Bản án số 75/2020/DS-ST ngày 10/02/2020 của TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 75/2020/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 75/2020/DS-ST ngày 10/02/2020 của TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Bắc Giang (TAND tỉnh Bắc Giang)
Số hiệu: 75/2020/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/02/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quỳnh H - Vũ Thị Tú L "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH B
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 75/2020/DS-ST
Ngày 27 tháng 10 năm 2020
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh T.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Môn
2. Ông Nguyễn Văn Tư.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân
dân thành phố B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông
Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 27/10/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B mở phiên toà xét xử
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 140/2020/TLST-DS ngày 20/7/2020 về
việc
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
83/2020/QĐXXST DS ngày 15/9/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số
77/2020/QĐST-DS ngày 09/10/2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Quỳnh H, sinh năm 1961 (Có mặt).
Địa chỉ: B3-9, chợ T, phường X, thành phố B, tỉnh B
* Bị đơn:Vũ Thị Tú L, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
HKTT: Số nhà 05, ngõ 05, đồi A Xít, tổ 1, phường T, thành phB, tỉnh B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn
là bà Nguyễn Quỳnh H trình bày:
và Thị Tú L mối quan hệ quen biết từ lâu, do cần tiền làm ăn nên
Loan có hỏi vay tài sản, cụ thể vay 04 lần như sau:
- Ngày 01/10/2009 Loan vay 7.500.000 USD (đô la Mỹ).
2
- Ngày 20/10/2009 Loan vay 20.000.000 đồng.
- Ngày 01/12/2009 Loan vay 08 chỉ vàng 9999.
- Ngày 30/6/2010 bà Loan sang vay 10.000.000 đồng.
Việc cho vay này không tính lãi, các lần vay Loan đều là người viết giấy
vay cho bà. Trong hai giấy biên nhận ngày 20/10/2009 và ngày 01/10/2009 Loan
đóng dấu Công ty TNHH một thành viên Thịnh Phát, nhưng thực chất trong giấy
vay viết tên người vayVũ Thị Tú L xác định bà Loan vay với tư cách cá
nhân, không liên quan đến Công ty TNHH một thành viên Thịnh Phát không
liên quan đến người thứ ba nào khác.
Do yêu cầu nhiều lần nhưng Loan không trả nên yêu cầu Tòa án buộc
Loan phải trả cho tổng số tiền và tài sản đã vay, không yêu cầu lãi. Đối với số
đôla Mỹ số vàng 9999 yêu cầu tính ra bằng tiền Việt Nam tại thời điểm giải
quyết vụ án.
* B đơn trong giai đoạn Tòa án chuẩn bị xét xử vụ án không đến Tòa án làm
việc theo triệu tập của Tòa án và có quan điểm, ý kiến gì đối với nội dung vụ án
Tại phiên toà:
Hoa đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch cho vay 7.500 USD giữa Hoa và
bà Loan ngày 01/10/2020 là vô hiệu; buộc bà Loan phải có nghĩa vụ trả cho tổng
số tiền 246.280.000 đồng, cụ thể như sau:
-Trả 7.500.000 USD, nh theo giá tại thời điểm xét xử 23.290.000 đồng/01
USD, thành tiền Việt Nam7500USD x 23.120.000 Việt Nam đồng = 173.400.000
Việt Nam đồng theo Giấy biên nhận ngày 01/10/2009.
- Trả 08 chỉ vàng 9999, tính theo giá tại thời điểm xét xử là 5.360.000 đồng/01
chỉ, tính thành tiền Việt Nam là 08 chỉ x 5.360.000 đồng = 42.880.000 đồng theo
Giấy vay tiền ngày 01/12/2009.
- Trả số tiền vay 20.000.000 đồng theo Giấy biên nhận ngày 20/10/2009
10.000.000 đồng theo Giấy vay tiền ngày 30/6/2010.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến về việc tn
theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và trình bày quan điểm giải quyết đối
với vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình
giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật ttụng dân sự;
nguyên đơn chấp hành đúng về quyền nghĩa vụ theo các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự; bị đơn không tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự như vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ, hòa giải, vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do.
- Đề nghị Hội đồng xét xử:
3
1. Chấp nhận cầu khởi kiện của bà Nguyễn Quỳnh H.
2. Tuyên bố giao dịch cho vay 7.500 USD giữa Nguyễn Quỳnh H
Thị L ngày 01/10/2009 hiệu. Buộc Thị L nghĩa vụ hoàn
trả Nguyễn Quỳnh H 7.500 USD, nhưng tính theo giá trị tiền Việt Nam
173.400.000 đồng.
3. Buộc Thị L nghĩa vụ trả bà Nguyễn Quỳnh H tổng số tiền
72.880.000 đồng theo Giấy vay tiền ngày 30/6/2010, Giấy vay tiền ngày 01/12/2009
và Giấy biên nhận ngày 20/10/2009.
4. Về lãi suất chậm thi hành án: Đề nghị tuyên theo mc lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
- Buộc bà Vũ Thị Tú L phải chịu 12.614.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả Nguyễn Quỳnh H số tiền tạm ứng án phí 3.001.000 đồng đã nộp
tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B.
4. Về quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên quyền làm đơn kháng cáo của các
đương sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án và pháp luật áp dụng:
Nguyễn Quỳnh H khởi kiện bà Thị Tú L đòi tiền vay theo các giấy vay
tiền và giấy biên nhận là quan hệ dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, các bên
không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện
theo thủ tục Tòa án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố B theo quy
định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Thỏa thuận giữa các bên được kết năm 2009, 2010 nên áp dụng quy định
của Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án.
[1.2]. Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp l nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Do đó,
Hội đồng xét x căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,
giải quyết vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn:
+ Nguyên đơn xác định đã cho bị đơn vay tài sản 04 lần như sau: Ngày
01/10/2009 cho vay 7.500.000 USD, ngày 20/10/2009 cho vay 20.000.000 đồng,
ngày 01/12/2009 cho vay 08 chỉ vàng 9999, ngày 30/6/2010 cho vay 10.000.000
đồng và xuất trình tài liệu chứng minh là các Giấy vay tiền và Giấy biên nhận có ghi
4
người vay và người vay Thị L, nguyên đơn xác định đây khoản vay
nhân giữa nguyên đơn bị đơn, phía bđơn không quan điểm, ý kiến
không nộp tài liệu để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, nên đcăn cứ xác định
việc vay tài sản của bị đơn đối với nguyên đơn như nêu trên là đúng.
+ Đối với giao dịch ngày 01/10/2009 cho vay 7.500.000 USD (Bẩy nghìn
năm trăm đô la Mỹ) giao dịch bằng ngoại tệ. Theo mục 13 Điều 1 Pháp lệnh số
06/2013/UBTVQH13 ngày 18/3/2013 của y ban thường vQuốc Hội về sửa đổi
bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối quy định “Trên lãnh thổ Việt Nam,
mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp
đồng, thỏa thuận các hình thức tương tự khác của người trú, người không
trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. vậy, giao dịch ngày 01/10/2009 giữa
Hoa Loan vi phạm điều cấm của pháp luật được quy định tại Điều 128
của BLDS năm 2005. Do vậy, giao dịch cho vay USD giữa bà Hoa và bà Loan ngày
01/10/2009 vi phạm vào điều cấm của pháp luật. Căn cứ Điều 122, Điều 127,
Điều 128 của Bộ luật Dân sự năm 2005, nên cần chấp nhận yêu cầu của Hoa,
tuyên bố giao dịch cho vay ngoại tệ giữa Hoa với Loan ngày 01/10/2009 là
giao dịch dân sự vô hiệu.
Theo quy định tại Điều 137 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về giải quyết hậu
quả pháp của giao dịch dân sự hiệu Khi giao dịch dân sự hiệu thì các bên
khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những đã nhận; nếu không
hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền…. Việc các bên giao kết
cho nhau vay bằng ngoại tệ vi phạm điều cấm của pháp luật nên không thể buộc
Loan trả cho Hoa bằng Đô la Mỹ như đã nhận cần quy đổi thành tiền Việt
Nam đồng tại thời điểm xét xử và buộc bà Loan trả bà Hoa theo yêu cầu của bà Hoa
là phù hợp quy định tại Điều 137 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
Theo Thông báo tỷ giá mua bán ngoại tệ của Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh B II ngày 27/10/2020 (ngày xét xử sơ thẩm):
Tỷ giá quy đổi từ đồng Đôla Mỹ sang Việt Nam đồng 01 USD = 23.120.000 Việt
Nam đồng. Vậy, Loan phải hoàn trả Hoa số tiền là: 7.500USD x
23.120.000 Việt Nam đồng = 173.400.000 Việt Nam đồng.
+ Đối với 08 chỉ vàng 9999 Hoa cho Loan vày ngày 01/12/2009. Tại
Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 quy định “..đến hạn trả, bên vay nghĩa vụ phải
hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng…”. Tuy
nhiên, tại khoản 4 Điều 19 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính
phủ về quản hoạt động kinh doanh vàng quy định “Hành vi vi phạm trong hoạt
động kinh doanh vàng gồm:… sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán…”. Do đó,
5
08 chỉ vàng 9999 bà Hoa cho bà Loan vay cần buộc bà Loan có nghĩa vụ trả bà Hoa
nhưng được quy đổi ra tiền Việt Nam đồng theo tính theo giá tại thời điểm xét xử.
Theo Biên bản xác minh về giá vàng ngày 27/10/2020 tại Cửa hàng vàng Tuấn
Vinh, đường Quang Trung, phường Trần Phú, thành ph B, tỷ giá vàng 9999 %
(Vàng mười) bán thời điểm 11 giờ ngày 27/10/2020 5.360.000 đồng/01 chỉ. Do
đó, 08 chỉ vàng 999 tính thành tiền Việt Nam là 08 chỉ x 5.360.000 đồng =
42.880.000 đồng.
+ Đối với số tiền Hoa cho Loan vay 20.000.000 đồng ngày 20/10/2009
10.000.000 đồng ngày 30/6/2010, Hoa yêu cầu Loan trả số tiền này nên
cần buộc Loan nghĩa vụ trả Hoa số tiền trên phù hợp với quy định Điều
471, Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005.
[2.2]. Về lãi suất chậm thi hành án: Do vắng mặt bị đơn nên áp dụng khoản 2
Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 để tuyên lãi suất chậm thi hành án.
[2.3]. Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên trả lại cho nguyên đơn tiền
tạm ứng án phí đã nộp buộc bị đơn phải chịu án phí thẩm theo quy định tại
khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, miễn
toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 122, Điu 127, Điu 128, Điu 137, Điều 471, Điều 474
của Bộ luật n sự năm 2005; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản hoạt động
kinh doanh vàng; Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13 ngày 18/3/2013 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội về sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35; Điều 39, khoản 1 Điều 147; Điều 227;
Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật ttụng dân sự; điểm đ Điều 12 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Chấp nhận cầu khởi kiện của Nguyễn Quỳnh H.
2. Tuyên bố giao dịch cho vay 7.500 USD giữa Nguyễn Quỳnh H và
Thị L ngày 01/10/2009 hiệu. Buộc bà Thị L nghĩa vụ hoàn
trả Nguyễn Quỳnh H 7.500 USD, nhưng tính theo giá trị tiền Việt Nam
173.400.000 đồng.
3. Buộc Thị L nghĩa vụ trả bà Nguyễn Quỳnh H tổng số tiền
72.880.000 đồng theo Giấy vay tiền ngày 30/6/2010, Giấy vay tiền ngày 01/12/2009
6
Giấy biên nhận ngày 20/10/2009.
4. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực
pháp luật (đối với các trường hợp quan thi hành án quyền chủ động ra quyết
định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi
hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi
hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản
2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí:
- Buộc bà Vũ Thị Tú L phải chịu 12.614.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả Nguyễn Quỳnh H số tiền tạm ứng án phí 3.001.000 đồng đã nộp
theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0001440 ngày 20/7/2020 tại Chi
cục thi hành án dân sự thành phố B.
6. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo trong thi hạn 15 ngày k t
ngày nhận được bản án hoặc 15 ngày k t ngày bn án được niêm yết theo quy
định của pháp lut.
7. V ớng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
điều 6,7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND T. B;
- VKSND T. B
- VKS TP B,
- CCTHA dân sự TP.
- Các đương sự,
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Trần Mạnh T
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
Tải về
Bản án số 75/2020/DS-ST Bản án số 75/2020/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất