Bản án số 522/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 522/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 522/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 522/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 522/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 522/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/12/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | 5 theo giấy CNQSDĐ cấp cho cụ Phạm Thị Đ. Nay bà T yêu cầu bà M giao trả lại phần đất 04 công cho mượn và 06 công đã hoán đổi. Còn bà T giao trả lại cho bà M 06 công đã hoán đổi theo đúng giấy CNQSDĐ đã cấp cho các bên. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 522/2025/DS-PT
Ngày: 29 - 12 - 2025
V/v tranh chấp đòi lại tài sản và hợp đồng
chuyển đổi quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh
Các Thẩm phán: Ông Lê Phan Công Trí
Ông Trương Thanh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuỷ Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 448/2025/TLPT-DS ngày 05
tháng 11 năm 2025 về tranh chấp đòi lại tài sản và hợp đồng chuyển đổi quyền sử
dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 489/2025/QĐ-PT ngày
21 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hà Thị T, sinh năm 1956 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: 096156006961, cấp ngày: 12/10/2022, nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cư trú tại: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Nay là phường H, tỉnh Cà
Mau).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:
1. Bà Hà Thị H, sinh năm 1975 (có mặt).
Căn cước công dân số: 096175011880; cấp ngày: 11/08/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
2. Bà Hà Mộng T1, sinh năm 1985 (có mặt).
Căn cước số: 096185013943; cấp ngày: 07/02/2025; nơi cấp: Bộ C
2
Cùng cư trú tại: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (N là Phường H, tỉnh
Cà Mau) (Văn bản ủy quyền ngày 09/5/2024).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đặng Huỳnh
Q là Luật sư của Văn phòng L, thuộc đoàn Luật sư tỉnh C. (có mặt).
- Bị đơn: Bà Kim Thị M, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: 096170013479; cấp ngày: 05/09/2023; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cư trú tại: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau, hiện (Nay là Phường H,
tỉnh Cà Mau).
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm
1975; Cư trú tại: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau (Nay là xã C, tỉnh Cà
Mau) (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/5/2024) (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng N1 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, Phường G, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ phòng G: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (N là Phường H,
tỉnh Cà Mau).
3. Ông Hà Hoàng A, sinh năm 1958 (vắng mặt).
Cư trú tại: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (N là Phường H, tỉnh Cà
Mau).
4. Ông Hà Hoàng S, sinh năm 1963 (có mặt).
Cư trú tại: xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Nay là: Phường H, tỉnh Cà
Mau).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hà Hoàng S: Ông Hồ Vũ P, sinh năm
1980; cư trú tại: khóm D, phường A, tỉnh Cà Mau. (có mặt).
5. Ông Hà Hoàng A1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Cư trú tại: Ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (N là Phường H, tỉnh Cà
Mau).
6. Ông Hà Văn Q1, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Cư trú tại: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (N là Phường H, tỉnh Cà
Mau).
7. Ông Hà Văn T2, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Cư trú tại: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (N là Phường H, tỉnh Cà
Mau).
Người kháng cáo: Bà Kim Thị M là bị đơn và ông Hà Hoàng S là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo đơn khởi kiện và trình bày của Người đại diện hợp pháp của Nguyên
đơn trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Khoảng năm 1980, bà Hà Thị T được cha mẹ là cụ Hà Tấn P1 (chết năm
1982) và cụ Phạm Thị Đ (chết năm 2023) tặng cho phần đất có diện tích 13.000m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau, hiện nay là Phường H, tỉnh Cà
Mau. Ngày 20/8/1996, Ủy ban nhân dân (UBND) thị xã C đã cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) số H 315035, thửa đất số 0105 có diện tích
500m
2
, thửa số 0110 có diện tích 12.500m
2
, tờ bản đồ số 05, theo bản đồ chỉnh lý
năm 2009 là thửa 194 tờ bản đồ số 8. Hiện nay bà T đã thế chấp giấy CNQSDĐ
cho Ngân hàng N1 – Chi nhánh phòng G (Ngân hàng) để vay tiền.
Quá trình sử dụng đất, vào khoảng năm 2000, bà T cho em trai là ông Hà
Văn H2 mượn 04 công đất để canh tác nuôi tôm và hoán đổi vị trí đất 06 công đất
với ông H2, tổng cộng 10 công thuộc thửa số 0110, tờ bản đồ số 05, theo bản đồ
chỉnh lý năm 2009 là thửa 194 tờ bản đồ số 8. Còn 06 công đất của ông H2 thuộc
một phần thửa số 109 tờ bản đồ số 5 đứng tên cụ Phạm Thị Đ có diện tích
37.387m
2
, theo bản đồ chỉnh lý năm 2009, thì thuộc thửa số 203, tờ bản đồ số 8,
phần đất này đã được UBND thị xã C cấp giấy CNQSDĐ cho cụ Phạm Thị Đ đứng
tên ngày 20/8/1996, số vào sổ 08572. Nội dung hoán đổi là bà T canh tác 06 công
đất của ông H2 còn ông H2 canh tác 10 công đất của bà T để ông H2 nuôi mẹ, khi
nào mẹ chết thì ông H2 phải trả lại phần đất cho bà T đúng giấy CNQSDĐ của mỗi
bên. Việc cho ông H2 mượn đất và hoán đổi vị trí đất để canh tác chỉ thỏa thuận
bằng lời nói, không lập thành văn bản. Năm 2012, ông H2 cưới vợ là bà Kim Thị
M. Sau đó vợ chồng ông H2, bà M tiếp tục canh tác trên đất của bà T. Tháng 4
năm 2023, mẹ của bà T và ông H2 chết, đến tháng 5 năm 2023, ông H2 chết. Vợ
chồng ông H2 không có con. Sau khi ông H2 chết thì bà T có yêu cầu bà M trả lại
phần đất 10 công cho bà T, bà T sẽ trả lại 06 công cho bà M thì bà M có hứa là hết
năm 2023 sẽ trả lại. Tuy nhiên, khi đến hạn thì bà M không đồng ý trả.
Hiện nay bà M đang quản lý, sử dụng nuôi tôm đối với 10 công đất thuộc
thửa số 110, tờ bản đồ số 05, theo giấy CNQSDĐ cấp cho bà Hà Thị T. Còn bà T
thì đang quản lý, nuôi tôm đối với 06 công đất thuộc một phần thửa số 109 tờ bản
đồ số 5 theo giấy CNQSDĐ cấp cho cụ Phạm Thị Đ.
Nay bà T yêu cầu bà M giao trả lại phần đất 04 công cho mượn và 06 công
đã hoán đổi. Còn bà T giao trả lại cho bà M 06 công đã hoán đổi theo đúng giấy
CNQSDĐ đã cấp cho các bên.
Năm 2013, 2014, Tòa án nhân dân (TAND) thành phố C cũ (nay là Tòa án
khu vực 1 – Cà Mau) và TAND tỉnh Cà Mau đã giải quyết tranh chấp do ông Hà
Văn H2 khởi kiện ông Hà Văn Đ1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, thời điểm
này bà T và ông H2 đều thừa nhận có hoán đổi đất với nhau và đã biết việc bà T
được cấp giấy CNQSDĐ nhưng các thành viên trong gia đình của cụ Đ không có ai
khiếu nại việc UBND cấp giấy CNQSDĐ cho bà T. Vị trí đất thực tế được thể hiện
tại bản Trích đo hiện trạng ngày 31/10/2024 của Công ty TNHH P2 là đúng với vị
trí đất mà hiện nay bà T và bà M đang quản lý, sử dụng.
4
Quá trình giải quyết vụ án, bà T có yêu cầu giám định giọng nói của bà Kim
Thị M tại đoạn ghi âm mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, nhưng hiện nay bà T
không tiếp tục yêu cầu trưng cầu giám định giọng nói của bà Kim Thị M.
Đối với chi phí xem xét, đo đạc, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá, đồng ý
mỗi bên phải chịu một nửa chi phí theo thực tế.
Tại bản tự khai và trình bày của bị đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn
trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Trước năm 1975, cha mẹ của ông Hà Văn H2, bà Hà Thị T là cụ Hà Tấn P1
(chết năm 1983) và cụ Phạm Thị Đ (chết năm 2023) tạo lập được phần đất có tổng
diện tích 38.387m² thuộc thửa đất số 0106 và 0109, tờ bản đồ số 5, loại đất trồng
lúa, đất tọa lạc tại ấp C, xã Đ thành phố C, tỉnh Cà Mau, nay là Phường H, tỉnh Cà
Mau, theo bản đồ chỉnh lý năm 2009 là thửa số 203 tờ bản đồ số 8. Đến ngày
20/8/1996, cụ Đ đã được UBND thị xã C cấp giấy CNQSDĐ. Đến ngày 3/11/2015,
cụ Đ làm thủ tục tặng cho ông H2 phần đất này và được cơ quan có thẩm quyền
chỉnh lý sang tên ông H2. Thực tế ông H2 chỉ đứng tên đại diện trên giấy
CNQSDĐ cho tất cả các anh em trong gia đình, trong đó có cả phần đất của cụ Đ
đã chia cho ông H2. Đến năm 2023, ông H2 chết, không để lại di chúc, ông H2 có
vợ là Kim Thị M, không có con chung với bà M.
Hiện nay, bà M đang quản lý, sử dụng 10 công đất thuộc thửa số 110, tờ bản
đồ số 05, theo giấy CNQSDĐ đã cấp cho bà Hà Thị T vào năm 1996. Còn bà T
đang quản lý, sử dụng 06 công đất thuộc một phần thửa số 109, tờ bản đồ số 5,
theo giấy CNQSDĐ đứng tên cụ Phạm Thị Đ, chỉnh lý sang tên cho ông Hà Văn
H2 năm 2015. Vị trí đất thực tế được thể hiện tại bản Trích đo hiện trạng ngày
31/10/2024 của Công ty TNHH P2 là đúng với vị trí đất mà hiện nay bà T và bà M
đang quản lý, sử dụng.
Theo Bản án số 172/2013/DS-ST ngày 16/10/2013 của TAND thành phố Cà
Mau cũ (nay là Tòa án khu vực 1 – Cà Mau) và Bản án số 88/2014/DSPT ngày
15/4/2014 TAND tỉnh Cà Mau đã giải quyết tranh chấp do ông Hà Văn H2 khởi
kiện ông Hà Văn Đ1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Lúc này, bà T và ông
H2 đã xác định, vào năm 2000, bà T và ông H2 đã hoán đổi đất với nhau luôn, mặc
dù phần đất tranh chấp do bà T đứng tên sổ đỏ nhưng Tòa án vẫn chấp nhận tư
cách khởi kiện của ông H2, cho ông H2 được tham gia tố tụng, chứng tỏ ông H2 đã
có đấy đủ tư cách là chủ sử dụng phần đất 10 công đang tranh chấp. Từ khi đó đến
nay, do hoàn cảnh khó khăn, hiểu biết hạn chế nên ông H2 không đi đăng ký
chuyển đổi, cấp lại sổ đỏ theo quy định. Nên nay bị đơn không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu của bà Hà Thị T, giữ nguyên hiện trạng đã hoán đổi.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ do UBND
Thị xã C cấp cho bà Hà Thị T đứng tên ngày 20/8/1996 thửa số 0105, 0110, tờ bản
đồ số 5, diện tích 13.000m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C cũ, nay là Phường
H, tỉnh Cà Mau. Nay bị đơn không còn yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ nêu trên.
Tại bản tự khai và trình bày của ông Hà Hoàng S trong quá trình giải quyết
vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
5
Về nguồn gốc phần đất đúng như phía bị đơn trình bày, ông không trình bày
bổ sung. Ông không biết việc bà T cho ông H2 mượn đất và cũng không biết việc
hoán đổi đất. Nay ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tại bản tự khai và trình bày của ông Hà Hoàng A, Hà Hoàng A1, Hà Văn
T2 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:
Thống nhất với trình bày của ông Hà Hoàng S, ông không đồng ý toàn bộ
yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Cà Mau, đã quyết định (tóm tắt):
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T.
- Buộc bà Kim Thị M giao trả cho bà Hà Thị T phần đất có diện tích theo đo
đạc thực tế là 14.526,9m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau cũ, nay
là phường H, tỉnh Cà Mau, …
- Buộc bà Hà Thị T giao trả cho bà Kim Thị M phần đất có diện tích theo đo
đạc thực tế là 5.983,7m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau cũ, …
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng
cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 10 tháng 9 năm 2025 bà Kim Thị M và ông Hà Hoàng S kháng cáo
Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 1- Cà Mau. Bà M và ông S yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giữ nguyên hiện
trạng sử dụng đất của gia đình ông, bà từ năm 1997 cho đến nay.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Thanh H1 là đại diện theo ủy quyền của bà Kim Thị M trình
bày: Cấp sơ thẩm không ghi nhận đủ các tài sản trên đất tranh chấp, cụ thể sót 01
cống xổ vuông giữa thửa 3 và 4 do bà M xây. Yêu cầu Hội đồng xét xử sửa bản án
sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện.
Ông Hồ Vũ P là đại diện theo ủy quyền của ông Hà Hoàng S trình bày: Việc
đổi đất là có thật, đã được ghi nhận tại Bản án số 172/2013/DS-ST ngày
16/10/2013 và Bản án số 88/2014/DSPT ngày 15/4/2014 của TAND tỉnh Cà Mau
đã giải quyết tranh chấp do ông Hà Văn H2 khởi kiện ông Hà Văn Đ1 về việc tranh
chấp quyền sử dụng đất. Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Luật sư Đặng Huỳnh Q trình bày: Bị đơn và người liên quan kháng cáo
nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới. Bà T không yêu cầu, không tranh chấp về
căn nhà của ông S. Yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát
biểu:
6
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Kim Thị M và ông Hà Hoàng S,
giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 81/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của bà Kim Thị M là bị đơn và ông Hà Hoàng S là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp trong thời hạn quy định của pháp luật
và đã nộp tiền tạm ứng án phí (ông S được miễn), nên được chấp nhận để xem xét.
[2] Về thẩm quyền: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp
của vụ án là “Tranh chấp đòi lại tài sản và hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng
đất”. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý là đúng thẩm quyền.
[3] Về tư cách người tham gia tố tụng:
Toà án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau đã xác định đúng, đầy đủ tư cách
tham gia tố tụng của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
trong vụ án.
[4] Về nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và kháng cáo của các
đương sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[4.1] Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự
thể hiện:
Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ cho cụ Phạm Thị Đ và bà Hà Thị T
vào năm 1996, sổ mục kê, sơ đồ địa chính các năm 1995, 2000, 2009 (Bút lục từ số
46 đến số 60, từ số 221 đến số B) cho thấy, vào các năm 1995, 1996, thửa đất đang
tranh chấp thuộc thửa số 110, tờ bản đồ số 5 đứng tên bà Hà Thị T có diện tích
12.500m
2
và một phần thửa số 109, tờ bản đồ số 5 đứng tên cụ Phạm Thị Đ có diện
tích 37.387m
2
, là hai thửa liền kề, khác nhau và cùng tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành
phố C (nay là phường H, tỉnh Cà Mau). Đến năm 2009 được chỉnh lý là thửa 194
tờ bản đồ số 8 đứng tên bà Hà Thị N (Hà Thị T) và thửa số 203, tờ bản đồ số 8
đứng tên ông Hà Văn H2. Theo đo đạc thực tế tại bản Trích đo hiện trạng ngày
31/10/2024 của Công ty TNHH P2, thì phần đất tranh chấp này cũng là thửa 194,
tờ bản đồ số 8 và thửa 203 tờ bản đồ số 8, được các bên xác nhận là đúng với vị trí
đất mà hiện nay bà T và bà M đang quản lý, sử dụng.
Tại Bản án số 172/2013/DS-ST ngày 16/10/2013 của TAND Thành phố Cà
Mau, nay là Tòa án khu vực 1 – Cà Mau, và Bản án số 88/2014/DSPT ngày
15/4/2014 của TAND tỉnh Cà Mau (Bút lục từ số 259 đến số 264) đã thể hiện, sau
khi được phân chia đất, bà T và ông H2 đã hoán đổi đất cho nhau để canh tác, thực
tế phần đất đứng tên bà Hà Thị T thì ông H2 canh tác và sử dụng, còn phần đất
đứng tên cụ Phạm Thị Đ thì bà T canh tác, quản lý. Theo kết quả đo đạc thực tế
7
ngày 04/3/2014, đối với phần đất ông H2 đang quản lý do bà T đứng tên quyền sử
dụng đất có mặt tiền giáp sông C, chiều ngang mặt hậu dài 36m, chiều dài từ mặt
tiền đến hậu đất là 395,2m, tổng diện tích là 16.569m
2
. Điều này cho thấy, việc
hoán đổi đất thuộc thửa số 110, tờ bản đồ số 5 đứng tên bà Hà Thị T và thửa số
109 tờ bản đồ số 5 đứng tên cụ Phạm Thị Đ giữa ông H2 và bà T, là thực tế có xảy
ra
[4.2] Thời điểm đổi, đất không có tranh chấp; trong thời hạn sử dụng đất;
đều trong cùng địa bàn ấp C, xã Đ, thành phố C (nay là phường H, tỉnh Cà Mau).
Do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 74 của Luật Đất đai năm 1993,
các bên được phép đổi đất ruộng cho nhau.
[4.3] Về thời hạn đổi đất:
Bà T trình bày việc hoán đổi là bà T canh tác 06 công đất của ông H2 còn
ông H2 canh tác 10 công đất của bà T để ông H2 nuôi mẹ, khi nào mẹ chết thì ông
H2 phải trả lại phần đất cho bà T đúng giấy CNQSDĐ của mỗi bên. Việc hoán đổi
vị trí đất để canh tác chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không lập thành văn bản.
Tuy nhiên, tại Bản án sơ thẩm số 172/2013/DS-ST ngày 16/10/2013 của
TAND Thành phố Cà Mau, nay là Tòa án khu vực 1 – Cà Mau và Bản án phúc
thẩm số 88/2014/DSPT ngày 15/4/2014 của TAND tỉnh Cà Mau, quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phúc thẩm bà T xác định đã hoán
đổi luôn cho ông H2 và thống nhất để ông H2 đứng ra khởi kiện ông Đ1 để yêu
cầu trả đất lấn chiếm (bút lục 263). Điều này cho thấy việc hoán đổi là vĩnh viễn,
không thời hạn.
[4.4] Nhận thấy các bên đã thực hiện giao dịch trên thực tế trong một thời
gian dài, sau khi đổi đã trực tiếp canh tác và sử dụng ổn định, liên tục, lâu dài (gần
25 năm) và không có tranh chấp, không có ý kiến phản đối gì đối với việc sử dụng
đất của nhau. Do đó, việc bà T cho rằng hai bên đổi đất ruộng cho nhau chỉ là tạm
thời, là không đúng với thực tế. Mặc dù việc đổi đất chỉ là giấy viết tay, không tuân
thủ về mặt hình thức, không đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng
về nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Việc đổi đất trên cơ sở tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu sử dụng, phù hợp với điều
kiện canh tác mỗi bên, nên có hiệu lực tại thời điểm giao kết, có giá trị pháp lý và
hiệu lực thi hành đối với các bên.
[4.5] Thực trạng sử dụng đất của các bên hiện tại phù hợp với các tài liệu,
chứng cứ mà Tòa án thu thập được cũng như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ.
Thời điểm các bên đổi đất, Luật Đất đai năm 1993 đang có hiệu lực pháp luật, việc
chuyển đổi đất giữa các bên là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 3 và Điều
74 của Luật Đất đai năm 1993 cũng như Điều cũng như Điều 7 của Bộ luật Dân sự
năm 1995.
[4.6] Đối với phần đất 4 công mà bà T cho là cho ông Hoàng M1 nhưng bà
không cung cấp chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.
[5] Từ những nội dung trên, thấy rằng Toà án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị T về việc yêu cầu bà Kim
8
Thị M giao trả cho bà Hà Thị T phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là
14.526,9m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau cũ, nay là phường H,
tỉnh Cà Mau có vị trí tại thửa số 4, 5, 6 Bản trích đo hiện trạng ngày 31/10/2024
của Công ty TNHH P2, là không có căn cứ.
[6] Từ những căn cứ, nhận định nêu trên, kháng cáo của bà M được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
Đối với kháng cáo của ông S, tuy phần quyết định của vụ án không liên quan
đến ông S, tuy nhiên ông S yêu cầu giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp, nên
kháng cáo của ông S cũng được chấp nhận.
Do đó, Hội đồng xét xử sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T.
[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm không phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
[8] Về chi phí tố tụng:
Bà T phải chịu toàn bộ, bà T đã nộp xong.
[9] Về án phí:
Án phí sơ thẩm: Bà M không phải chịu; Bà T được miễn do là người cao
tuổi.
Án phí phúc thẩm: Bà M và ông S không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 147, 157, 165, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 7 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 3 và Điều 74 Luật Đất
đai năm 1993.
Chấp nhận kháng cáo của bà Kim Thị M và ông Hà Hoàng S.
Sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm
2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Không Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T về các việc:
- Buộc bà Kim Thị M giao trả cho bà Hà Thị T phần đất có diện tích theo đo
đạc thực tế là 14.526,9m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau cũ, nay
là phường H, tỉnh Cà Mau có vị trí tại thửa số 4, 5, 6 Bản trích đo hiện trạng ngày
31/10/2024 của Công ty TNHH P2, có tứ cận như sau: Theo bản đồ chỉnh lý năm
2009, thì:
9
+ Phía Đông giáp với phần đất ông Đỗ Đồng Q2 đang sử dụng, cạnh dài
34,27m, có mốc từ M3 đến M4M5.
+ Phía Tây giáp với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 8, cạnh dài 37,31m, có
mốc từ M9 đến M16M15M2.
+ Phía Nam giáp với thửa đất số 203 tờ bản đồ số 8, cạnh dài 400,6m, có
mốc từ M5 đến M9.
+ Phía Bắc giáp với phần đất ông Hà Văn H3 đang sử dụng, cạnh dài
395,36m, có mốc từ M2 đến M3.
- Buộc bà Hà Thị T giao trả cho bà Kim Thị M phần đất có diện tích theo đo
đạc thực tế là 5.983,7m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau cũ, nay là
phường H, tỉnh Cà Mau có vị trí tại thửa số 7 Bản trích đo hiện trạng ngày
31/10/2024 của Công ty TNHH P2, có tứ cận như sau: Theo bản đồ chỉnh lý năm
2009, thì:
+ Phía Đông giáp với phần đất ông Đỗ Đồng Q2 và Lê Kim T3 đang sử
dụng, cạnh dài 39,99m, có mốc từ M5 đến M6.
+ Phía Tây giáp với phần còn lại của thửa số 203, tờ bản đồ số 8, cạnh dài
37,71m, có mốc từ M7 đến M8.
+ Phía Nam giáp với phần còn lại của thửa số 203, tờ bản đồ số 8, cạnh dài
154,79m, có mốc từ M6 đến M7.
+ Phía Bắc giáp với thửa số 194, tờ bản đồ số 8, cạnh dài 153,62m, có mốc
từ M8 đến M5.
(Kèm theo bản trích đo hiện trạng do Công ty TNHH P2 ký ngày
31/10/2024).
2. Chi phí tố tụng:
Bà Hà Thị T phải chịu chi phí xem xét, đo đạc, thẩm định tại chỗ và chi phí
thẩm định giá (đã nộp xong).
3. Án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm: Bà Kim Thị M không phải chịu. Bà Hà Thị T được miễn.
- Án phí phúc thẩm: Bà Kim Thị M và ông Hà Hoàng S không phải chịu.
Ngày 10/9/2025 bà Kim Thị M nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng, theo
biên lai số 0000244 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được nhận lại.
Ông Hà Hoàng S đã được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
10
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lê Phan Công Trí Trương Thanh Dũng
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
Đỗ Cao Khánh
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lê Phan Công Trí Trương Thanh Dũng
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
12
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 28/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm