Bản án số 940/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 940/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 940/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 940/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 940/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 940/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/12/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Hủy bản án sơ thẩm do phát sinh tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 940/2025/DS-PT
Ngày: 31-12-2025
V/v “Tranh chấp quyền sử
dụng đất, di dời tài sản trên
đất, hợp đồng tín dụng và hợp
đồng thế chấp tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông
Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Vũ Đình Quang - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17/11, 28/11 và ngày 31/12/2025 tại trụ sở 1 Tòa án nhân
dân tỉnh Đng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số:
510/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất, di dời tài sản trên đất, hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 37/2025/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân dân khu
vực 11 – Đng Tháp) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 534/2025/QĐ-PT ngày
27 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Ấp D, xã P (xã H, huyện T), tỉnh Đng Tháp.
1.2. Đoàn Thị T1, sinh năm 1962 (đã chết).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đoàn Thị T1:
1.2.1. Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1982.
1.2.2. Nguyễn Văn L, sinh năm 1987.
2
1.2.3. Nguyễn Văn C, sinh năm 1989 (Có mặt).
1.2.4. Nguyễn Văn Thanh T2, sinh năm 1997.
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã P (xã H, huyện T), tỉnh Đng Tháp.
1.2.5. Nguyễn Thị Cẩm T3, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Ấp B, xã T (xã T, huyện T), tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Bé
H, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn Thanh T2, chị Nguyễn Thị Cẩm T3: Anh
Nguyễn Văn C, sinh năm 1989 (Có mặt). Địa chỉ: Ấp D, xã P (xã H, huyện T),
tỉnh Đng Tháp (Hợp đng ủy quyền ngày 24/4/2025).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn C: Luật sư
Lê Thị Trúc P là Luật sư của Công ty L5 chi nhánh Đ2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh
Đ (Có mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Nguyễn Văn T4, sinh năm 1971 (Có mặt).
2.2. Cao Thị Hng Đ, sinh năm 1977 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã P (xã H, huyện T), tỉnh Đng Tháp.
3. Ngưi có quyn li, ngha v liên quan:
3.1. Nguyễn Thị Cẩm T3 (Nguyễn Cẩm T3), sinh năm 1996 (Có đơn xin
xét xử vắng mặt).
3.2. Phan Thanh S, sinh năm 1991 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã B (xã B, huyện T), tỉnh Đng Tháp.
3.3. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đng Tháp (Người kế thừa quyền và
nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Đng Tháp) (Có đơn xin
xét xử vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở: Ấp A, xã P, tỉnh Đng Tháp.
3.4. Ngân hàng TMCP Q.
Địa chỉ trụ sở chính: Số A, L, phường Y (phường T, quận C), Thành phố
Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T5, chức danh: Chủ tịch
Hội đng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH Q1 nợ và Khai thác tài sản
Ngân hàng TMCP Q. Người đại diện theo pháp luật của MBAMC: Ông Hà Anh
D, chức danh: Tổng Giám đốc (Hợp đng ủy quyền số 129/UQ.MB-MBAMC
ngày 13/4/2023).
Ông Hà Anh D ủy quyền lại: Ông Phạm Anh T6, chức vụ: Phó Giám đốc
Chi nhánh T10 (Văn bản ủy quyền số 12941.4/UQ-MBAMC ngày 21/12/2023).
3
Ông Phạm Anh T6 ủy quyền lại: Ông Nguyễn Vạn P1, chức vụ: Phó Phòng
thu hi nợ M2; Ông Trần Quyết T7, ông Nguyễn Quang H1, ông Đinh Thanh
T8, ông Nguyễn Khắc H2, ông Nguyễn Hoài N, chức vụ: Chuyên viên thu hi
nợ M2 và bà Phạm Thị Vỹ L1 (Có mặt), chức vụ: Chuyên viên tố tụng M2. Cùng
địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà M, số G V, phường N (phường T, quận N), Thành phố
Cần Thơ (Văn bản ủy quyền số 1943/UQ-MBAMC ngày 29/8/2024).
4. Ngưi kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T là nguyên đơn và chị Nguyễn
Thị Bé H, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn Thanh T2,
chị Nguyễn Thị Cẩm T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên
đơn bà Đoàn Thị T1 trong vụ án.
NỘI DUNG V ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 20/3/2024 và quá trình giải quyết v án, nguyên
đơn ông Nguyễn Văn T có ngưi đại diện theo ủy quyn là anh Nguyễn Văn
C trình bày:
Đất tranh chấp tại thửa 639, có diện tích 1.077m
2
và thửa 1273, có diện
tích 418m
2
, cùng tờ bản đ số 3 (bản đ 299) đất tọa lạc tại xã H, huyện T có
ngun gốc năm 1995 ông bà nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn L2 (hiện
đã chết) có chiều ngang 30m x dài từ lộ đến kênh C. Ngun gốc đất ông L2 được
Nhà nước cấp, có giấy tay cấp đất của ông Trần Văn L3 (đã chết) vào ngày
20/02/1981, có làm giấy tay mua bán với ông L2, giá chuyển nhượng là
15.000.000 đng, ông bà đã giao đủ tiền cho ông L2. Sau khi nhận chuyển
nhượng thì ông bà sử dụng liên tục trng cây và chăn nuôi cho đến nay, trong
quá trình sử dụng không tranh chấp với ai.
Năm 1997 ông T, bà T1 đến Ủy ban nhân dân (UBND) xã H để đăng k
quyền sử dụng (QSD) đất tranh chấp thì được biết ông T4, bà Đ đã đăng k ri.
Sau khi biết ông bà có đến gặp ông T4, bà Đ hứa sẽ sang tên phần đất tranh chấp
lại cho ông bà (chỉ nói miệng, không có giấy tờ thỏa thuận), nhưng đến nay ông
T4, bà Đ không sang tên lại cho ông T, bà T1. Các bên phát sinh tranh chấp năm
2022 đến nay. Ông T, bà T1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất tại các thửa
đất nêu trên.
Ngày 19/12/2024 ông T, bà T1 có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, ông bà
không yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất tại thửa đất nêu trên. Ông T, bà T1
yêu cầu ông T4, bà Đ có trách nhiệm sang tên trả lại các thửa đất gm: Thửa 639,
có diện tích 1.077m
2
và thửa 1273, có diện tích 418m
2
, cùng tờ bản đ số 3 (bản
đ 299) đất tọa lạc tại xã H, huyện T, do ông T4 đứng tên cho ông T, bà T1.
Ông T4, bà Đ yêu cầu ông T, bà T1 di dời toàn bộ tài sản có trên đất tranh
chấp để trả lại phần đất tranh chấp nêu trên thì ông T, bà T1 không đng vì đất
tranh chấp của ông T, bà T1.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB) yêu cầu công nhận hợp đng thế
chấp đối với các thửa đất gm: Thửa 639, có diện tích 1.077m
2
và thửa 1273, có
4
diện tích 418m
2
, cùng tờ bản đ số 3 (bản đ 299) đất tọa lạc tại xã H, huyện T
để phát mãi tài sản thực hiện nghĩa vụ thì ông T, bà T1 không đng vì đất tranh
chấp của ông T, bà T1. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.
- Tại đơn khởi kiện ngày 20/12/2024, t tưng trình ngày 17/4/2024 và
quá trình giải quyết v án, bị đơn ông Nguyễn Văn T4 trình bày:
Ngun gốc đất tranh chấp tại thửa 639 và thửa 1273, cùng tờ bản đ số 3
(bản đ 299) đất tọa lạc tại xã H, huyện T, có ngun gốc của bà Nguyễn Thị A
(mẹ ông T4, bà Đ) tặng cho ông T4, bà Đ vào năm 1996 theo tờ ủy quyền tặng
cho ngày 12/5/1996 (ông bà đã nộp cho Tòa án bản photo), đến năm 2004 thì
ông T4 kê khai đăng k toàn bộ diện tích đất này.
Từ khi được tặng cho thì ông T4, bà Đ bỏ trống do ông bà bận công việc
thường xuyên đi làm vắng nhà nên ông T, bà T1 trng cây, nuôi heo. Ông T4, bà
Đ cũng không có kiến khi ông T, bà T1 sử dụng trên phần đất tranh chấp vì
bận phải đi làm, hơn nữa vì ông T là anh ruột của ông T4.
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông T4, bà Đ không đng .
Ông T4, bà Đ yêu cầu ông T, bà T1 di dời toàn bộ cây trng, công trình kiến trúc
có trên đất tranh chấp để trả lại diện tích đất tranh chấp thửa 639, diện tích
1.077m
2
và thửa 1273, diện tích 418m
2
, cùng tờ bản đ số 3 (bản đ 299) đất tọa
lạc tại xã H, huyện T do ông T4 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB) yêu cầu trả số tiền còn nợ theo
hợp đng vay 92.17.711.3413146.TD ngày 24/8/2017 và khế ước nhận nợ kèm
theo, với số tiền tạm tính đến hết ngày 10/6/2025 là 371.946.263 đng và công
nhận hợp đng thế chấp QSD đất số 100.17.711.3402878.BĐ ngày 23/01/2018
thì ông T4, bà Đ đng . Số tiền vay theo hợp đng vay 92.17.711.3413146.TD
ngày 24/8/2017 do chị Cẩm T3 và anh S k tên h sơ vay (con gái và con rể),
nhưng ông bà là người nhận tiền vay. Chị Cẩm T3 và anh S không có nhận tiền
nên ông bà thống nhất trả số tiền này. L do anh S, chị Cẩm T3 k tên trên hợp
đng vay vì ông T4, bà Đ đã quá tuổi vay tiền nên nhờ các con là anh S, chị Cẩm
T3 k tên vay tiền dùm.
Theo hợp đng thế chấp nêu trên ông T4, bà Đ thống nhất Ngân hàng đã
giải chấp cho ông bà diện tích đất tại thửa đất 1940, tờ bản đ số 3, đất tọa lạc
tại xã H, huyện T. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.
- Quá trình giải quyết v án, bị đơn bà Cao Thị Hồng Đ trình bày: Thống
nhất kiến ông T4, không có kiến gì thêm.
- Tại đơn khởi kiện ngày 27/11/2024 và quá trình giải quyết v án, ngưi
có quyn li, ngha v liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB) có
bà Phạm Thị Vỹ L1 là ngưi đại diện theo ủy quyn trình bày:
Năm 2017 chị Cẩm T3, anh S k kết hợp đng số 92.17.711.3413146.TD
ngày 24/8/2017 và khế ước nhận nợ số LD1723761448 ngày 25/8/2017 kèm
theo với số tiền 300.000.000 đng, lãi suất 11%/năm, mục đích vay tiêu dùng,
5
ngày đến hạn 25/8/2024, để đảm bảo khoản vay trên ông T4, bà Đ đã k hợp
đng thế chấp số 100.17.711.3402878.BĐ ngày 03/01/2018 để thế chấp các thửa
đất như sau: QSD đất tại thửa 639, có diện tích 2.531m
2
và thửa 1273, có diện
tích 979m
2
, cùng tờ bản đ số 3 (bản đ 299) đất tọa lạc tại xã H, huyện T, do
ông T4 đứng tên. Đến nay chị Cẩm T3 và anh S chưa trả hết nợ cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng yêu cầu chị Cẩm T3, anh S thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho
Ngân hàng TMCP Q các khoản nợ theo hợp đng cho vay số
92.17.711.3413146.TD ngày 24/8/2017 và khế ước nhận nợ kèm theo, với số tiền
tạm tính đến hết ngày 10/6/2025 là 371.946.263 đng, trong đó: Nợ gốc
146.999.999 đng, nợ lãi tổng cộng 224.946.264 đng.
Buộc chị Cẩm T3, anh S phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q số
tiền nợ lãi phát sinh từ ngày 10/6/2025 tính theo lãi suất thỏa thuận quy định tại
92.17.711.3413146.TD k ngày 24/8/2017 và khế ước nhận nợ kèm theo cho đến
khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Q.
Công nhận hợp đng thế chấp QSD đất số 100.17.711.3402878.BĐ ngày
23/01/2018. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật chị Cẩm T3, anh S không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu
trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Q có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành
án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của các khoản vay
theo hợp đng thế chấp số 100.17.711.3402878.BĐ ngày 03/01/2018 để thu hi
toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.
Trong trường hợp số tiền phát mại, thu hi từ tài sản đảm bảo cho khoản
vay của chị Cẩm T3, anh S được nêu trên vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng
TMCP Q thì chị Cẩm T3, anh S phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân
hàng TMCP Q cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
- Quá trình giải quyết v án, ngưi có quyn li, ngha v liên quan chị
Nguyễn Cẩm T3 có ý kiến như sau:
Chị là con ruột của ông T4, bà Đ. Trước đây chị và anh S có k kết hợp
đng vay tiền tại Ngân hàng theo hợp đng vay số 92.17.711.3413146.TD ngày
24/8/2017 nhưng anh chị không có nhận tiền, ông T4, bà Đ là người nhận tiền
vay. L do vợ chng chị k tên trên hợp đng vay vì ông T4, bà Đ đã quá tuổi
vay tiền nên nhờ chị và anh S k tên thừa kế, chị không biết k vay tiền, sau này
thì mới biết. Nay Ngân hàng khởi kiện chị không đng . Ông T4, bà Đ nhận
tiền thì có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q. Ngoài ra, không yêu cầu
gì khác.
- Quá trình giải quyết v án, ngưi có quyn li, ngha v liên quan
anh Phan Thanh S có đơn xin giải quyết vắng mặt, đến nay không có văn bản
ý kiến gởi đến Tòa án.
- Ngưi kế thừa quyn và ngha v tố tng của bà Đoàn Thị T1 gồm:
Chị Nguyễn Thị Bé H, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn
6
Văn Thanh T2, chị Nguyễn Thị Cẩm T3 có anh Nguyễn Văn C đại diện ủy
quyn có ý kiến trình bày như sau: Thống nhất với kiến ông T, không có ý
kiến gì thêm.
- Quá trình giải quyết v án, ngưi có quyn li, ngha v liên quan
UBND huyện T có văn bản ý kiến:
Ngày 11/5/2004 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất có số vào
sổ 01390QSDĐ/305/H cho ông T4 thửa đất 1273, tờ bản đ số 3, đất tọa lạc tại
xã H được thực hiện đúng đối tượng, vị trí theo quy định của pháp luật tại thời
điểm cấp giấy và không tiến hành đo đạc thực tế (cấp theo h sơ địa chính 299).
Việc UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất (lần đầu) có số vào sổ
1390QSDĐ/305/H ngày 11/5/2004 cấp theo h sơ địa chính 299) và cấp giấy
chứng nhận QSD đất có số vào sổ CH00273 ngày 31/12/2010 (cấp đổi do hết
trang tư) cho ông T4 thửa đất 639, tờ bản đ số 3, được thực hiện đúng trình tự,
thủ tục, đối tượng theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy và không
tiến hành đo đạc thực tế.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 37/2025/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (Tòa án nhân dân
khu vực 11 – Đồng Tháp) (viết tắt bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T, bà Đoàn
Thị T1 đối với ông Nguyễn Văn T4, bà Cao Thị Hng Đ.
2. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T4 đối với ông Nguyễn Văn T,
bà Đoàn Thị T1 về việc di dời cây trng, tài sản trả lại đất cho ông Nguyễn Văn
T4, bà Cao Thị Hng Đ.
3. Buộc ông Nguyễn Văn T cùng các con gm: Chị Nguyễn Thị Bé H, anh
Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn Thanh T2, chị Nguyễn Thị
Cẩm T3 di dời cây trng, chung heo, mái che tại một phần thửa đất 639, có diện
tích 1.077m
2
và thửa 1273, có diện tích 418m
2
, cùng tờ bản đ số 3 (bản đ 299)
đất tọa lạc tại xã H, huyện T, do ông Nguyễn Văn T4 đứng tên giấy chứng nhận
QSD đất để trả lại cho ông Nguyễn Văn T4. Vị trí đo từ mốc 1, 2, 3, 4, 5, 15, 9,
10, 11, 12, 13 trở về mốc 1.
(Có Sơ đồ đo đạc hiện trạng khu đất tranh chấp giữa các đương sự nêu
trên về việc đo vẽ sơ đồ ngày 09/10/2024 và Biên bản xem xét thẩm định cùng
ngày, Sơ đồ đo đạc bổ sung ngày 22/06/2025 kèm theo).
4. Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Văn T, bà Đoàn Thị T1 về việc hủy
giấy chứng nhận QSD đất tại một phần thửa đất 639, có diện tích 1.077m
2
và
thửa 1273, có diện tích 418m
2
, cùng tờ bản đ số 3 (bản đ 299) đất tọa lạc tại
xã H, huyện T, do ông Nguyễn Văn T4 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q
đối với chị Nguyễn Thị Cẩm T3 (Nguyễn Cẩm T3), anh Phan Thanh S.
7
6. Buộc chị Nguyễn Thị Cẩm T3 (Nguyễn Cẩm T3), anh Phan Thanh S có
trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB) số tiền nợ
gốc và lãi còn nợ là 371.946.263 đng, theo Hợp đng tín dụng hạn mức số
92.17.711.3413146.TD ngày 24/8/2017 và khế ước nhận nợ. Và tiếp tục chịu lãi
phát sinh theo hợp đng tín dụng đã k cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số
nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB).
7. Công nhận hợp đng thế chấp QSD đất số 100.17.711.3402878.BĐ ngày
23/01/2018 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với ông Nguyễn Văn T4, bà
Cao Thị Hng Đ. Trường hợp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà chị Nguyễn
Thị Cẩm T3 (Nguyễn Cẩm T3), anh Phan Thanh S không thực hiện trả số tiền
cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q. Cơ quan Thi hành án dân sự xử l tài
sản đã thế chấp trong hợp đng nói trên để thi hành theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp số tiền phát mại/thu hi từ tài sản đảm bảo cho khoản
vay của chị Nguyễn Thị Cẩm T3 (Nguyễn Cẩm T3), anh Phan Thanh S được nêu
trên vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, chị Nguyễn
Thị Cẩm T3 (Nguyễn Cẩm T3), anh Phan Thanh S phải tiếp tục thực hiện nghĩa
vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q cho đến khi tất toán toàn bộ
khoản vay.
8. Về án phí:
- Ông Nguyễn Văn T là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp
tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên không đề cập xử l.
- Chị Nguyễn Thị Bé H, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh
Nguyễn Văn Thanh T2, chị Nguyễn Thị Cẩm T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
số tiền là 300.000 đng (Ba trăm nghìn đng).
- Chị Nguyễn Thị Cẩm T3 (Nguyễn Cẩm T3), anh Phan Thanh S phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 18.597.000 đng (Mười tám triệu năm trăm chín
mươi bảy nghìn đng).
- Ông Nguyễn Văn T4, bà Cao Thị Hng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
số tiền là 300.000 đng (Ba trăm nghìn đng), nhưng được trừ vào toàn bộ số tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000464
ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông,
tỉnh Đng Tháp.
- H3 lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q toàn bộ số tiền tạm ứng án
phí đã nộp là 9.079.000 đng (Chín triệu không trăm bảy mươi chín nghìn đng)
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000433 ngày 12 tháng 12 năm
2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đng Tháp.
9. Về chi phí tố tụng:
8
- Ông Nguyễn Văn T phải chịu chi phí đo đạc đất số tiền là 3.143.000 đng,
tiền định giá là 2.000.000 đng. Tổng cộng là 5.143.000 đng (Năm triệu một
trăm bốn mươi ba nghìn đng). Ông T đã nộp xong.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền,
nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm. Ngày 07/7/2025 ông Nguyễn Văn T, chị Nguyễn
Thị Bé H, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn Thanh T2,
chị Nguyễn Thị Cẩm T3 không thống nhất bản án sơ thẩm, nên đã kháng cáo yêu
cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết: Sửa bản án sơ thẩm 37/2025/DS-ST ngày 24
tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đng Tháp. Chấp
nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng của bà Đoàn Thị T1, buộc ông Nguyễn Văn T4 có trách nhiệm đến cơ
quan có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất tại thửa
đất số 639, diện tích 1.077m
2
và diện tích 418m
2
, cùng tờ bản đ số 3, tọa lạc tại
xã H, huyện T (nay xã là xã P), tỉnh Đng Tháp cho gia đình ông Nguyễn Văn
T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Luật sư Lê Thị Trúc P trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị
Hội đng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, không chấp nhận phản tố của bị đơn. Bởi, gia đình ông T, bà
T1 đã nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn L2 và đã ở, sử dụng trên diện
tích đất đang tranh chấp từ năm 1995 cho đến nay đã hơn 30 năm. Khi Nhà nước
cho kê khai đăng k quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Văn T4 đăng k luôn diện
tích của ông T, bà T1. Sau khi biết được thì ông T, bà T1 có đến gặp ông T4, bà
Đ hứa sẽ sang tên phần đất tranh chấp lại cho ông T, bà T1. Gia đình ông T đã
nhiều lần san lấp, cải tạo đất và trng cây trên đất từ năm 2000 cho đến nay vẫn
còn. Trường hợp, Tòa án không chấp nhận kháng cáo của gia đình ông T thì đề
nghị Hội đng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm để trả h sơ về Tòa án cấp sơ
thẩm giải quyết buộc gia đình ông T4, bà T1 trả lại chi phí cải tạo đất cho nguyên
đơn.
- Anh Nguyễn Văn C trình bày: Thống nhất lời trình bày của Luật sư, bổ
sung thêm kiến. Hiện nay các cây trng trên đất vẫn còn như sau: Bạch đàng
09 cây trng từ năm 2000, hoành rộng đến 145cm, cao từ 18m-22m; Dừa 05 cây
trng năm 2010, hoành 180cm, thân cao 5m-6m; Mít 05 cây lớn trng năm 2011,
hoành 70cm-130cm; Me 01 cây trng năm 2012, hoành 70cm, cao 12m; Xoài 08
cây trng năm 2011, hoành 70cm-80cm; M vàng 08 cây trng năm 2017, hoành
30cm-45cm; Bưởi 02 cây trng năm 2019, hoành 38cm-40cm và 01 chung heo
trên đất xây dựng năm 2010 ngang 8m, dài 9,5m, nền bê tông có 03 ngăn, gia
đình nuôi heo nhưng sau này dùng để chứa vật dụng trong nhà.
- Ông Nguyễn Văn T4, bà Cao Thị Hng Đ trình bày: Thừa nhận phía gia
đình ông T có san lấp nhưng không biết bao nhiêu và không đng bi thường
9
theo yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị Hội đng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bà Phạm Thị Vỹ L1 trình bày: Không có kiến, Ngân hàng không có
kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đng Tháp phát biểu kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn phúc thẩm: Thủ tục kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Bé
H, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn Thanh T2, chị
Nguyễn Thị Cẩm T3 thực hiện đúng và hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đng xét xử và Thư k
phiên tòa kể từ khi thụ l vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành và
thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham
gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định
của pháp luật.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đng xét xử áp dụng khoản
3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn
T, chị Nguyễn Thị Bé H, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn
Văn Thanh T2, chị Nguyễn Thị Cẩm T3, hủy bản án dân sự sơ thẩm số
27/2025/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam
Nông, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đng Tháp) và giao h
sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
192/PB-VKS-DS ngày 31/12/2025).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát, Hội đng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đng Tháp (Tòa án
nhân dân khu vực 11 – Đng Tháp) thụ l và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh
chấp quyền sử dụng đất, di dời tài sản trên đất, hợp đồng tín dụng và hợp đồng
thế chấp tài sản” là đúng quy định tại khoản 2, 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và
thẩm quyền của Tòa án. Việc ông Nguyễn Văn T là nguyên đơn và chị Nguyễn
Thị Bé H, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn Thanh T2,
chị Nguyễn Thị Cẩm T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên
đơn bà Đoàn Thị T1 nộp đơn kháng cáo ngày 07/7/2025 là trong thời hạn kháng
cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Nguyễn Cẩm T3, anh Phan Thanh S và Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Đng Tháp vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét
10
xử vắng mặt nên Hội đng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại
Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tư cách tham gia tố tụng: Trong vụ án xác định nguyên đơn là ông
Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị Tuyết . Theo Trích lục khai tử số 130/TLKT-BS
ngày 22/4/2025 thể hiện bà Đoàn Thị T1 chết ngày 18/4/2025. Tòa án cấp sơ thẩm
ban hành Thông báo số 40/TB-TA ngày 29/4/2025 về việc đưa người tham gia tố
tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đoàn Thị
Tuyết . Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng của bà T1 gm chị Bé H, anh L, anh C, anh T2, chị T3 không có ông T là
chưa phù hợp tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong vụ án này cần xác định
ông Nguyễn Văn T tham gia tố tụng với 02 tư cách là nguyên đơn và người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Bé H, anh Nguyễn
Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn Thanh T2, chị Nguyễn Thị Cẩm T3
yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T và những
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đoàn Thị T1, buộc ông Nguyễn
Văn T4 có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên
chuyển quyền sử dụng đất tại thửa đất số 639, diện tích 1.077m
2
và diện tích
418m
2
, cùng tờ bản đ số 3, tọa lạc tại xã H, huyện T (nay xã là xã P), tỉnh Đng
Tháp cho gia đình ông Nguyễn Văn T. Trường hợp, không sửa bản án thì yêu
cầu hủy bản án sơ thẩm, giao về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Hội đng xét xử xét thấy:
Các đương sự thống nhất phần đất tranh chấp trong phạm vi các mốc 1-2-
3-4-5-15-9-10-11-12-13-1 theo Sơ đ đo đạc ngày 09/10/2024 và Sơ đ đo đạc
bổ sung ngày 16/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai huyện T.
Nguyên đơn cho rằng ngun gốc đất tranh chấp được Nhà nước cấp cho
ông Nguyễn Văn L2 vào năm 1981 có chiều ngang 30m x dài từ lộ đến kênh C.
Sau đó, năm 1995 ông L2 chuyển nhượng cho nguyên đơn và cung cấp giấy tay
mua bán không ngày tháng, giấy tay cấp đất của ông Trần Văn L3 (đã chết) đại
diện Ban Q2 xác nhận vào ngày 20/02/1981 cấp cho ông L2. Sau khi nhận chuyển
nhượng đã sử dụng từ năm 1995 đến nay. Trước đây, có 01 cái hầm (ao) gia đình
đã san lấp nhiều lần từ năm 2000 trở về sau và tiến hành trng cây trên đất, xây
dựng chung heo nhưng không ai tranh chấp ngăn cản.
Bị đơn cho rằng ngun gốc đất do mẹ Nguyễn Thị A để lại và cung cấp Tờ
ủy quyền đề ngày 12/5/1996 thể hiện bà Nguyễn Thị A ủy quyền lại cho ông
Nguyễn Văn T4 44 công đất, có xác nhận của ông Trần Văn L3. Tại Biên bản lấy
lời khai ngày 12/6/2025 đối với ông Nguyễn Minh H4 và ông Nguyễn Minh C1
(cha ông H4, ông C1 là anh ruột của ông T4, ông T) trình bày đất tranh chấp là
của bà A để lại cho ông T4, sau khi cho ông T4, bà Đ quản l, sử dụng, do đi làm
ăn xa không thường xuyên ở nhà nên ông T, bà T1 có qua trng cây và sử dụng
11
nên phát sinh tranh chấp đến nay. Bị đơn cho rằng từ khi được cho và kê khai
đăng k QSD đất bị đơn quản l, sử dụng, do hoàn cảnh khó khăn đi làm ăn xa,
không thường xuyên ở nhà nên có biết nguyên đơn sử dụng, do là anh em ruột với
nhau nên bị đơn không có kiến gì về việc nguyên đơn trng cây, xây chung
heo trên đất tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 28/11/2025, bị đơn thừa nhận nguyên đơn sử
dụng đất từ năm 1995 cho đến nay. Bị đơn cung cấp giấy xác nhận ngày
11/12/2025 và ngày 29/12/2025 của ông Lê Văn T9, ông Nguyễn Văn H5, ông Lê
Văn N1, ông Thái Ngọc M1, ông Đoàn Văn R, ông Trần Văn Đ1, ông Nguyễn
Văn S1 xác nhận là những người sinh sống gần phần đất tranh chấp giữa ông T
và ông T4, biết phần đất này ông T và bà T1 đã sử dụng từ năm 1995 đến nay,
bằng việc trng dừa, chuối, bạch đàng, xoài, mãng cầu…đng thời, xây dựng
chung heo trên đất, có một cái hầm rất sâu có chiều dài giáp lộ đến hết đất, ông
T và bà T1 nuôi cá một thời gian thì sau năm 2000 tiến hành san lấp hầm nhiều
lần, thuê sà lan bơm cát bùn san lấp, thuê sáng múc gàu đổ đất vào hầm qua nhiều
năm liền thì đã bằng phẳng để trng cây cho đến nay. Tại Biên bản lấy lời khai
ngày 28/11/2025, bà Trần Thị Bé S2 khai: Bà là vợ của ông L2, là chị dâu của
ông T và ông T4. Năm 1981 Tập đoàn của ông Hai L4 cấp cho vợ chng bà một
nền ngang 31m, dài từ đường lộ kênh K chạy dài tới mé sông. Lúc cấp là đất trũng
(sâu cỡ 2m so với mặt lộ hiện tại), sau này vợ chng bà lấy đất đắp lên 01 nền nhà
bề ngang khoảng 10m, còn lại bị trũng sâu xuống (sâu cỡ 4m so với mặt lộ hiện
tại), vị trí ngay tranh chấp hiện tại. Đến năm 1995 thì vợ chng bán cho ông T
phần đất trên với giá 15.000.000 đng. Bà không biết ông T trng bạch đàng, xây
dựng chung heo năm nào, san lấp khi nào nhưng hiện trạng cái trũng đã được
san lấp muốn bằng mặt lộ, thấp hơn khoảng 20cm.
Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/10/2024 thể hiện: Hiện trạng
trên đất tranh chấp có 01 chung heo, ao, một phần nhà tạm, các cây trng gm
05 bụi chuối (40 cây), 07 cây mít, 66 cây dừa, 26 cây bạch đàn, 05 cây xoài, 02
cây me chua, 02 cây thanh long. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn C trình bày bị
đơn cho rằng nguyên đơn trng cây và xây dựng chung heo cách nay 02-03 năm
là không đúng. Bởi, các cây trng do gia đình nguyên đơn trng cách nay lâu
năm như: Bạch đàng 09 cây lớn trng từ năm 2000, hoành rộng đến 145cm, cao
từ 18m-22m; Dừa 05 cây lớn trng năm 2010, hoành 180cm, thân cao 5m-6m;
Mít 05 cây lớn trng năm 2011, hoành 70cm-130cm; Me chua 01 cây lớn trng
năm 2012, hoành 70cm, cao 12m; Xoài 08 cây lớn trng năm 2011, hoành 70cm-
80cm; M vàng 08 cây trng năm 2017, hoành 30cm-45cm; Bưởi 02 cây trng
năm 2019, hoành 38cm-40cm và 01 chung heo trên đất xây dựng năm 2010
ngang 8m, dài 9,5m, nền bê tông có 03 ngăn, gia đình nuôi heo nhưng sau này
dùng để chứa vật dụng trong nhà. Gia đình nguyên đơn đã san lấp ao từ năm
2000 qua nhiều lần san lấp với tổng chi phí là 169.100.000 đng, trường hợp Tòa
án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm buộc ông T4 và bà T1 phải trả lại tiền chi phí là 169.100.000 đng
12
hoặc theo giá trị thị trường hiện tại số m
3
đất, cát mà nguyên đơn san lấp.
Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn cung cấp các tài liệu, chứng
cứ mới và có yêu cầu giải quyết chi phí san lấp, cải tạo và ông T4, bà Đ thừa
nhận có việc nguyên đơn có san lấp nhưng không biết bao nhiêu và không đng
bi thường 169.100.000 đng như yêu cầu của nguyên đơn. Đây là các tình tiết
mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm nên cần được làm rõ về quá trình sử dụng
đất của đương sự, việc trng cây, xây dựng công trình, vật kiến trúc trên đất và
xem xét, giải quyết trong cùng vụ án để đảm bảo toàn diện quyền và lợi ích hợp
pháp của các đương sự, không thể tách ra giải quyết bằng vụ kiện khác.
[3] Từ cơ sở phân tích trên, Hội đng xét xử xét thấy kháng cáo của ông
Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Bé H, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C,
anh Nguyễn Văn Thanh T2, chị Nguyễn Thị Cẩm T3 yêu cầu hủy bản án sơ thẩm,
giao về Tòa án sơ thẩm xét xử lại là có căn cứ chấp nhận. Từ đó, Hội đng xét
xử hủy bản án sơ thẩm và giao h sơ về cho Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đng
Tháp xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
[4] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa như nêu
trên. Hội đng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được chấp
nhận.
[5] Về án phí: Do án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Bé H, anh
Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn Thanh T2, chị Nguyễn Thị
Cẩm T3.
2. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2025/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân dân
khu vực 11 – Đng Tháp).
3. Giao h sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đng Tháp giải
quyết lại theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Bé H,
anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn Thanh T2, chị Nguyễn Thị Cẩm T3 không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại ông T, chị Bé H, anh C, anh T2,
chị T3 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đng, theo biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án số 0000151 ngày 07/7/2025 của Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 11 – Đng Tháp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
13
Nơi nhận:
- VKSND Tỉnh;
- Phòng TT, KT & THA TAND Tỉnh;
- TAND khu vực 11 – Đng Tháp;
- Phòng THADS khu vực 11 – Đng Tháp;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS
(Quang)
.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên và đóng dấu)
Hứa Quang Thông
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm