Bản án số 79/2026/HS-ST ngày 17/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 79/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 79/2026/HS-ST ngày 17/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Số hiệu: 79/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Duy H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 79/2026/HS-ST Bản án số 79/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 79/2026/HS-ST Bản án số 79/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
Bản án số: 79/2026/HS-ST
Ngày 17- 08 -2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Quỳ
Bà Đỗ Thị Viện
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình -Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 6 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân
khu vực 6 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số 1 - Công an
thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án
hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2026/TLST- HS ngày 28 tháng 7 năm 2026 theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 77/2026/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 8 năm 2026 đối
với bị cáo:
Nguyễn Văn A, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1979, tại Hải Phòng; nơi
thường trú: Tổ C, phường D, huyện E; căn cước công dân số ************
nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm
1955 và bà Bùi Thị N, sinh năm 1957; có vợ là Bùi Vân Anh, sinh năm 1984; có
01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt truy nã, tạm giữ từ ngày
31 tháng 01 tháng 2026 đến ngày 03 tháng 02 năm 2026 chuyển tạm giam tại
Trại Giam số 1- Công an thành phố Hải Phòng, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Văn B, sinh năm
1979; nơi cư trú: Tổ C, phường D, huyện E, vắng mặt.
- Những người làm chứng: Chị Bùi Thị L, anh Bùi Văn C, chị Trần Thị D, anh
Nguyễn Văn K, đều vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/10/2020, tại quán bar Cosmos thuộc tổ dân
phố Phú Hải 3, phường Anh Dũng, quận Dương Kinh (nay là phường Hưng Đạo),
thành phố Hải Phòng do Nguyễn Văn A làm chủ, Phòng Cảnh sát hình sự Công an
thành phố Hải Phòng phối hợp với Công an quận Dương Kinh bắt quả tang tại bàn
Vip5 và bàn Vip6 có một số đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể,
tại bàn Vip5 có 06 đối tượng gồm: Bùi Văn C; Trần Thị D (Trần Thị D), Vũ Văn E,
Ngô Thị F, Vũ Thị G và Phạm Thị H; tại bàn Vip6 có 03 đối tượng gồm: Trần Văn
B (Trần Văn B), Nguyễn Văn K và Phạm Văn I. Đồng thời Công an thu giữ tại bàn
Vip5: 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng gấp nhỏ bên trong có bám dính chất bột màu
trắng; 02 ống nhựa màu trắng dài 10cm trong mỗi ống có dính chất bột màu trắng;
01 tờ giấy ăn màu trắng có dính tạp chất màu xanh; thu tại bàn Vip6: 01 đĩa nhựa
màu đen; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được
cuộn tròn; 01 thẻ nhựa dạng thẻ sim điện thoại đều bám dính chất bột màu trắng.
Ngoài ra cơ quan Công an còn thu giữ 01 xe ô tô 15A - 596.54; 01 xe mô tô BKS
15B3 - 567.29, 01 xe mô tô BKS 16H1-8742 và 10 điện thoại di động các loại (của
Trần Văn B, Nguyễn Văn K mỗi người 02 chiếc, Bùi Văn C, Trần Trị Nhung, Ngô
Thị F, Phạm Thị H, Vũ Thị G, Phạm Văn I mỗi người 01 chiếc).
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của các đối tượng: Bùi Văn C, Trần Thị D, Trần
Văn B, Nguyễn Văn K, Ngô Thị F, Phạm Thị H, Phạm Văn I dương tính với hai chất
ma túy là Ketamine và MDMA, Vũ Văn E dương tính với ba chất ma túy là
Ketamine, MDMA và Cần sa, Vũ Thị G dương tính với Ketamine.
Tại Kết luận giám định số 647/KLGĐ-MT ngày 09/10/2020 của phòng Kỹ
thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Chất bột màu trắng bám trên
tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 02 ống nhựa là ma túy có khối lượng 0,06 gam là
Ketamine; tạp chất màu xanh bám dính trong tờ giấy trắng là ma túy loại MDMA và
không đủ điều kiện để xác định khối lượng.
Tạp chất, chất bột màu trắng bám trên 01 đĩa nhựa màu đen, 01 tờ tiền mệnh
giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 thẻ nhựa dạng thẻ sim điện
thoại đều là là Ketamine và không đủ điều kiện để xác định khối lượng.
Quá trình điều tra Bùi Văn C và Trần Thị D, Trần Văn B khai nhận: Hải,
Nhung và Tú có quen biết từ trước với Nguyễn Văn A. Do quán bar Cosmos của
Hùng mới mở nên Hùng đã nhiều lần gọi điện thoại mời Hải, Nhung, Tú đến chơi
để giới thiệu quán. Tối ngày 05/10/2020, Hải và Nhung đến quán ngồi ở bàn Vip5,
Tú và Nam đến quán ngồi ở bàn Vip6. Khi mọi người đến quán thì Hùng ra chào hỏi
mọi người rồi lại đi ra ngoài. Trong khi mọi người đang ngồi uống rượu, bia nghe
nhạc thì Hùng đến bàn Vip5 đưa cho Hải 02 viên ma túy loại MDMA, đến bàn Vip6
3
đưa Tú 02 viên ma túy loại MDMA và cùng mời mọi người sử dụng. Khoảng 01 giờ
sau, Hùng quay lại đưa tiếp cho mỗi bàn 01 gói ma túy loại Ketamine, được gói
trong tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng và 5.000 đồng. Sau khi có ma túy Hải và
Nhung sử dụng điện thoại gọi Hoa, Thành, Lan, Nguyệt đến ngồi ở bàn Vip5 cùng
sử dụng ma túy; Tú gọi Cường đến ngồi ở bàn Vip6 cùng sử dụng ma túy. Khi tất cả
đang sử dụng thì Công an đến bắt quả tang như đã nêu trên. Tại Bản án số
12/2021/HSST ngày 22/6/2021 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố
Hải Phòng tuyên phạt bị cáo Bùi Văn C, Trần Thị D cùng về tội “Tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; các bị cáo
Nguyễn Văn K, Trần Văn B mỗi bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Văn A sau khi phạm tội đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra
Quyết định truy nã, ngày 31/01/2026 Nguyễn Văn A bị bắt theo theo lệnh truy nã.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Hùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và 01
hộ chiếu số ********3 mang tên Nguyễn Văn A. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn
A khai nhận: Trước đó khi dọn quán Hùng nhặt được 04 viên ma túy loại MDMA
và 02 gói ma túy loại Ketamine gói trong tờ tiền giấy. Tối ngày 05/10/2020 khi thấy
Nhung, Hải, Tú, Nam đến quán chơi (Hải, Nhung ngồi bàn Vip5; Tú và Nam ngồi
bàn Vip6) Hùng chủ động mang số ma túy trên đến mời mọi người sử dụng để nghe
nhạc, cụ thể lần đầu Hùng lấy 04 viên ma túy MDMA và lấy giấy ăn gói thành 02
gói mang đến bàn Vip5 đưa cho Hải, bàn Vip6 đưa cho Tú để mọi người cùng sử
dụng, khoảng 01 giờ sau Hùng tiếp tục lấy 02 gói ma túy loại Ketamine đưa cho Hải
và Tú rồi có việc phải đi ra ngoài quán. Đến khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 06/10/2020
thì Hùng nhận được điện thoại của vợ Hùng là Bùi Thị L báo tin có Công an đến
kiểm tra quán nên Hùng đã bỏ trốn.
Về vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã và
đang tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone (đã qua sử dụng) của
Trần Văn B, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo (đã qua sử dụng) và 01
(một) hộ chiếu số ********3 Thu giữ của Nguyễn Văn A. Đối với các vật chứng
còn lại đã được giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2021/HSST ngày
22/6/2021 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 27/7/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân
khu vực 6 - Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Văn A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình như đã nêu trong cáo trạng. Đồng thời bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi
phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Trần Văn B vắng mặt
tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
4
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hải Phòng trình bày lời luận
tội: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội,
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị
cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự,
đề nghị tuyên bố Nguyễn Văn A tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề
nghị xử phạt Nguyễn Văn A từ 08 năm tù đến 09 năm tù; đề nghị không áp dụng
phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị trả lại 01 điện thoại di động
Iphone cho Trần Văn B, trả lại 01 điện thoại Oppo và 01 hộ chiếu cho Nguyễn Văn
A nhưng đề nghị tiếp tục tạm giữ điện thoại Oppo của Nguyễn Văn A để đảm bảo
thi hành án, đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: Thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa, không có ý kiến tranh luận về tội danh, về căn cứ pháp luật được áp dụng
và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hải Phòng,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt tại phiên tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án và những người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra,
những lời khai này đã được Cơ quan điều tra thực hiện theo đúng quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự. Xét thấy sự vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại
cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vắng mặt họ theo
quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về nội dung:
[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn A tại phiên tòa phù hợp với
lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang,
phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã
5
có đủ cơ sở kết luận như sau: Từ đêm ngày 05 sáng ngày 06/10/2020, tại quán bar
Cosmos thuộc tổ dân phố Phú Hải 3, phường Anh Dũng, quận Dương Kinh (nay là
phường Hưng Đạo), thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn A đã có hành vi cung cấp
ma túy, địa điểm để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của Bùi Văn C, Trần Thị
D, Ngô Thị F, Vũ Văn E, Phạm Thị H, Vũ Thị G, Trần Văn B, Nguyễn Văn K và
Phạm Văn I là thuộc trường hợp “Phạm tội đối với 02 người trở lên”. Do vậy hành
vi của bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Và như vậy, Cáo trạng số
46/CT-VKS ngày 27/7/ 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng đã
truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn A là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như
tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội
của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm
s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
[7] Về hình phạt đối với bị cáo: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi
của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý
các chất ma túy của Nhà nước ta. Tệ nạn ma túy đã và đang là hiểm họa lớn, gây tác
hại xấu cho sức khỏe con người, làm băng hoại các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền
thống của dân tộc, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và còn là
nguyên nhân, tiền đề làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy căn cứ vào tính
chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và
đặc điểm nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi
đời sống xã hội một thời gian và xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt
quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và như mức đề nghị của đại diện
Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hải Phòng tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo
dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời thể hiện tính nghiêm
minh của pháp luật.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập ổn
định, không có tài sản riêng có giá trị lớn, nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết
phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại iPhone thu giữ của Trần Văn B,
01 điện thoại Oppo và 01 hộ chiếu số ********3 thu giữ của Nguyễn Văn A đều là
những tài sản không liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1,
điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại 01 điện thoại iPhone cho
Tú và trả lại 01 điện thoại Oppo, 01 hộ chiếu số ********3 cho Nguyễn Văn A.
6
Tuy nhiên phải tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại Oppo của Nguyễn Văn A để đảm bảo
thi hành án. Đối với các vật chứng còn lại của vụ án, đã được xử lý theo Bản án hình
sự sơ thẩm số 12/2021/HSST ngày 22/6/2021 của Tòa án nhân dân quận Dương
Kinh, thành phố Hải Phòng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến
vụ án được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ pháp luật áp dụng, tội danh và mức hình phạt:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ
luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy” và xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là
ngày 31 tháng 01 năm 2026.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối
với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự; trả lại cho Trần Văn B 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone theo
Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 9 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án
dân sự quận Dương Kinh (nay là Thi hành án dân sự khu vực 6 – Hải Phòng); trả lại
cho bị cáo Nguyễn Văn A 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và 01 (một)
hộ chiếu số ********3 mang tên Nguyễn Văn A theo Biên bản thu giữ vật chứng
ngày 31 tháng 01 năm 2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải
Phòng. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo
của Nguyễn Văn A để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng
án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Nguyễn Văn A có quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
anh Trần Văn B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
7
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6,7 và 36 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND TP. Hải Phòng;
- VKSND TP. Hải Phòng;
- PV 06; PC11 - CAHP;
- VKSND KV6 - HP;
- CQCSĐT - CAHP;
- CQ THAHS - CAHP;
- THADS - HP;
- Bị cáo; người liên quan;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Duyến
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 79/2026/HS-ST Bản án số 79/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 79/2026/HS-ST Bản án số 79/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất