Bản án số 414/2025/DSPT ngày 30/12/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 414/2025/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 414/2025/DSPT ngày 30/12/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 414/2025/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: T - H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 414/2025/DS-PT
Ngày: 30 - 12 - 2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thái Lan, ông Lê Ngọc Minh.
- Thư phiên tòa: Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lk tham gia phiên tòa: Bà Trần
Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai ván dân sự thụ số 337/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 10
năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số
114/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 412/2025/QĐ-PT ngày 17/11/2025,
Quyết định hoãn phiên toà số: 375/QĐ-PT ngày 03/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1957; Địa chỉ: Tổ dân phố F,
phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền:
1. Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1970; Địa chỉ: 1 G, phường T, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
2. Ông Bùi Đức S, sinh năm 1978. Địa chỉ liên hệ: A H, phường B, tỉnh Đắk
Lắk Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Duy H1, sinh năm 1958 bà Lê Thị O, sinh năm 1964;
Địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay phường T, tỉnh Đắk Lắk)
Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số
A P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay phường B, tỉnh Đắk Lắk)
mặt.
2
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Luật Phạm Văn N, thuộc Văn phòng
L1, Đoàn Luật tỉnh Đ; Địa chỉ: Số A P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
(nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Quang P; Địa chỉ: A Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay
là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
2. UBND thành phố B; Địa chỉ: A L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch UBND phường B, tỉnh Đắk
Lắk Vắng mặt.
* Người kháng cáo: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông
Nguyễn Quốc H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H trình bày:
Căn cứ o nhu cầu của gia đình và giấy xác nhận đất đất ờn ngày
12/02/1993, ngày 15/02/1993 Hợp tác xã S1, phường T (nay là phường T), thị xã B
(nay là thành phố B) cấp cho hộ Nguyễn Thị Minh Tông Bùi Đức L 01 lô đất
thổ cư với diện tích 1.000m
2
, trong đó có căn nhà diện tích 40m
2
.
Ngày 26/6/1998, UBND phường TUBND thành phố B xác nhận đơn đăng
ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 71, tờ bản đồ 27, diện tích 1.079,8m
2
, địa
chỉ: phường T, mục đích sử dng đất: đất thổ cư, nguồn gốc: Hợp tác xã cấp.
Ngày 31/3/2004, UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sdụng
(GCNQSD) đất số X 931662 cho hộ bà Nguyễn Thị Minh T đối với thửa đất số 71,
tờ bản đồ 27, diện tích 674,0m
2
, mục đích sử dụng: trồng cây phê. Số diện tích
còn lại 405,8m
2
là đất có nhà và các công trình phụ khác.
Ngày 10/6/2006, ông Bùi Đức L và bà Nguyễn Thị Minh T lập Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất viết tay cho ông Nguyễn Duy H1Thị O
đối với thửa 71, tờ bản đồ 27, diện tích 674,0m
2
với số tiền là 415.000.000 đồng.
Đối với diện tích còn lại 405,8m
2
thì ngày 10/3/2009, hộ T, ông L được
UBND thành phố B cấp GCNQSD đất số AO 774735 thửa đất số 155, tờ bản đồ số
27, diện tích 202,5m
2
đất ở đô thị; diện ch 183,3m
2
là đất lộ giới. Ngày 11/01/2010
T tách thành 02 thửa đất: GCNQSD đất số BA 398209 mang tên hộ Nguyễn
Thị Minh T và ông Bùi Đức L (chết) thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ 27, diện tích
76,8m
2
, mục đích sử dụng: đất tại đô thị; GCNQSD đất số BA 398210 mang tên
hộ bà Nguyễn Thị Minh T và ông Bùi Đức L (chết), địa chỉ: Tổ dân phố F, phường
T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk, thuộc thửa đất số 155, tờ bản đồ 27, diện tích 145,6m
2
, mục
đích sử dụng: đất ở tại đô thị.
Ngày 07/02/2007, ông Bùi Đức L chết. Từ đây vợ chồng O lợi dụng sơ hở
của gia đình ng các giấy tờ giao dịch của thửa đất s71, tờ bản đ27, diện tích
674,0m
2
để lừa dối sang nhượng thành công và sang tên cho hai vợ chồng bà O trên
3
GCNQSD đất số BE 036397, cấp ngày 16/02/2011 thuộc thửa đất số 155, tờ bản đồ
27, diện tích 145,6m
2
. Đối với thửa đất này gia đình không giao dịch và không mua
bán.
Hiện thửa đất số 71, tờ bản đồ 27, diện tích 674,0m
2
qua đo đạc thực tế có diện
tích 387,5m
2
GCNQSD đất trên vợ chồng Thị O vẫn đang giữ, chưa hoàn
tất thủ tục sang tên. Vì vậy, diện tích đất 145,6m
2
tại địa chỉ: A G, phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk mang tên ông Nguyễn Duy H1 và bà Lê Thị O theo GCNQSD
đất số BE 036397, thuộc thửa đất số 155, tờ bản đồ 27 cấp ngày 16/02/2011 nguồn
gốc ở đâu ra. Ông L, bà T chỉ giao dịch mua bán 01 lần duy nhất đối với thửa đất số
71, tờ bản đồ 27, diện tích 674,0m
2
cho vợ chồng bà O.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung sau:
- Yêu cầu ông Nguyễn Duy H1 Thị O trao trả diện tích đất diện tích
145,6m
2
tại địa chỉ: A G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Hủy GCNQSD đất mang tên ông Nguyễn Duy H1 Thị O sBE
036397, thửa 155, tờ bản đồ 27, cấp ngày 16/02/2011 vì việc giao dịch là không có
thật (vợ chồng ông H1bà O lừa dối và đánh tráo các giấy tờ để thực hiện hành vi
chiếm đoạt thành công thửa đất trên).
* Qtrình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông
Nguyễn Duy H1 và bà Lê Thị O trình bày:
Ông Nguyễn Duy H1 Thị O đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 27, diện tích 145,6m
2
tại A G, phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo GCNQSD đất số BE 036397 do UBND thành phố B cấp
ngày 16/02/2011 theo đúng quy định pháp luật, chủ sử dụng đất hợp pháp, được
Nhà nước công nhận. Trên thực tế ông H1, bà O đã nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất từ bà T ông L tnăm 2004. Ông H1 O đã thanh toán đủ tiền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đã quản , sử dụng đất và không bất cứ tranh
chấp gì với ai từ khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 2004. Do đó,
ông H1O không đồng ý với yêu cầu khởi kin của bà T. Đề nghị Tòa án bác
toàn bộ yêu cầu khởi kiện ca bà T.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quang P, UBND thành phố
B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng nên không
ghi nhận được ý kiến.
* Tại Bản án dân ssơ thẩm số 114/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu
vực 1- Đắk Lắk) đã quyết định:
Áp dụng các điều 105, 106, 107, 127, 135, 136 Luật Đất đai năm 2003; Các
điều 255, 256, 697, 698, 699, 700, 701, 702 Bộ lut dân sự năm 2005.
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh
T. Về việc buộc ông Nguyễn Duy H1 và bà Lê Thị O trao trả diện tích đất 145,6m
2
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 036397 do UBND thành phố B
4
cấp ngày 16/02/2011 cho ông Nguyễn Duy H1 Thị O thuộc thửa đất số 155,
tờ bản đồ số 27 tại địa ch: A G, phường T, TP. B, tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng
cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 30/6/2025, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn
Quốc H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại
theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bổ sung
nội dung kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huán thẩm. Các đương sự
không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm tại
phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, các
đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 B luật t
tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của
nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
114/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn c vào tài liệu, chng c đã đưc thu thập trong hồ vụ án đã đưc
thẩm tra tại phiên tòa; căn c vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem
xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chng c, lời trnh bày của các đương sự, quan
điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên
đơn nộp trong hạn luật định thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí phúc
thẩm nên vụ án được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm là phù hợp
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu kháng cáo của người
đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
Bà T thừa nhận, vào năm 2006 bà T và ông L chuyển nhượng cho vợ chồng
ông H1, O thửa đất số 71, tờ bản đồ số 27, diện tích 674m
2
tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk bằng giấy tờ viết tay, hiện nay có diện tích thực tế là 387,5m
2
,
ông H1 O đã quản lý, sử dụng ổn định thửa đất trên từ khi nhận chuyển nhượng
đến nay. Tại Bản án dân sự sơ thẩm s293/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tán
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (nay là Toà án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk)
đã công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên.
Nay T cho rằng chỉ chuyển nhượng đất cho ông H1, O 01 lần vào năm
2006 đối với thửa đất số 71 nêu trên, còn các thủ tục chuyển nhượng đất giữa bà T
với ông H1, bà O m 2010 đi với thửa đất số 155 là do bị vợ chng ông H1, bà O
5
lừa dối. Tuy nhiên, phía nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng
minh, không được bị đơn thừa nhận. Bị đơn trình bày, việc chuyển nhượng đất thực
tế là từ năm 2004, diện tích chuyển nhượng 900m
2
bao gồm đất thổ đất nông
nghiệp với giá 415.000.000 đồng, các bên chỉ viết giấy tờ tay với nhau, đến năm
2006 lập lại hợp đồng nhưng chưa chứng thực nên đến năm 2010 khi thửa đất trên
đã tách thành thửa 71 và 155 thì các bên thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển
nhượng đối với thửa đất số 155, số tiền chuyển nhượng ghi trong hợp đồng này thực
chất đã được thanh toán từ năm 2004.
Theo hồ Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố L1 cung cấp thể
hiện: Thửa đất số 155 nằm trong tổng diện ch 1000m
2
có nguồn gốc do Hợp tác xã
S1 cấp cho ông L, bà T từ năm 1993, đến năm 1998 bà T kê khai đăng ký quyền sử
dụng đất thửa 71, tờ bản đồ 27, diện ch 1079,8m
2
nhưng mới được cấp đối với diện
tích 674m
2
tại GCNQSD đất sX 931662 ngày 31/3/2004; ngày 10/3/2009, hộ
T, ông L được cấp GCNQSD đất số AO 0774735 đối với thửa đất số 155, tờ bản đồ
27, diện tích 202,5m
2
; sau đó bà T tách thửa 155 thành 02 thửa là thửa 155 diện tích
145,6m
2
theo GCNQSD đất số BA 398210 thửa 164 diện tích 76,8m
2
theo
GCNQSD đất số BA 398209. Tại Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày
30/10/2010 bà T và các con những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông L
đã thống nhất phần di sản thừa kế của ông L theo GCNQSD đất sBA 398210 được
phân chia cho T. Trên sđó, ngày 30/10/2010, T lập hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho ông H1, O đối với thửa đất số 155, hợp đồng được
chứng thực theo quy định. Ngày 16/02/2011, ông H1, bà O được cấp đổi GCNQSD
đất số BE 036397.
Xét thấy, bà T đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đủ khả năng nhận thức được
trách nhiệm của mình khi vào các văn bản liên quan đến đất đai, hơn nữa, trên
thực tế ông H1, bà O đã nhận quản lý, sử dụng ổn định cả thửa đất số 71 và thửa đất
số 155 từ thời điểm chuyển nhượng năm 2004 đến nay, phía T đã biết nhưng
không ý kiến phản đối gì. vậy, đủ sở khẳng định việc T chuyển
nhượng thửa đất số 155 cho ông H1, bà O là có thật, trình tự thủ tục chuyển nhượng
được thực hiện theo đúng quy định pháp luật nên Toà án cấp thẩm bác yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đề nghị huỷ
án thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như: đưa thiếu người tham
gia tố tụng những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông i Đức L những
người có liên quan đến việc mua đất chung với ông H1, bà O; một số nội dung chưa
được làm rõ như hai bên thực hiện việc chuyển nhượng diện tích đất nào, giấy thỏa
thuận mua bán chung là mua lô đất nào, diện tích bao nhiêu,... Hội đồng xét xử thấy
rằng yêu cầu trên không sở xem xét, bởi lẽ T chỉ khởi kiện yêu cầu bị
đơn trả lại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 27, không yêu cầu xem xét giá trị pháp
của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên, quá trình giải quyết
vụ án, cấp thẩm đã triệu tập đầy đủ người tham gia tố tụng, các nội dung liên quan
đến thửa đất số 71 đã được giải quyết bằng bản án hiệu lực pháp luật, còn ni
dung mua chung đất với người khác không liên quan đến thửa đất số 155.
6
Xét tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới
làm thay đổi bản chất của vụ án, do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận
kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn.
[2.2] Đối với nội dung Toà án cấp thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc huỷ Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số BE 036397 do
UBND thành phố B cấp ngày 16/02/2011 cho ông Nguyễn Duy H1 và bà Lê Thị O
thuộc thửa đất số 155, tờ bản đồ số 27 vượt quá thẩm quyền theo quy định tại Điều
34 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 30 Luật T tụng hành chính. Trong trường
hợp này, cấp sơ thẩm chỉ nên nhận định không xem xét yêu cầu hủy GCNQSD đất
của T chứ không đưa vào phần quyết định của Bản án. Do đó, cấp thẩm cần
rút kinh nghiệm.
[3] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu 4.000.000 đồng tiền chi phí thẩm
định tại chỗ và định giá tài sản, được khấu trừ s tiền tạm ứng đã nộp.
[4] Về án phí: Nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân
sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụngn sự.
Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn
là ông Nguyễn Quốc H.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 114/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của
Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân
khu vực 1- Đắk Lắk).
Áp dụng các điều 105, 106, 107, 127, 135, 136 Luật Đất đai năm 2003; các
điều 255, 256, 697, 698, 699, 700, 701, 702 Bluật dân sự năm 2005; khoản 1 Điều
26, khoản 1 Điều 29, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T
về việc buộc ông Nguyễn Duy H1bà Lê Thị O trả lại diện tích đất 145,6m
2
thuộc
thửa đất số 155, tờ bản đồ số 27 tại địa chỉ: A G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk
Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số
BE 036397 do UBND thành phố B cấp ngày 16/02/2011 cho ông Nguyễn Duy H1
và bà Lê Thị O.
2. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T phải chịu 4.000.000
đồng tiền chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đã nộp theo phiếu thu số 626,
quyển số 45 ngày 26/12/2024.
3. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị Minh T được miễn toàn bộ án phí
7
dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.
[2] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1;
- Phòng THADS khu vực 1;
- Đương sự;
- Cổng thông tin điện tử TA;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Việt Hùng
Tải về
Bản án số 414/2025/DSPT Bản án số 414/2025/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 414/2025/DSPT Bản án số 414/2025/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất