Bản án số 222/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 222/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 222/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 222/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Đức T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 222/2025/DS-PT
Ngày: 31 - 12 - 2025.
V/v: Tranh chấp quyền sử
dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Hoàng Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Bà: Vũ Thị An.
Bà: Lý Thị Thúy.
- Thư phiên tòa: Diệp Thu Trang - Thư Tán nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Nông Văn
Đổi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ số: 158/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng
11 năm 2025 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 14/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 4 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số: 235/2025/QĐPT-DS
ngày 15 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Đức H, sinh năm: 1962. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Đức T, sinh năm: 1970. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Dương Thị L, sinh năm: 1980. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên.
4. Người làm chứng:
Đỗ Thị T1, sinh năm: 1956. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ A, phường S, tỉnh Thái Nguyên.
2
5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Đỗ Đức T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Ông H, ông T và T1 anh chị em ruột trong gia đình. Thửa đất 282 tờ
bản đồ 20 bản đồ địa chính diện tích 141,3 m² đất thổ cư có nguồn gốc là của b
mẹ đẻ của ông cụ Đỗ Văn H1 (đã chết năm 2007) cụ Nguyễn Thị Đ (đã
chết năm 2013). m 1993, cụ Đ cần tiền xây nhà đã bán cho T1 thửa đất
này. T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA372672 số
vào số cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00024/QSDD/2004/QĐ-
UB/H do UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 27/6/2005 cho Đỗ Thị
T1. T1 công tác tại P nên chưa sử dụng đến, ông H để nhờ đồ đạc vật
dụng một phần thửa đất do nhà ông sửa chữa xe ô tô. Năm 2006, ông H và
T1 thoả thuận, T1 đthửa đất cho ông H, ông H đưa bà một khoản tiền. Đến
năm 2017, T1 làm thủ tục tặng cho ông H thửa đất tại quan nhà nước
thẩm quyền, việc tặng cho là cho riêng cá nhân ông, không viết giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mới mà điều chỉnh tại trang 4 của giấy CNQSD đất như sau:
Tặng cho QSD đất cho ông Đỗ Đức H theo hồ số 001273TA: 01273 (Tặng
cho không viết giấy chứng nhận mới) do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện Đ điều chỉnh ngày 29/7/2019 với diện tích 141,3 m² đất thổ cư.
Hiện trạng thửa đất khi nhận tặng cho có tứ cận như sau:
Phía đông tiếp giáp đường giao thông.
Phía tây tiếp giáp thửa đất 281 của cụ Nguyễn Thị Đ.
Phía nam tiếp giáp thửa đất 283 (không có tranh chấp).
Phía bắc tiếp giáp thửa đất 281 của cụ Nguyễn Thị Đ.
Tổng diện tích là 141,3 m² đất thổ cư.
Phần giáp thửa 281 (phía Bắc) thửa 283 (phía Nam) tờ bản đồ 20
ranh giới rõ ràng, không có tranh chấp với các hộ khác liền kề, do các hộ liền kề
đã xây dựng nhà kiên cố.
- Ông H sử dụng ổn định thửa đất đến năm 2021 thì phát sinh tranh chấp
do ông H đến rào lại thửa đất theo ranh giới T1 chỉ nhưng ông T không đồng
ý. Ngày 23/10/2024, UBND thị trấn C đã tiến hành xuống thực địa kiểm tra, tiến
hành hoà giải nhiều lần, gia đình chính quyền đã giải thích cho ông T nhưng
ông T không nghe. Sau đó gia đình ông T đã tự ý sử dụng rào lại bằng lưới
B40 lấn chiếm sang phần đất của ông H 35,6 m².
Nay ông H đề nghị ông T L trả lại cho ông H diện tích đất tranh
chấp theo Bản trích đo hiện trạng thửa đất của Toà án nhân dân khu vực 4 - Thái
Nguyên khi xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/7/2025 là 35,6 m² tại thửa đất số
282 tờ bản đồ địa chính số 20 bản đồ địa chính thị trấn C tại xóm B, thị trấn C,
huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (nay xóm B, Đ, tỉnh Thái Nguyên). Diện tích
3
tranh chấp nằmphía tây của thửa đất, tiếp giáp thửa đất 281 (giấy CNQSD đất
tên cụ Nguyễn Thị Đ) hiện tại ông T L đang quản lý, sdụng. Về tài sản
trên đất 01 bếp không còn giá trị sử dụng, không giá trị, đã đổ nát, ông
không yêu cầu giải quyết tài sản này.
Về lưới sắt B40, đề nghị ông T, bà L di dời toàn bộ trả lại đất cho ông H.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đỗ Đức T trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất của bố mẹ đông như ông H trình bày đúng.
Thửa đất này T1 nhận chuyển nhượng của mông là cụ Đ khoảng năm 1993
- 1995. T1 sử dụng từ thời gian đó cho đến khoảng năm 2006 - 2007 chuyển
nhượng cho ông H. Năm 2019 bà T1 và ông H chính thức làm thủ tục pháp lý tại
quan nhà nước thẩm quyền. Việc chuyển nhượng thửa đất 282 tờ bản đồ
20 bản đđịa chính Đ diện tích 141,3 đất thổ giữa mẹ ông cho T1
và bà T1 cho ông H như ông H trình bày là đúng, các anh em trong gia đình đều
nhất trí việc chuyển nhượng, tặng cho này không ai ý kiến phản đối hay bất
kỳ tranh chấp gì. Ông nhất trí việc ông H tiếp tục có quyền sử dụng 141,3 m² đất
thổ thuộc thửa 282 tờ bản đồ 20, địa chỉ tại Đ, tỉnh Thái Nguyên tiếp giáp
với thửa đất 281 tờ bản đồ 20 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên cụ
Nguyễn Thị Đ) do ông và bà L đang trực tiếp quản lý, sử dụng.
Đối với phần diện tích 35,6 ông H đang khởi kiện không phải nằm
trong thửa 282 tờ bản đồ 20 diện tích đất này nằm trong thửa đất số 281 tờ
bản đồ số 20 của gia đình ông đang sdụng, giấy CNQSD đất tên cụ Nguyễn
Thị Đ, cụ Đ đã để lại cho ông nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Hiện trạng phần
đất đang tranh chấp ông T L đã sử dụng rào lại ttrước đến năm 2020
do có việc phải đi qua thửa đất ông đã tháo dỡ hàng rào và đến năm 2021 ông T
đã rào lại phần diện tích đất này bằng hàng rào B40 tại đúng vị tđã rào thì
phát sinh tranh chấp. Ông T nhất trí với kết quả xem xét thẩm định định giá,
ông không ý kiến gì. Việc xác định hiện trạng 35,6 m² đất tranh chấp thuộc
thửa 282 tờ bản đồ 20 do quá trình thời điểm nhà nước thực hiện đo đạc bản
đồ địa chính của Đ đã đo sai toàn bộ khu vực xóm B. Ông không đồng ý với
trích lục bản đồ của UBND Đ, ông đang ý kiến yêu cầu đo đạc lại toàn bộ
các thửa đất của nhà ông khu vực xóm B, Đ (yêu cầu này của riêng gia
đình ông để sau này ông làm thủ tục chuyển đất sang tên ông, không phải yêu
cầu trong v án) nhưng chưa thấy quan nhà nước đo đạc lại. Do đó, ông
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị L trình bày:
nhất trí với toàn bộ ý kiến của ông T. Năm 2021 khi ông T và bà L thực hiện rào
lại thửa đất để sử dụng thì phát sinh tranh chấp với ông H. Không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của ông H.
Người làm chứng Đỗ Thị T1 trình bày: Đỗ Thị T1 xác định phần
diện tích đất tranh chấp giữa ông H với gia đình ông T, L hiện tại có
nguồn gốc thuộc thửa 282 tờ bản đồ 20 diện tích 141,3 đất thổ của bố m
đẻ của cụ Nguyễn Thị Đ, cụ Đỗ Văn H1. Năm 1993 khi mẹ bà cần tiền để
xây nhà đã vừa bán vừa cho thửa đất này. đã được bàn giao thửa đất
4
nhưng do bà sinh sống và làm việc ở xa nên đã để mẹ tiếp tục sử dụng. Đến năm
2005 mới làm thủ tục tặng cho đất để sang tên theo quy định của pháp
luật. đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA372672 số vào
số cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00024/QSDD/2004/QĐ-UB/H do
UBND huyện Đ cấp ngày 27/6/2005 cho bà Đỗ Thị T1. Do bà không có nhu cầu
sử dụng n năm 2006, ông H em trai của bà đã thoả thuận tặng cho
nhau, ông H đưa một khoản tiền. đã nhận tiền và bàn giao đất cho ông H
quản lý.
Tại biên bản làm việc ngày 23/9/2025 ông Mai Đình L1 chuyên viên
phòng kinh tế - UBND Đ, tỉnh Thái Nguyên cung cấp như sau: UBND
Đ xác định đối với các thửa đất 282, 281 tờ bản đồ 20 bản đđịa chính thị trấn
C (cũ) được đo đạc bản đồ địa chính các quan đã kiểm tra, phê duyệt theo
thẩm quyền và các quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành đo đạc, xem xét, thẩm định tại
chỗ ngày 23/7/2025 thể hiện: Hiện trạng diện tích đất tranh chấp 35,6 m² giữa
các bên thuộc thửa đất số 282 tờ 20 bản đđịa chính Đ, tỉnh Thái Nguyên.
vị trí E-3-4-F-E theo bản vẽ hiện trạng. Trên diện tích đất tranh chấp bếp
đã cũ, đổ nát và 01 hàng rào lưới B40 của ông T bà L dài khoảng 7,56 m.
Kết quả định giá tài sản ngày 13/8/2025 như sau: Đất tranh chấp loại
đất thổ giá trị 8.000.000 đồng/1m², tổng giá trị: 35,6 x 8.000.000
đồng/m² = 284.800.000 đồng.
Về hàng o B40 bếp đã xuống cấp, nát, không giá trị và
không còn giá trị sử dụng nên hội đồng định giá không tiến hành định giá.
Các đương sự đều nhất trí với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ
và định giá tài sản.
Tại bản án dân sự thẩm số: 14/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 9 Điều 26; các Điều 35, 39, 147, 157, 165, 264, 271, 273
Bộ luật tố tụng dân snăm 2015. Các điều 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Điều 5, 166 Luật đất đai 2013; Điều 4, 26, 236 Luật đất đai 2024. Nghị quyết số
326/2016 UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Đức H.
2. Buộc ông Đỗ Đức T và bà Dương Thị L phải trả lại ông Đỗ Đức H diện
tích 35,6 m² đất thổ tại thửa đất số 282 tờ bản đồ địa chính số 20 Đ, tỉnh
Thái Nguyên. Đã được cấp giấy CNQSD đất cho Đỗ Thị T1 số AA 372672
số vào số 00024QSDĐ/.../2004/QH-UB/H do UBND huyện Đ cấp ngày
27/6/2005 và điều chỉnh trang bốn: Tặng cho QSD đất cho ông Đỗ Đức H theo
hồ số 001273TA: 01273 (Tặng cho không viết giấy chứng nhận mới) do Chi
5
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Đ điều chỉnh ngày 29/7/2019. Cụ thể
35,6 m² có vị trí “E-3-4-F-E" (có sơ đồ kèm theo).
3. Ông ĐĐức H được quyền sử dụng 35,6 m² đất thổ tại thửa đất số
282 tờ bản đồ địa chính số 20 xã Đ, tỉnh Thái Nguyên vị trí "E-3-4-F-E".
4. Buộc ông Đỗ Đức T Dương Thị L phải tháo dỡ 7,56 m hàng rào
B40 để trả lại đất tranh chấp cho ông H.
5. Về chi phí tố tụng: Ông Đỗ Đức T ơng Thị L phải liên đới
chịu 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền chi phí tố tụng. Ông Đỗ Đức H đã
nộp đủ 10.000.000 đồng tiền chi phí tố tụng và đã chi phí xong. Ông Đỗ Đức T,
Dương Thị L phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Đỗ Đức H 10.000.000
đồng (Mười triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mc lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
của bộ luật dân snăm 2015 tương ứng với số tiền thời gian chậm thi hành
án.
6. Về án phí dân sự thẩm: Ông Đỗ Đức T, Dương Thị L phải liên
đới chịu 14.240.000 đồng (Mười bốn triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền
án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương s
theo quy định của pháp luật.
Ngày 02 tháng 10 năm 2025, bị đơn ông Đỗ Đức T kháng cáo không nhất
trí với quyết định của bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện, không chấp nhận toàn
bộ kháng cáo của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
- Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghTòa án cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Đức H.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Dương Thị L nhất trí với
trình bày của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Nguyên phát biểu: Việc tuân theo
pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên toà, người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết ván, đảm bảo đúng quy định của
pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét x không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu
vực 4 - Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ
thẩm đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh
chấp, người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập, tiếp cận, công khai chứng
chứng, hoà giải, trình tự thủ tục tại phiên toà thẩm đúng quy định của pháp
luật.
Đơn kháng cáo của bị đơn làm đúng theo các quy định của pháp luật n
được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Đức
T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
2.1. Về nguồn gốc đất tranh chấp và quá trình sử dụng:
Các đương sự đều thừa nhận xác định nguồn gốc thửa đất 282, tờ bản
đồ số 20 diện ch 141,3 m
2
đất thổ của Đỗ Thị T1 chị gái của ông H,
ông T nhận chuyển nhượng từ cụ Đ (mẹ đẻ của ông H, ông T, T1) khoảng
năm 1993. T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA
372672 số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00024/QSDĐ/2004/QĐ-UB/H do UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày
27/6/2005, diện tích 141,3 m
2
đất thổ cư. T1 sử dụng từ thời gian đó cho đến
khoảng năm 2006 thì chuyển nhượng bàn giao cho ông H quản lý, sử dụng.
Năm 2019, bà T1 và ông H làm thủ tục pháp lý tặng cho tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới mà được chỉnh
tại trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Tặng cho quyền sử dụng
đất cho ông Đỗ Đức H theo hồ số 001273TA: 01273 (tặng cho không viết
giấy chứng nhận mới) do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Đ điều
chỉnh ngày 29/7/2019 với diện tích 141,3 m
2
. Đây chứng cứ không phải
chứng minh do các bên đương sự đều thừa nhận.
Nguyên đơn trình bày: Phần đất nhận tặng cho từ bà T1 ranh giới rõ
ràng, không có tranh chấp với các hộ liền kề, do các hộ liền kề đã xây dựng kiên
cố. Ông H sử dụng ổn định, đến năm 2021 thì mới xảy ra tranh chấp.
Bị đơn trình bày: Nhất trí với việc ông H quyền sử dụng diện tích
141,3 m
2
đất thổ cư thuộc thửa số 282, tờ bản đồ số 20 nhưng ông không đồng ý
với hiện trạng phần tranh chấp 35,6 m
2
thuộc thửa số 282, tờ bản đồ số 20 vì cho
rằng cơ quan nhà nước đã đo đạc sai bản đồ địa chính.
2.2. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Đỗ Thị T1 xác định phần diện tích đất tranh chấp 35,6 m
2
thuộc thửa
số 282, tờ bản đồ số 20 diện tích 141,3 m
2
đất thổ bà nhận chuyển nhượng t
mẹ bà cụ Đ, thửa đất này bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
năm 2005. Sau đó năm 2006 thì T1 tặng cho em ông Đỗ Đức H, đến
7
năm 2019 thì ông H thực hiện thủ tục tặng cho tại quan nhà nước thẩm
quyền.
Theo bản đồ địa chính thị trấn C thể hiện thửa đất 282, tờ bản đồ số 20
diện tích 141,3 m
2
loại đất thổ cư. Kết quả đo đạc thực tế thửa đất có ranh giới
ràng: Phía đông giáp đường giao thông; Phía Tây phía Bắc giáp thửa đất
281 ông T, L đang sử dụng; Phía Nam giáp thửa đất 283. Phía Bắc và phía
Nam của thửa đất có ranh giới rõ ràng, các hộ giáp ranh đã xây dựng nhà kiên c
không tranh chấp. Phần diện tích đất tranh chấp diện tích 35,6 m
2
thuộc thửa
282 tờ bản đồ số 20. Phần diện tích đất tranh chấp không nằm trong thửa đất 281
tờ bản đồ số 20.
UBND Đ ng đã xác định đối với các thửa đất 282, 281 tờ bản đ20
bản đồ địa chính thị trấn C (cũ) được đo đạc bản đồ địa chính và các quan đã
kiểm tra, phê duyệt theo thẩm quyền và các quy định của pháp luật.
Đối với thửa đất số 281 tờ bản đồ số 20 đã được UBND tỉnh T cấp Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất số R 921285 ngày 21/9/2000 cho hcụ Nguyễn
Thị Đ (hiện nay ông T, L đang quản lý, sử dụng) diện tích 179,30 m
2
.
Diện tích đất ông T chỉ khi Tòa án xem xét, thẩm định tại chthì diện tích thửa
đất 281 ông T chỉ 272 m
2
chênh lệch so diện tích cụ Đ đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất 92,7 m
2
, trong khi các h giáp ranh xung
quanh thửa 281, 282 tbản đsố 20 đã xây dựng nhà kiên cố, sử dụng ổn định,
công khai và không có tranh chấp.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy về nguồn gốc quá trình sdụng
đất người làm chứng, những tài liệu do các đương sự cung cấp đều xác định diện
tích đất tranh chấp 35,6 m
2
ông Đỗ Đức H quản lý, sử dụng thuộc thửa số
282, tờ bản đồ số 20. Do đó, Tòa án cấp thẩm buộc ông T, bà L phải tháo dỡ
hàng rào B40 để trả lại 35,6 m
2
đất cho ông H là hoàn toàn có căn cứ.
Ông Đỗ Đức T nhất trí với việc ông H quyền sử dụng diện tích 141,3
m
2
đất thổ thuộc thửa s282, tờ bản đồ s20 nhưng ông cho rằng diện ch
đất tranh chấp 35,6 m
2
nằm trong thửa 281 của ông T theo ông quan nhà
nước thẩm quyền đã đo đạc sai bản đồ địa chính nhưng ông không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho lời trình bày của ông căn
cứ nên không có cơ sở để chấp nhận.
Như vậy, Toà án cấp thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan
toàn bcác chng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bị đơn
kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng
minh yêu cầu kháng cáo căn cứ pháp luật. Do vậy, yêu cầu kháng cáo của
bị đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, cần giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
[3] Về án phí:
Yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được Hội đồng xét xphúc thẩm
chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí n sự phúc thẩm theo quy định
của pháp luật.
8
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Đức T. Giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm số: 14/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Đỗ Đức T phải chịu 300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền
300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông Đỗ Đức T
đã nộp theo biên lai số 0001581 ngày 20/10/2025 tại Thi hành án Dân sự tỉnh
Thái Nguyên. Xác nhận ông T đã nộp đủ.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự thẩm không kháng cáo,
không bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án n scó
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự”
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND khu vực 4 - Thái Nguyên;
- TAND khu vực 4 - Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Phòng THA khu vực 4 - Thái Nguyên;
- THA Dân sự tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Anh Tuấn
9
Tải về
Bản án số 222/2025/DS-PT Bản án số 222/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 222/2025/DS-PT Bản án số 222/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất