Bản án số 09/2026/DS-PT ngày 07/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 09/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 09/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 09/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 09/2026/DS-PT ngày 07/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 09/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | ông T khởi kiện yêu cầu ông Dương Trung H tháo dở 01 phần căn nhà sau và trả lại cho ông T diện tích đất lấn chiếm theo đo đạc 1,6m2 (phần đất hình tam giác), giá trị là 1.700.000 đồng/01m2 tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp A, xã N, tỉnh Cà Mau) |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 09/2026/DS-PT
Ngày 07 – 01– 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Trung
Ông Ninh Quang Thế
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuỷ Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Từ
Thanh Thuỳ – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 564/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 11
năm 2025 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 600/2025/QĐ-PT ngày 15
tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Minh T (B), sinh năm 1950 (Có mặt);
Căn cước công dân số 096050000168, cấp ngày 04/4/2021
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp A, xã N, tỉnh
Cà Mau).
- Bị đơn: Ông Dương Trung H, sinh năm 1955 (Có mặt);
Căn cước công dân số 096055002977, cấp ngày 28/6/2021
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp A, xã N, tỉnh
Cà Mau).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Tấn S, sinh năm 1966 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp A, xã N, tỉnh
Cà Mau).
2. Ngân hàng N
Địa chỉ: Số B, Phố L, phường B, thành phố Hà Nội.
2
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền: Ông Lê Minh H1, chức vụ: Phó
Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh N1, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Dương Trung H, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo ông Lê Minh T trình bày:
Vào năm 2001, ông T có nhận chuyển nhượng của ông Phạm Tấn S phần đất
kích thước chiều ngang 5,7m, chiều dài 20m; khi nhận chuyển nhượng có làm hợp
đồng bằng văn bản. Đến ngày 27/11/2003, ông T được Ủy ban nhân dân huyện N
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 832169, thửa đất số 111, tờ bản đồ số
15, diện tích 131,6m
2
tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Phần đất có tứ
cận: Mặt tiền giáp lộ xe; Mặt hậu giáp phần đất của ông Dương Trung H; Mặt tiền
nhìn vào vách phải giáp đất ông Mai Thanh T1; Mặt tiền nhìn vào vách trái giáp cơ
sở vật liệu xây dựng của ông Phạm Thành T2.
Nay ông T có nhu cầu làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho con là anh
Lê Hữu T3, khi đo đạc xác định ranh đất, ông H không thống nhất ranh đất và cho
rằng phần đất là của gia đình ông H nên các bên xảy ra tranh chấp. Do đó, ông T
khởi kiện yêu cầu ông Dương Trung H tháo dở 01 phần căn nhà sau và trả lại cho
ông T diện tích đất lấn chiếm theo đo đạc 1,6m
2
(phần đất hình tam giác), giá trị là
1.700.000 đồng/01m
2
tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp A, xã
N, tỉnh Cà Mau). Trường hợp, ông H công nhận phần đất diện tích 131,6m
2
là của
ông T thì ông T đồng ý cho ông H phần đất tranh chấp nêu trên.
Tại phiên toà sơ thẩm, anh Lê Minh T4 là người đại diện của ông Lê Minh T xin
rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T đối với ông H; về chi phí tố tụng, ông T
tự chịu.
- Theo ông Dương Trung H trình bày:
Nguồn gốc phần đất: Phần đất do cụ Dương Văn T5 là cha của ông H khai
phá năm 1970 để sử dụng trồng rẫy. Sau năm 1975, cụ T5 hiến một phần đất để
làm sân bóng và một phần hậu đất để trống. Sau đó cụ T5 cho ông H một phần đất
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như trên; năm 2000 ông H cất nhà,
phía sau nhà là phần đất trống. Năm 2001, ông H được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng với diện tích 187m
2
, thửa đất số 129, tờ bản đồ số 05. Ranh giới tứ cận
phần đất: Mặt tiền giáp sông C; Mặt hậu giáp lộ xe; Mặt tiền nhìn vào vách trái
giáp đất ông Mai Thanh T1; Mặt tiền nhìn vào vách phải giáp cơ sở vật liệu xây
dựng của ông Phạm Thành T2. Ông H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T,
vì phần đất diện tích 131,6m
2
mà ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là của ông H; đồng thời ông H có yêu cầu phản tố: Buộc ông T trả lại cho ông
H phần đất có diện tích 131,6m
2
tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau vì
phần đất này ông H đã được cấp quyền sử dụng trước đó và yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T.
Tại phiên toà sơ thẩm, ông H thay đổi yêu cầu phản tố, chỉ yêu cầu ông Lê
Minh T trả lại cho ông H phần đất có diện tích 131,6m
2
; không yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T.
3
- Theo ông Phạm Tấn S trình bày:
Khoảng năm 1988, ông S có khai phá một phần đất (không nhớ rõ diện tích),
ông S đã cất 01 căn nhà và sinh sống trên phần đất đã khai phá. Đến năm 2001,
ông S chuyển nhượng phần đất và căn nhà cho ông Lê Minh T với giá 25.000.000
đồng. Khi chuyển nhượng, phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, hiện nay phần đất của ông T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Theo ông S thì ông T không lấn chiếm đất của ông H, ông T chỉ sử dụng
phần đất mà ông S đã chuyển nhượng cho ông T.
- Đối với Ngân hàng N:
Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho Ngân
hàng N, nhưng Ngân hàng không có văn bản trình bày ý kiến của mình về hợp
đồng tín dụng giữa Ngân hàng với ông H cũng như việc tranh chấp quyền sử dụng
đất giữa ông T và ông H. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo
về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
nhưng Ngân hàng vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cà Mau quyết định:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh T (B) về việc buộc ông
Dương Trung H phải tháo dở 01 phần căn nhà sau và trả lại diện tích đất lấn chiếm
là 1,6m
2
(phần đất tranh chấp hình tam giác M9M3’M13), tọa lạc tại ấp A, xã H,
huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp A, xã N, tỉnh Cà Mau).
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Dương Trung H đối với ông Lê
Minh T về việc buộc trả lại cho ông phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
của ông Lê Minh T đất có diện tích 131,6m
2
tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện N, tỉnh
Cà Mau (nay là ấp A, xã N, tỉnh Cà Mau).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
của đương sự.
Ngày 03/10/2025, ông Dương Trung H có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản
án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Dương Trung H giữ nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông H phát biểu: Phần đất tranh chấp là của cha ông khai phá để lại cho
ông. Do đó, yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông, sửa bản án sơ
thẩm, buộc ông H phải trả lại phần đất tranh chấp cho ông.
Ông T phát biểu: Phần đất tranh chấp là do ông sang nhượng của ông Phạm
Tấn S vào năm 2001 và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào
năm 2003; ông H cho rằng phần đất tranh chấp là của ông H nhưng không có giấy
tờ gì để chứng minh. Do đó, yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
4
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Trung H, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Dương Trung H, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Ông Dương Trung H yêu cầu ông Lê Minh T trả lại cho ông phần đất
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Minh T đứng tên ngày
27/11/2003, diện tích 131,6m
2
(theo đo đạc thực tế diện tích 111,5m
2
) tọa lạc tại ấp
A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp A, xã N, tỉnh Cà Mau). Ông H cho rằng
nguồn gốc đất là do cha ông là ông Dương Văn T5 khai phá vào khoảng năm 1970
– 1975 và cho lại ông. Quá trình giải quyết vụ án, ông H không cung cấp được tài
liệu chứng cứ gì chứng minh nguồn gốc đất như ông H trình bày.
[2] Qua các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ thể hiện:
[2.1] Phần đất tranh chấp do ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ngày 27/11/2003, thuộc thửa số 11, tờ bản đồ số 15, diện tích 131,6m
2
. Phần
đất ông Dương Trung H sử dụng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào
năm 2001, thuộc thửa số 129 (theo bản đồ đo đạc năm 2003 là thửa số 124), tờ bản
đồ số 15, diện tích 187m
2
. Theo đo đạc thực tế, phần đất ông H đang sử dụng
không có tranh chấp có diện tích là 194m
2
, nhiều hơn diện tích ông H được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.2] Theo nội dung Công văn số: 36/CNVPĐKĐĐ ngày 09/01/2025 và
Công văn số 270/CNVPĐKĐĐ của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 15/8/2025 thể
hiện: Cụ Dương Văn T5 (là cha ông H) không có đứng tên kê khai thửa đất nào
trước năm 1993 và chưa có đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn xã N, xã T
(trước đây là UBND xã H, UBND xã T). Tại Công văn số 10/UBND ngày
03/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã H (nay là UBND xã N) xác định: Theo sổ mục
kê và bản đồ đo đạc năm 2003, phần đất của ông H thuộc thửa 124, tờ bản đồ số
15, diện tích 189m
2
nằm ngoài thửa đất số 111, tờ bản đồ số 15, diện tích 131,6m
2
.
Như vậy, phần đất ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng riêng biệt với
phần đất của ông H. Đồng thời, tại Công văn số: 36/CNVPĐKĐĐ ngày
09/01/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ cũng xác định thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông T là hợp pháp.
[2.3] Theo hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Dương Trung H đứng tên thể hiện vị trí phần
đất ông H xin cấp quyền sử dụng đất mặt tiền giáp Sông C, chiều ngang 6,56m,
chiều dài 28,5m, diện tích 187m
2
. Theo đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ thì phần
đất ông H đang sử dụng không có tranh chấp cũng có vị trí mặt tiền giáp với Sông
C, chiều ngang 6,50m; chiều dài cạnh 28,91m và cạnh 28,62m, diện tích 194m
2
.
[2.4] Theo hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho ông T năm 2003 thể hiện: Mặt
tiền giáp lộ xi măng; mặt hậu giáp thửa đất số 124 (thửa đất của ông H). Theo đo
đạc, xem xét thẩm định tại chỗ thì phần đất ông H đúng với vị trí được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
5
[2.5] Hơn nữa, việc đăng ký xin cấp quyền sử dụng đất giữa ông H và ông T
thì ông H là người đăng ký trước ông T (ông H đăng ký năm 2001, ông T đăng ký
năm 2003), nhưng ông T cũng không đăng ký và cũng không được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất hiện nay tranh chấp. Từ khi ông T được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 đến nay, ông H cũng không có
yêu cầu, khiếu nại gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T đối
với phần đất này.
[2.6] Đối với những người làm chứng do ông H cung cấp, qua xác minh của
Toà án cấp sơ thẩm thì những người này đều không xác định được cụ T5 (cha của
ông H) là người có quyền quản lý, sử dụng hợp pháp đối với phần đất tranh chấp
giữa ông H và ông T; những người này chỉ xác định khoảng năm 1985, cụ Thư
sinh S1 tại căn nhà hiện nay của ông H, cụ T5 có trồng một số hoa màu, cây ăn trái
phía sau nhà (nay là phần đất tranh chấp giữa ông T và ông H). Năm 1988, ông
Phạm Tấn S đến phần đất này cất nhà sinh sống một thời gian thì chuyển nhượng
đất cho ông T. Trình bày của những người làm chứng phù hợp với trình bày của
ông T và ông S là phần đất mà hiện nay ông H tranh chấp với ông T là do ông S
chuyển nhượng lại cho ông T.
[2.7] Ông H cho rằng phần đất tranh chấp là của ông H, yêu cầu ông T trả lại
đất nhưng ông H không có chứng cứ chứng minh phần đất tranh chấp là của ông H;
do đó, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông H là có căn
cứ.
[3] Từ nhận định trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo ông H,
giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm có điều chỉnh
cách tuyên phần quyết định của bản án sơ thẩm.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông H là người cao tuổi nên được miễn chịu
án phí, đã được miễn dự nộp.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Trung H.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh T (B) về việc buộc ông
Dương Trung H phải tháo dở 01 phần căn nhà sau và trả lại diện tích đất lấn chiếm
theo đo đạc thực tế là 1,6m
2
, tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là
ấp A, xã N, tỉnh Cà Mau).
6
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Dương Trung H đối với ông Lê
Minh T về việc buộc ông T trả lại cho ông H phần đất theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng cấp cho ông Lê Minh T đứng tên diện tích 131,6m
2
(diện tích theo đo đạc
thực tế 111,5m
2
) tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp A, xã N,
tỉnh Cà Mau).
(Có Mãnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 09/12/2024 kèm theo)
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là
12.363.000 đồng và chi phí sao lục, thu thập tài liệu chứng cứ là 150.000 đồng,
ông T phải chịu, ông T đã nộp xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Trung H được miễn chịu án phí; ông
Lê Minh T không phải chịu án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Trung H được miễn chịu án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 5- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 5- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 28/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 17/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm