Bản án số 522/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 522/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 522/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 522/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 5 theo giấy CNQSDĐ cấp cho cụ Phạm Thị Đ. Nay bà T yêu cầu bà M giao trả lại phần đất 04 công cho mượn và 06 công đã hoán đổi. Còn bà T giao trả lại cho bà M 06 công đã hoán đổi theo đúng giấy CNQSDĐ đã cấp cho các bên.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 522/2025/DS-PT
Ngày: 29 - 12 - 2025
V/v tranh chấp đòi lại tài sn và hợp đồng
chuyển đổi quyn s dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh
Các Thẩm phán: Ông Lê Phan Công Trí
Ông Trương Thanh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuỷ Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 448/2025/TLPT-DS ngày 05
tháng 11 năm 2025 về tranh chấp đòi lại tài sn và hợp đồng chuyển đổi quyn s
dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 489/2025/QĐ-PT ngày
21 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Thị T, sinh năm 1956 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: 096156006961, cấp ngày: 12/10/2022, nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cư trú tại: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Nay là phường H, tỉnh Cà
Mau).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:
1. Hà Thị H, sinh năm 1975 (có mặt).
Căn cước công dân số: 096175011880; cấp ngày: 11/08/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
2. Hà Mộng T1, sinh năm 1985 (có mặt).
Căn cước số: 096185013943; cấp ngày: 07/02/2025; nơi cấp: Bộ C
2
Cùng cư trú tại: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (N là Phường H, tỉnh
Cà Mau) (Văn bản ủy quyền ngày 09/5/2024).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đặng Huỳnh
Q là Luật sư của Văn phòng L, thuộc đoàn Luật sư tỉnh C. (có mặt).
- Bị đơn:Kim Thị M, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: 096170013479; cấp ngày: 05/09/2023; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
trú tại: Ấp C, Đ, thành phố C, tỉnh Mau, hiện (Nay Phường H,
tỉnh Cà Mau).
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm
1975; trú tại: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Mau (Nay C, tỉnh
Mau) (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/5/2024) (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng N1 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, Phường G, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ phòng G: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Mau (N Phường H,
tỉnh Cà Mau).
3. Ông Hà Hoàng A, sinh năm 1958 (vắng mặt).
trú tại: Ấp C, Đ, thành phố C, tỉnh Mau (N Phường H, tỉnh
Mau).
4. Ông Hà Hoàng S, sinh năm 1963 (có mặt).
trú tại: Đ, thành phố C, tỉnh Mau (Nay là: Phường H, tỉnh
Mau).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hà Hoàng S: Ông Hồ Vũ P, sinh năm
1980; cư trú tại: khóm D, phường A, tỉnh Cà Mau. (có mặt).
5. Ông Hà Hoàng A1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
trú tại: Ấp B, Đ, thành phố C, tỉnh Mau (N Phường H, tỉnh
Mau).
6. Ông Hà Văn Q1, sinh năm 1977 (vắng mặt).
trú tại: Ấp C, Đ, thành phố C, tỉnh Mau (N Phường H, tỉnh
Mau).
7. Ông Hà Văn T2, sinh năm 1977 (vắng mặt).
trú tại: Ấp C, Đ, thành phố C, tỉnh Mau (N Phường H, tỉnh
Mau).
Người kháng cáo: Kim Thị M bđơn ông Hoàng S người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo đơn khởi kiện trình y của Người đại diện hợp pháp của Nguyên
đơn trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Khoảng năm 1980, Thị T được cha mẹ cụ Tấn P1 (chết năm
1982) cụ Phạm Thị Đ (chết năm 2023) tặng cho phần đất có diện tích 13.000m
2
tọa lạc tại ấp C, Đ, thành phố C, tỉnh Mau, hiện nay Phường H, tỉnh
Mau. Ngày 20/8/1996, Ủy ban nhân dân (UBND) thị C đã cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) số H 315035, thửa đất số 0105 diện tích
500m
2
, thửa số 0110 diện tích 12.500m
2
, tờ bản đồ số 05, theo bản đồ chỉnh
năm 2009 thửa 194 tờ bản đồ số 8. Hiện nay T đã thế chấp giấy CNQSDĐ
cho Ngân hàng N1 Chi nhánh phòng G (Ngân hàng) để vay tiền.
Quá trình sdụng đất, vào khoảng năm 2000, T cho em trai ông
Văn H2 mượn 04 công đất để canh tác nuôi tôm hoán đổi vị trí đất 06 công đất
với ông H2, tổng cộng 10 công thuộc thửa số 0110, tờ bản đồ số 05, theo bản đồ
chỉnh lý năm 2009 thửa 194 tờ bản đồ số 8. Còn 06 công đất của ông H2 thuộc
một phần thửa số 109 tờ bản đồ số 5 đứng tên cụ Phạm Thị Đ diện tích
37.387m
2
, theo bản đồ chỉnh năm 2009, tthuộc thửa số 203, tờ bản đồ số 8,
phần đất này đã được UBND thị xã C cấp giấy CNQSDĐ cho cụ Phạm Thị Đ đứng
tên ngày 20/8/1996, số vào sổ 08572. Nội dung hoán đổi T canh tác 06 công
đất của ông H2 còn ông H2 canh tác 10 công đất của T để ông H2 nuôi mẹ, khi
nào mẹ chết thì ông H2 phải trả lại phần đất cho bà T đúng giấy CNQSDĐ của mỗi
bên. Việc cho ông H2 mượn đất hoán đổi vị trí đất để canh tác chỉ thỏa thuận
bằng lời nói, không lập thành văn bản. Năm 2012, ông H2 cưới vKim Thị
M. Sau đó vợ chồng ông H2, M tiếp tục canh tác trên đất của T. Tháng 4
năm 2023, mẹ của T và ông H2 chết, đến tháng 5 năm 2023, ông H2 chết. Vợ
chồng ông H2 không con. Sau khi ông H2 chết thì T yêu cầu M trả lại
phần đất 10 công cho bà T, bà T sẽ trả lại 06 công cho M thì bà M có hứa là hết
năm 2023 sẽ trả lại. Tuy nhiên, khi đến hạn thì bà M không đồng ý trả.
Hiện nay M đang quản lý, sử dụng nuôi tôm đối với 10 công đất thuộc
thửa số 110, tờ bản đồ số 05, theo giấy CNQSDĐ cấp cho bà Thị T. Còn T
thì đang quản lý, nuôi tôm đối với 06 công đất thuộc một phần thửa số 109 tờ bản
đồ số 5 theo giấy CNQSDĐ cấp cho cụ Phạm Thị Đ.
Nay T yêu cầu M giao trả lại phần đất 04 công cho mượn 06 công
đã hoán đổi. Còn T giao trả lại cho M 06 công đã hoán đổi theo đúng giấy
CNQSDĐ đã cấp cho các bên.
Năm 2013, 2014, Tòa án nhân dân (TAND) thành phố C (nay Tòa án
khu vực 1 Mau) TAND tỉnh Mau đã giải quyết tranh chấp do ông
Văn H2 khởi kiện ông Hà Văn Đ1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, thời điểm
này T và ông H2 đều thừa nhận hoán đổi đất với nhau đã biết việc T
được cấp giấy CNQSDĐ nhưng các thành viên trong gia đình của cụ Đ không có ai
khiếu nại việc UBND cấp giấy CNQSDĐ cho bà T. Vị trí đất thực tế được thể hiện
tại bản Trích đo hiện trạng ngày 31/10/2024 của Công ty TNHH P2 đúng với vị
trí đất mà hiện nay bà T và bà M đang quản lý, sử dụng.
4
Quá trình giải quyết vụ án, bà T yêu cầu giám định giọng nói của Kim
Thị M tại đoạn ghi âm nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, nhưng hiện nay T
không tiếp tục yêu cầu trưng cầu giám định giọng nói của bà Kim Thị M.
Đối với chi phí xem xét, đo đạc, thẩm định tại chỗ thẩm định giá, đồng ý
mỗi bên phải chịu một nửa chi phí theo thực tế.
Tại bản tự khai và trình bày của bị đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn
trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Trước năm 1975, cha mẹ của ông Văn H2, Thị T cụ Tấn P1
(chết năm 1983) và cụ Phạm Thị Đ (chết năm 2023) tạo lập được phần đất tổng
diện tích 38.387m² thuộc thửa đất s0106 và 0109, tờ bản đồ số 5, loại đất trồng
lúa, đất tọa lạc tại ấp C, Đ thành phố C, tỉnh Mau, nay Phường H, tỉnh
Mau, theo bản đồ chỉnh năm 2009 thửa số 203 tờ bản đồ số 8. Đến ngày
20/8/1996, cụ Đ đã được UBND thị xã C cấp giấy CNQSDĐ. Đến ngày 3/11/2015,
cụ Đ làm thủ tục tặng cho ông H2 phần đất này được quan thẩm quyền
chỉnh lý sang tên ông H2. Thực tế ông H2 chỉ đứng tên đại diện trên giấy
CNQSDĐ cho tất cả các anh em trong gia đình, trong đó cả phần đất của cụ Đ
đã chia cho ông H2. Đến năm 2023, ông H2 chết, không để lại di chúc, ông H2
vợ là Kim Thị M, không có con chung với bà M.
Hiện nay, bà M đang quản lý, sử dụng 10 công đất thuộc thửa số 110, tờ bản
đồ số 05, theo giấy CNQSDĐ đã cấp cho Thị T vào năm 1996. Còn T
đang quản lý, sử dụng 06 công đất thuộc một phần thửa số 109, tờ bản đồ số 5,
theo giấy CNQSDĐ đứng tên cụ Phạm Thị Đ, chỉnh sang tên cho ông Văn
H2 năm 2015. Vị trí đất thực tế được thể hiện tại bản Trích đo hiện trạng ngày
31/10/2024 của Công ty TNHH P2 đúng với vị trí đất mà hiện nay bà T và bà M
đang quản lý, sử dụng.
Theo Bản án số 172/2013/DS-ST ngày 16/10/2013 của TAND thành phố
Mau (nay Tòa án khu vực 1 Mau) Bản án s88/2014/DSPT ngày
15/4/2014 TAND tỉnh Mau đã giải quyết tranh chấp do ông Văn H2 khởi
kiện ông Văn Đ1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Lúc này, T ông
H2 đã xác định, vào năm 2000, bà T và ông H2 đã hoán đổi đất với nhau luôn, mặc
phần đất tranh chấp do T đứng tên sổ đỏ nhưng Tòa án vẫn chấp nhận
cách khởi kiện của ông H2, cho ông H2 được tham gia tố tụng, chứng tỏ ông H2 đã
đấy đủ cách là chủ sử dụng phần đất 10 công đang tranh chấp. Từ khi đó đến
nay, do hoàn cảnh khó khăn, hiểu biết hạn chế n ông H2 không đi đăng ký
chuyển đổi, cấp lại sổ đỏ theo quy định. Nên nay bị đơn không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu của bà Hà Thị T, giữ nguyên hiện trạng đã hoán đổi.
Quá trình giải quyết ván, bị đơn yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ do UBND
Thị xã C cấp cho bà Thị T đứng tên ngày 20/8/1996 thửa số 0105, 0110, tờ bản
đồ số 5, diện tích 13.000m
2
tọa lạc tại ấp C, Đ, thành phố C cũ, nay Phường
H, tỉnh Cà Mau. Nay bị đơn không còn yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ nêu trên.
Tại bản tự khai và trình bày của ông Hoàng S trong quá trình giải quyết
vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
5
Về nguồn gốc phần đất đúng như phía bị đơn trình bày, ông không trình bày
bổ sung. Ông không biết việc T cho ông H2 mượn đất cũng không biết việc
hoán đổi đất. Nay ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tại bản tự khai trình bày của ông Hoàng A, Hoàng A1, Hà Văn
T2 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:
Thống nhất với trình bày của ông Hoàng S, ông không đồng ý toàn bộ
yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự thẩm số 81/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Cà Mau, đã quyết định (tóm tắt):
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T.
- Buộc bà Kim Thị M giao trả cho bà Thị T phần đất có diện tích theo đo
đạc thực tế 14.526,9m
2
tọa lạc tại ấp C, Đ, thành phố C, tỉnh Mau cũ, nay
phường H, tỉnh Cà Mau, …
- Buộc Hà Thị T giao trả cho bà Kim Thị M phần đất có diện tích theo đo
đạc thực tế là 5.983,7m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau cũ, …
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí quyền kháng
cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 10 tháng 9 năm 2025 Kim Thị M ông Hoàng S kháng cáo
Bản án dân sự thẩm số 81/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 1- Mau. M ông S yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn giữ nguyên hiện
trạng sử dụng đất của gia đình ông, bà từ năm 1997 cho đến nay.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Thanh H1 đại diện theo ủy quyền của Kim Thị M trình
bày: Cấp thẩm không ghi nhận đủ các tài sản trên đất tranh chấp, cụ thể sót 01
cống xổ vuông giữa thửa 3 và 4 do M xây. Yêu cầu Hội đồng xét xử sửa bản án
sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện.
Ông Hồ Vũ P là đại diện theo ủy quyền của ông Hà Hoàng S trình bày: Việc
đổi đất thật, đã được ghi nhận tại Bản án số 172/2013/DS-ST ngày
16/10/2013 Bản án số 88/2014/DSPT ngày 15/4/2014 của TAND tỉnh Mau
đã giải quyết tranh chấp do ông Hà Văn H2 khởi kiện ông Hà Văn Đ1 về việc tranh
chấp quyền sử dụng đất. Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm, bác yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Luật Đng Hunh Q trình bày: B đơn người liên quan kháng cáo
nhưng không cung cấp chng c gì mi. Bà T không yêu cu, không tranh chp v
căn nhà của ông S. Yêu cu Hi đồng xét x không chp nhn kháng cáo, gi
nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa phát
biểu:
6
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền nghĩa vụ
theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của Kim Thị M ông Hoàng S,
giữ nguyên bản án dân ssơ thẩm số: 81/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của Kim Thị M bị đơn ông Hoàng S
ngưi quyn lợi, nghĩa vụ liên quan nộp trong thời hạn quy định của pháp luật
và đã nộp tiền tạm ứng án phí (ông S được miễn), nên được chấp nhận để xem xét.
[2] Về thẩm quyền: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp
của vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng
đất”. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý là đúng thẩm quyền.
[3] Về tư cách người tham gia tố tụng:
Toà án nhân dân Khu vực 1 Mau đã xác định đúng, đầy đcách
tham gia ttụng của nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
trong vụ án.
[4] Về nội dung vụ án, quyết định của bản án thẩm và kháng cáo của các
đương sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[4.1] Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự
thể hiện:
Căn cứ vào hồ cấp giấy CNQSDĐ cho cụ Phạm Thị Đ Thị T
vào năm 1996, sổ mục kê, sơ đồ địa chính các năm 1995, 2000, 2009 (Bút lục từ số
46 đến số 60, từ số 221 đến số B) cho thấy, vào các năm 1995, 1996, thửa đất đang
tranh chấp thuộc thửa số 110, tờ bản đồ số 5 đứng tên Thị T diện tích
12.500m
2
và một phần thửa số 109, tờ bản đồ số 5 đứng tên cPhạm Thị Đ có diện
tích 37.387m
2
, là hai thửa liền kề, khác nhau và cùng tọa lạc tại ấp C, Đ, thành
phố C (nay là phường H, tỉnh Mau). Đến năm 2009 được chỉnh thửa 194
tờ bản đồ s8 đứng tên Thị N (Thị T) thửa số 203, tờ bản đồ số 8
đứng tên ông Hà Văn H2. Theo đo đạc thực tế tại bản Trích đo hiện trạng ngày
31/10/2024 của Công ty TNHH P2, thì phần đất tranh chấp này cũng thửa 194,
tờ bản đồ số 8 và thửa 203 tờ bản đồ số 8, được các bên xác nhận là đúng với vị trí
đất mà hiện nay bà T và bà M đang quản lý, sử dụng.
Tại Bản án số 172/2013/DS-ST ngày 16/10/2013 của TAND Thành phố
Mau, nay Tòa án khu vực 1 Mau, Bản án số 88/2014/DSPT ngày
15/4/2014 của TAND tỉnh Mau (Bút lục từ số 259 đến số 264) đã thể hiện, sau
khi được phân chia đất, bà T và ông H2 đã hoán đổi đất cho nhau để canh tác, thực
tế phần đất đứng tên Thị T thì ông H2 canh tác sử dụng, còn phần đất
đứng tên cụ Phạm Thị Đ tT canh tác, quản lý. Theo kết quả đo đạc thực tế
7
ngày 04/3/2014, đối với phần đất ông H2 đang quản do T đứng tên quyền sử
dụng đất mặt tiền giáp sông C, chiều ngang mặt hậu dài 36m, chiều dài từ mặt
tiền đến hậu đất 395,2m, tổng diện tích 16.569m
2
. Điều này cho thấy, việc
hoán đổi đất thuộc thửa số 110, tờ bản đồ số 5 đứng tên Thị T thửa số
109 tờ bản đồ số 5 đứng tên cụ Phạm Thị Đ giữa ông H2 và bà T, là thực tế có xảy
ra
[4.2] Thời điểm đổi, đất không tranh chấp; trong thời hạn sử dụng đất;
đều trong cùng địa bàn ấp C, Đ, thành phố C (nay phường H, tỉnh Mau).
Do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Điều 74 của Luật Đất đai năm 1993,
các bên được phép đổi đất ruộng cho nhau.
[4.3] Về thời hạn đổi đất:
T trình bày việc hoán đổi T canh tác 06 công đất của ông H2 còn
ông H2 canh tác 10 công đất của T để ông H2 nuôi mẹ, khi nào mẹ chết thì ông
H2 phải trả lại phần đất cho T đúng giấy CNQSDĐ của mỗi bên. Việc hoán đổi
vị trí đất để canh tác chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không lập thành văn bản.
Tuy nhiên, tại Bản án thẩm số 172/2013/DS-ST ngày 16/10/2013 của
TAND Thành phố Mau, nay là Tòa án khu vực 1 Mau Bản án phúc
thẩm số 88/2014/DSPT ngày 15/4/2014 của TAND tỉnh Mau, quá trình giải
quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phúc thẩm T xác định đã hoán
đổi luôn cho ông H2 thống nhất để ông H2 đứng ra khởi kiện ông Đ1 để yêu
cầu trả đất lấn chiếm (bút lục 263). Điều này cho thấy việc hoán đổi vĩnh viễn,
không thời hạn.
[4.4] Nhận thấy các bên đã thực hiện giao dịch trên thực tế trong một thời
gian dài, sau khi đổi đã trực tiếp canh tác và sử dụng ổn định, liên tục, lâu dài (gần
25 năm) và không tranh chấp, không có ý kiến phản đối gì đối với việc sử dụng
đất của nhau. Do đó, việc T cho rằng hai bên đổi đất ruộng cho nhau chỉ tạm
thời, là không đúng với thực tế. Mặc dù việc đổi đất chỉ là giấy viết tay, không tuân
thủ về mặt hình thức, không đăng tại quan Nhà nước thẩm quyền nhưng
về nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật không trái đạo đức hội.
Việc đổi đất trên sở tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu sử dụng, phù hợp với điều
kiện canh tác mỗi bên, nên hiệu lực tại thời điểm giao kết, giá trị pháp
hiệu lực thi hành đối với các bên.
[4.5] Thực trạng sử dụng đất của các bên hiện tại phù hợp với các tài liệu,
chứng cứ Tòa án thu thập được cũng như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ.
Thời điểm các bên đổi đất, Luật Đất đai năm 1993 đang có hiệu lực pháp luật, việc
chuyển đổi đất giữa các bên là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 3 và Điều
74 của Luật Đất đai năm 1993 cũng như Điều cũng như Điều 7 của Bộ luật Dân s
năm 1995.
[4.6] Đối với phần đất 4 công T cho cho ông Hoàng M1 nhưng
không cung cấp chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.
[5] Từ những nội dung trên, thấy rằng Toà án nhân dân Khu vực 1 Cà Mau
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị T về việc yêu cầu Kim
8
Thị M giao trả cho Thị T phần đất diện tích theo đo đạc thực tế
14.526,9m
2
tọa lạc tại ấp C, Đ, thành phố C, tỉnh Mau cũ, nay phường H,
tỉnh Mau vị trí tại thửa số 4, 5, 6 Bản trích đo hiện trạng ngày 31/10/2024
của Công ty TNHH P2, là không có căn cứ.
[6] Từ những căn cứ, nhận định nêu trên, kháng cáo của bà M được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
Đối với kháng cáo của ông S, tuy phần quyết định của vụ án không liên quan
đến ông S, tuy nhiên ông S yêu cầu giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp, nên
kháng cáo của ông S cũng được chấp nhận.
Do đó, Hội đồng xét xử sửa toàn bbản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T.
[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm không phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
[8] Về chi phí tố tụng:
Bà T phải chịu toàn bộ, bà T đã nộp xong.
[9] Về án phí:
Án phí thẩm: M không phải chịu; T được miễn do người cao
tuổi.
Án phí phúc thẩm: Bà M và ông S không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 147, 157, 165, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 7 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 3 và Điều 74 Luật Đất
đai năm 1993.
Chấp nhận kháng cáo của bà Kim Thị M và ông Hà Hoàng S.
Sa toàn b Bản án dân sự thẩm số 81/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm
2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Không Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T về các việc:
- Buộc bà Kim Thị M giao trả cho bà Thị T phần đất có diện tích theo đo
đạc thực tế 14.526,9m
2
tọa lạc tại ấp C, Đ, thành phố C, tỉnh Mau cũ, nay
phường H, tỉnh Mau vị trí tại thửa số 4, 5, 6 Bản trích đo hiện trạng ngày
31/10/2024 của Công ty TNHH P2, tứ cận như sau: Theo bản đồ chỉnh lý năm
2009, thì:
9
+ Phía Đông giáp với phần đất ông Đỗ Đồng Q2 đang sử dụng, cạnh dài
34,27m, có mốc từ M3 đến M4M5.
+ Phía Tây giáp với thửa đất số 211, tbản đồ số 8, cạnh dài 37,31m,
mốc từ M9 đến M16M15M2.
+ Phía Nam giáp với thửa đất số 203 tờ bản đồ số 8, cạnh dài 400,6m,
mốc từ M5 đến M9.
+ Phía Bắc giáp với phần đất ông Văn H3 đang sử dụng, cạnh dài
395,36m, có mốc từ M2 đến M3.
- Buộc bà Hà Thị T giao trả cho bà Kim Thị M phần đất có diện tích theo đo
đạc thực tế là 5.983,7m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau cũ, nay là
phường H, tỉnh Mau vị trí tại thửa số 7 Bản trích đo hiện trạng ngày
31/10/2024 của Công ty TNHH P2, tứ cận như sau: Theo bản đồ chỉnh lý năm
2009, thì:
+ Phía Đông giáp với phần đất ông Đỗ Đồng Q2 Kim T3 đang sử
dụng, cạnh dài 39,99m, có mốc từ M5 đến M6.
+ Phía Tây giáp với phần còn lại của thửa số 203, tờ bản đồ số 8, cạnh dài
37,71m, có mốc từ M7 đến M8.
+ Phía Nam giáp với phần còn lại của thửa số 203, tờ bản đồ số 8, cạnh dài
154,79m, có mốc từ M6 đến M7.
+ Phía Bắc giáp với thửa số 194, tờ bản đồ số 8, cạnh dài 153,62m, mốc
từ M8 đến M5.
(Kèm theo bản trích đo hiện trạng do Công ty TNHH P2 ngày
31/10/2024).
2. Chi phí tố tụng:
Thị T phải chịu chi phí xem xét, đo đạc, thẩm định tại chỗ chi phí
thẩm định giá (đã nộp xong).
3. Án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm: Bà Kim Thị M không phải chịu. Bà Hà Thị T được miễn.
- Án phí phúc thẩm: Kim Thị M ông Hoàng S không phải chịu.
Ngày 10/9/2025 Kim Thị M nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng, theo
biên lai số 0000244 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được nhận lại.
Ông Hà Hoàng S đã được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bkháng cáo, kháng nghị hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
10
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lê Phan Công Trí Trương Thanh Dũng
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
Đỗ Cao Khánh
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lê Phan Công Trí Trương Thanh Dũng
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
12
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Tải về
Bản án số 522/2025/DS-PT Bản án số 522/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 522/2025/DS-PT Bản án số 522/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất