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 179/2025/DS-PT ngày 30/12/2025 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 179/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị O; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng. 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị O về việc yêu cầu Toà án buộc bị đơn ông Nguyễn Văn V1, bà Nguyễn Thị Q phải trả lại cho nguyên đơn diện tích 262m2 ao (diện tích theo đo đạc thực tế là 306,8m2) thuộc thửa đất số 322, tờ bản đồ số 194-D-IV; địa chỉ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 179/2025/DS-PT
Ngày 30-12-2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Bùi Duy Thạch
Ông Nguyễn Minh Tân
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số: 246/2025/TLPT-DS ngày 20
tháng 11 năm 2025 về việc tranh chấp về quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 228/2025/QĐ-PT ngày 08
tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 217/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng
12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1966 và bà ĐThị O, sinh năm
1967; địa chỉ: Thôn Đ, Q, huyện A (nay xã A), thành phố Hải Phòng; đều
mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn n N Đỗ
Thị O: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1990; ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 và
Hoàng Thị P, sinh năm 1997; cùng địa chỉ: P Tòa M G L, phường G, thành
phố Hải Phòng; ông V có mặt, ông T và bà P đều vắng mặt;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm
1965; địa chỉ: Thôn Đ, Q, huyện A (nay là A), thành phố Hải Phòng; đều
2
mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn V1 Nguyễn
Thị Q:Đoàn Thị Hải Y, sinh năm 1982, bà Nguyễn Minh T1, sinh năm 1981 và
Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1984; địa chỉ: P Tầng A, Tòa nhà T, số C L,
phường M, quận N (nay là phường N), thành phố Hải Phòng; bà Y và bà L đều
mặt, bà T1 vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1966 và bà Đ
Thị O, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải
Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2024, các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị O thống nhất trình bày:
Ông Nguyễn Văn N Đỗ Thị O diện tích đất 742m
2
tại thửa đất số
322, tờ bản đồ số 194-D-IV; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng
(nay là: Thôn Đ, A, thành phố Hải Phòng). Nguồn gốc đất như sau: m 1990,
ông N nhận chuyển nhượng của cụ ĐThị G (bà nội ông N) diện tích đất vườn
360m
2
trên đất có 03 gian nhà tranh, tre với giá 400.000 đồng. Năm 1991, b mẹ đẻ
ông N cụ Nguyễn Văn K, cụ Vũ Thị D cho tặng ông N 360m
2
ao. Tổng diện tích
đất theo ông N tự đo đạc 742m
2
. Đến m 1995, vợ chồng ông chuyển nhượng
cho anh trai ông Nguyễn Văn V1 diện tích đất vườn 480m
2
, trên đất 03 gian
nhà tranh, tre với giá 4.000.000 đồng. Phần diện tích đất còn lại sau chuyển nhượng
262m
2
ao. Năm 2003, ông Nguyễn Văn V1 tự đo đạc rồi gọi ông N vào giấy
chuyển nhượng n phần diện tích đất vườn nêu trên, ông N đã tên vào phần người
bán vào thời gian ngày 01/2/2004. Phần diện tích đất còn lại sau chuyển nhượng là
262m
2
ao ông N cho ông V1 mượn sử dụng tạm thời. Đến tháng 9 năm 2004 ông N
có nhu cầu sử dụng 262m
2
ao tông V1 không trả và cho rằng đã mua toàn bộ diện
tích đất trên dẫn đến hai bên xảy ra tranh chấp. Ngày 10/3/2024 ông V1 tý bơm
cát san lấp diện tích 262m
2
ao dẫn đến hai gia đình xảy ra t. Ngày 15/3/2024,
Ủy ban nhân dân Q (nay A) hoà giải trong cuộc hoà giải, ông V1 xuất
trình: Đơn xin chuyển nhượng đất thvới diện tích chuyển nhượng ghi trong đơn
là 622m
2
đề ngày 29/6/2003 có chữ kí của ông N nhưng ông N khẳng định không kí
vào văn bản này.
Nay nguyên đơn ông Nguyễn Văn N và Đỗ Thị O khởi kiện yêu cầu Toà
án: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn V1 Nguyễn Thị Q trả lại cho ông diện
tích 262m
2
đất ao mà ông V1, Q lấn chiếm. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà
O vợ ông N cho rằng không tên vào Đơn xin chuyển nhượng đất thổ với
3
diện tích 622m
2
đề ngày 29/6/2003 nên không công nhận tờ giấy này. Tại phiên
toà sơ thẩm nguyên đơn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày.
* Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn ông Nguyễn Văn V1, bà bà Nguyễn Thị Q
và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn thống nhất trình bày:
Năm 1995, ông Nguyễn Văn V1 Nguyễn Thị Q nhận chuyển nhượng
của ông Nguyễn Văn N Đỗ Thị O diện tích đất khoảng 622m
2
, diện tích này
do hai bên tự ước tính khi bán chứ không đo chính xác, trên đất 03 gian nhà
tranh, tre toàn bộ phần diện tích đất ao với giá 4.000.000 đồng. Thực tế khi gia
đình tự đo đạc lại730m
2
. Vợ chồng ông V1, bà Q đã giao đủ tiền 4.000.000 đồng
cho ông N, bà O đồng thời chuyển về luôn tại 03 gian nhà tranh, tre sử dụng
toàn bộ đất thổ cư và đất ao từ sau khi mua đến nay. Ông N, bà O đã nhận tiền, giao
đất và chuyển đi nơi khác ở (ra mặt đường A thuộc thôn Đ). Khi mới mua do là anh
em ruột nên ông bà tin tưởng nên chưa làm giấy tờ mua bán. Đến năm 2003, hai bên
gia đình xảy mâu thuẫn trong cuộc sống nên vợ chồng ông V1 mới yêu cầu vợ chồng
ông N làm thủ tục mua bán. Ngày 29/6/2003 ông V1 đã nhờ chị Phạm Thị H là cháu
họ viết h“Đơn xin chuyển nhượng đất thổ cư” nhờ hai người em họ Nguyễn
Thị T2, Nguyễn Thị T3 đưa “Đơn xin chuyển nhượng đất thổ cư” cho ông N đọc
tại ngày giỗ trong họ. Trong văn bản ghi diện tích đất chuyển nhượng 622m
2
và các mốc giới với các hộ giáp ranh, đến nay mốc giới vẫn giữ nguyên trạng. Đến
năm 2004 do giá trị đất tăng nên vợ chồng ông N phát sinh ý muốn đòi lại phần diện
tích đất ao 262m
2
đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông V1.
Do vậy, vợ chồng ông V1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn và khẳng định vợ chồng ông đã mua toàn b diện tích đất tại thửa đất số 322, tờ
bản đồ số 194-D-IV; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay là:
Thôn Đ, xã A, thành ph Hải Phòng).
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xem xét thẩm định
định giá tài sản đối với tài sản tranh chấp là thửa đất số thửa 322, tờ bản đồ số 194-
D-IV; địa chỉ: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng (trước đây là: Thôn Đ, Q,
huyện A, thành phố Hải Phòng) phần ao tranh chấp có diện tích thực tế đo được
306,8m
2
. Trị giá quyền sử dụng đất hiện tại là 3.000.000đ/1m
2
các đương sự không
ý kiến vkết quả xem xét thẩm định và định giá tài sản. Toà án đã tiến hành
trưng cầu giám định đi với chữ kí, chữ viết của ông Nguyễn Văn N trong “Đơn xin
chuyển nhượng đất thổ cư” ghi ngày 29/6/2003. Kết luận giám định số 2550/KL-
KTHS ngày 18/9/2025 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “Chữ kí, chữ
viết mang tên Nguyễn Văn N tại mc “Người đề nghị chuyển nhượng” trên mẫu cần
giám định ký hiệu A so với chữ kí, chữ viết của người mang tên Nguyễn Văn N trên
các mẫu so sánh hiệu M1, M2, M3 không đủ sở kết luận”. Các đương sự
4
không ý kiến gì về kết quả giám định. Toà án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân
dân xã A vào các ngày 25/7/2025 và 26/9/2025 thể hiện: Diện tích đất ao 262m
2
các
đương sự đang tranh chấp thuộc thửa đất số 322, tờ bản đồ số 194-D-IV; địa chỉ:
Thôn Đ, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay là: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải
Phòng) nguồn gốc do bố mẹ đẻ ông N cụ Nguyễn Văn K, Thị D cho tặng
ông N. Đất không nằm trên hành lang giao thông, không quy hoạch dự án, không
tranh chấp về ranh giới, mốc giới với các h liền kề. Qua xem xét thẩm định và định
giá tài sản đo đạc thực tế 306,8m
2
tăng 44,8m
2
, nguyên nhân do kỹ thuật đo đạc
qua các thời kỳ khác nhau nên dẫn đến sai số và đất chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 28
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xử:
Không chp nhn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N
Đỗ Thị O về việc yêu cầu Toà án buộc bị đơn ông Nguyễn Văn V1, Nguyễn
Thị Q phải trả lại cho ông N, bà O diện tích 262m
2
đất ao (diện tích theo đo đạc thực
tế 306,8m
2
)
thuộc thửa đất số 322, tờ bản đồ số 194-D-IV; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q,
huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng mà ông V1, bà Q lấn chiếm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo đối với các đương sự.
* Sau khi xét x sơ thẩm, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị O
kháng cáo toàn bộ bản án dân sự thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm huỷ bản án
thẩm xét xlại vụ án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Tại giai đoạn phúc thẩm, các đương sự cung cấp tài liệu chứng cứ mới cho
Toà án như sau:
- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn cung cấp cho Toà án: Hợp đồng uỷ
quyền ngày 10/12/2025, Quyết định uỷ quyền tham gia tố tụng s1012/QĐ-UQ
ngày 10/12/2025 + 02 CCCD tên Đoàn Thị Hải Y, Nguyễn Minh T1 (bản sao);
- Nguyên đơn ông Nguyễn n N cung cấp cho Toà án: 01 Đơn kiến nghị
ngày 14/12/2025 về việc đề nghị Toà án lùi thời gian mở phiên toà xét xử phúc thẩm;
01 Đơn đề nghị về việc hoãn phiên toà ngày 15/12/2025; 01 Văn bản trình bày ý
kiến ngày 15/12/2025 của nguyên đơn Đỗ Thị O về việc O không biết việc
chuyển nhượng giữa ông Nguyễn Văn Nông Nguyễn Văn V1, không nhận được
bất kỳ khoản tiền nào liên quan đến việc chuyển nhượng đất giữa ông N và ông V1;
O đề nghị Toà án không công nhận Đơn xin chuyển nhượng đất thổ ngày
5
29/6/2003 do ông Nguyễn Văn V1 cung cấp cho Toà án. Trường hợp Toà án công
nhận Đơn xin chuyển nhượng đất thổ ngày 29/6/2003 do ông Nguyễn Văn V1
cung cấp thì phải xác định nội dung này hiệu việc định đoạt tài sản chung
nhưng không được sự đồng ý của đồng sở hữu khác; 02 Giấy uỷ quyền ngày
11/12/2025.
- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn cung cấp cho Toà án: Đơn
xin xác nhận ngày 14/10/2025 về việc không nộp thuế đất nhà của ông Nguyễn
Văn N; 01 Đơn vviệc yêu cầu bị đơn cung cấp tài liệu ngày 17/12/2025 với nội
dung là đề nghị bị đơn cung cấp Đơn xin chuyển nhượng đất thổ cư ngày 29/6/2003
(bản gốc) cho Tán; 03 Đơn trình bày ngày 12/10/2025 (bản sao) của bà Phạm Thị
H1, ông Phạm Văn N1ông Nguyễn Văn D1, Đơn trình bày ngày 13/10/2025 của
Phạm Thị L1 vviệc ông Nguyễn Văn N chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn
V1 diện tích 480m
2
đất vườn, địa chỉ tại: Thôn Đ, Q, huyện A (nay A), thành
phố Hải Phòng; 01 Giấy uỷ quyền ngày 17/12/2025 của nguyên đơn Vi bằng ngày
15/12/2025 ghi nhận buổi làm việc của ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị C
ông Nguyễn Văn D1. Văn bản trình bày ý kiến ngày 21/12/2025 của bà Nguyễn Thị
C cung cấp cho Toà án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tc tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành thực hiện đúng các quyền
và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N bà
Đỗ Thị O: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các chứng cứ các đương
sự đã nộp tại giai đoàn phúc thẩm và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm. Căn
cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật TTDS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vQuốc hội. Đền N2 Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N, Đỗ Thị O, giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án khu vực 2 -
Hải Phòng.
Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N Đỗ Thị O phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Đây vụ án tranh chấp
6
quyền sử dụng đất thuộc tranh chấp dân sự theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ
luật Tố tụng dân sự. Do vụ án kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
- Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị O:
[2] Về nguồn gốc diện tích 262m
2
đất ao các đương sự hiện đang tranh chấp:
Diện tích đất ao 262m
2
thuộc thửa đất số 322, tờ bản đồ số 194-D-IV; địa chỉ: Thôn
Đ, Q, huyện A, thành phHải Phòng (nay là: Thôn Đ, A, thành phố Hải Phòng)
nguồn gốc do bố mẹ đẻ ông N là cụ Nguyễn Văn K, Thị D cho tặng ông N.
Hiện tại, qua xem xét thẩm định định giá tài sản đo đạc thực tế 306,8m
2
tăng
44,8m
2
, nguyên nhân do kỹ thuật đo đạc qua các thời kỳ khác nhau nên dẫn đến sai
số và đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3] Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên:
[3.1] Quan điểm của nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị
O cho rằng: Ông bà chỉ chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn V1 diện tích đất vườn
480m
2
trên đất có 03 gian nhà tranh, tre với giá 4.000.000 đồng. Còn phần diện tích
đất ao 262m
2
đo đạc thực tế 306,8m
2
ông không chuyển nhượng đã cho
vợ chồng anh trai là ông V1, bà Q mượn sử dụng tạm. Ngoài lời trình bày, ông N,
O không có bất kì tài liệu, chứng cứ nào chứng minh rằng mình cho ông V1,
Q mượn đất ao sử dụng tạm. Ông N khẳng định vào văn bản chuyển nhượng
đất cho ông V1 nhưng văn bản đó đề ngày 01/02/2004, tuy nhiên ông không xuất
trình được văn bản đề ngày 01/02/2004 mà ông cho rằng mình đã kí.
[3.2] Quan điểm của bị đơn ông Nguyễn Văn V1 Nguyễn Thị Q cho
rằng: Do là con trưởng lên khi em trai là anh N chuyển nhà ra mặt đường mười ở, vì
vậy bố mẹ yêu cầu vợ chồng ông V1 bán nhà hiện đang ở được 3.000.000 đng sau
đó thêm 1.000.000 đồng tổng là 4.000.000 đồng để trả tiền cho vợ chồng em trai
anh N lấy lại căn nhà và đất do nội để lại toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số
322, tờ bản đồ số 194-D-IV, trong đó có phần đất thổ cư và phần đất ao. Do là anh
em ruột khi mua bán vào năm 1995 không viết giấy tờ gì. Sau đó ông đã chuyển
ngay về tại 03 gian nhà tranh tre sử dụng toàn bộ diện tích đất. Mãi đến năm
2004, do giá đất lên ông N, bà O mới nảy ra ý định đòi lại phần ao. Ông V1bà Q
đã thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước từ năm 1995 đến nay bao gồm cả đất ở
và đất ao nằm trong toàn bộ thửa đất số 322, tờ bản đồ số 194-D-IV; địa chỉ: Thôn
Đ, xã Q, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng.
[3.3] Các đương sự đều thừa nhận rằng: Năm 1995 ông Nguyễn Văn N và bà
Đỗ Thị O chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn V1 và bà Nguyễn Thị Q. Các
7
đương sđều thừa nhận: Ông V1, bà Q đã giao 4.000.000 đồng tiền mua đất cho
ông N, O đến sinh sống tại thửa đất số 322, tờ bản đồ số 194-D-IV từ năm
1995 đến nay, không tranh chấp với ai, hiện trạng ranh giới đất không thay đổi.
Các đương sự đều thừa nhận: Sau khi chuyển nhượng đất cho ông V1, bà Q thì ông
N, bà O đã ra mặt đường 10 (cũng thuộc thôn Đ) sinh sống từ năm 1995 đến nay.
[4] Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử nhận định việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa vợ chng ông Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị O với vợ chồng
ông Nguyễn Văn V1 Nguyễn Thị Q năm 1995 là thật. Ông V1, Q đã
giao tiền mua đất 4.000.000 đồng đầy đcho ông N, O đến sinh sống trên
đất từ năm 1995 đến nay là có thật. Xét, thực tế ông N, bà O sau khi nhận 4.000.000
đồng tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã chuyển ra chỗ khác (mặt đường 10
thuộc thôn Đ) sinh sống từ 1995 đến nay. Ông N, bà O không có lần nào quay lại sử
dụng bất kì diện tích đất nào thuộc thửa đất số 322, tờ bản đồ số 194-D-IV. Đối với
ông V1, Q sau khi giao tiền, nhận đất đã chuyển đến sinh sống sử dụng ổn định
tại thửa đất số 322, tờ bản đồ số 194-D-IV không tranh chấp với ai từ năm 1995 đến
năm 2004. Thời điểm hai bên thực hiện việc chuyển nhượng đất và gần 10 năm sau
khi giao đất, nhận tiền cả hai bên đã sinh sống ổn định nơi mới, không phát sinh
tranh chấp. Như vậy, không phát sinh tranh chấp tại thời điểm mua bán thời
điểm sau mua bán. Tại lời khai của những người chứng kiến sự việc như: ông Đỗ
Xuân C1 Phó thôn Đ giai đoạn từ năm 1995 đến 2000 trưởng thôn Đâu Kiên
từ năm 2000 đến 2020; Phạm Thị Y1 hàng xóm liền kề diện tích đất tranh chấp,
Nguyễn Thị C là chị gái ruột của ông N, ông V1. Tất cả những người trên đều
khẳng định hai bên có chuyển nhượng đất cho nhau, sau khi chuyển nhượng hai bên
đều đã sinh sống ổn định ở nơi mới từ năm 1995. Hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền
nghĩa vụ với nhau trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 1995. Đối
chiếu với các quy định tại các điều 688, 385, 500, 501, 502 của Bộ luật Dân sự năm
2017 và khoản 1 Điều 27, Khoản 3 Điều 31 Điều 45 của Luật đất đai 2024 thì
việc chuyển nhượng đất hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, không có
sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. vậy, Bản án thẩm số
49/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải
Phòng xét xử hoàn toàn đúng quy định pháp luật.
[5] Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, các đương sự cung cấp tài liệu chứng cứ
mới cho Toà án như sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N cung cấp cho Toà án: 01 Đơn kiến nghị ngày
14/12/2025 về việc đề nghị Toà án lùi thời gian mở phiên toà xét xử phúc thẩm; 01
Đơn đề nghị về việc hoãn phiên toà ngày 15/12/2025; 01 Văn bản trình bày ý kiến
ngày 15/12/2025 của nguyên đơn bà Đỗ Th O về việc bà O không biết việc chuyển
8
nhượng giữa ông Nguyễn Văn N ông Nguyễn Văn V1, không nhận được bất kỳ
khoản tiền nào liên quan đến việc chuyển nhượng đất giữa ông N ông V1; O
đề nghị Toà án không công nhận Đơn xin chuyển nhượng đất thổ ngày 29/6/2003
do ông Nguyễn Văn V1 cung cấp cho Toà án. Trường hợp Toà án công nhận Đơn
xin chuyển nhượng đất thổ cư ngày 29/6/2003 do ông Nguyễn Văn V1 cung cấp t
phải xác định nội dung này là hiệu vì việc định đoạt tài sản chung nhưng không
được sự đồng ý của đng sở hữu khác; 02 Giấy uỷ quyền ngày 11/12/2025.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn cung cấp cho Toà án: Đơn xin
xác nhận ngày 14/10/2025 về việc không nộp thuế đất nhà của ông Nguyễn Văn
N; 01 Đơn về việc yêu cầu bị đơn cung cấp tài liệu ngày 17/12/2025 với nội dung
đề nghị bị đơn cung cấp Đơn xin chuyển nhượng đất thổ ngày 29/6/2003 (bản
gốc) cho Toà án; 03 Đơn trình bày ngày 12/10/2025 (bản sao) ca bà Phạm Thị H1,
ông Phạm Văn N1 ông Nguyễn Văn D1, Đơn trình bày ngày 13/10/2025 của
Phạm Thị L1 về việc ông Nguyễn Văn N chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn
V1 diện tích 480m
2
đất vườn, địa chỉ tại: Thôn Đ, Q, huyện A (nay A), thành
phố Hải Phòng; 01 Giấy uỷ quyền ngày 17/12/2025 của nguyên đơn Vi bằng ngày
15/12/2025 ghi nhận buổi làm việc của ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị C
ông Nguyễn Văn D1. Văn bản trình bày ý kiến ngày 21/12/2025 của bà Nguyễn Thị
C cung cấp cho Toà án.
Hội đồng xét xử nhận định những chứng cứ trên không căn cứ làm thay đổi
nội dung vụ án. vậy, không căn cứ đchấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
ông Nguyễn Văn NĐỗ Thị O về việc đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại
vụ án theo hướng hủy toàn bộ bản án thẩm chấp nhận toàn byêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị O; giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 2 - Hải Phòng.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1
Điều 26; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Văn NĐỗ Thị O không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ án
phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
9
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông
Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị O không được chấp nhận nên ông N và bà O phải chịu
toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều
38, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều
165, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244; Điều 266, Điều 273; khoản 1 Điều 308
của Bộ luật T tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 688, Điều 385, Điều 500, Điều 501, Điều 502 Bộ luật
dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 27, khoản 3 Điều 31 và Điều 45 Luật đất đai năm 2024;
Căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 1Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N
Đỗ Thị O; ginguyên Bản án sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N
Đỗ Thị O về việc yêu cầu Toà án buộc bđơn ông Nguyễn Văn V1, Nguyễn
Thị Q phải trả lại cho nguyên đơn diện tích 262m
2
ao (diện tích theo đo đạc thực tế
306,8m
2
) thuộc thửa đất số 322, tờ bản đồ số 194-D-IV; địa chỉ: Thôn Đ, A,
thành phố Hải Phòng mà ông V1, bà Q lấn chiếm.
2. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N Đỗ Thị O phải
chịu toàn bộ chi phí xem t, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông N O
đã nộp đủ chi phí trên.
3. Về án phí:
Về án phí dân sthẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N Đỗ Thị O
phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn N và bà Đ Thị O
đã nộp số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tại Chi cục Thi hành
án Dân sự huyện An Lão (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Hải Phòng)
theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007494, ngày 07/11/2024. Do đó, ông Nguyễn
Văn N và bà Đỗ Thị O đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
10
Về án phí dân sphúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn NĐỗ Thị O
phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Ông N, O đã nộp stiền
tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0004456 ngày 20/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Ông N,
O đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm
4. Trường hợp bản án được thi nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 2 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 2 - Hải Phòng ;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Tải về
Bản án số 179/2025/DS-PT Bản án số 179/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 179/2025/DS-PT Bản án số 179/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất