Bản án số 146/2026/HS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 146/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 146/2026/HS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 146/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Tiến Đ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 146/2026/HS-PT Bản án số 146/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 146/2026/HS-PT Bản án số 146/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 146/2026/HS-PT
Ngày: 22 - 9 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Tuân
Các Thẩm phán: Ông Dương Văn Bản
Ông Nguyễn Thế Doanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên
toà: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân tỉnh Thái Nguyên xét
xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm, thụ lý số 126/2026/TLPT-HS ngày 03
tháng 9 năm 2026, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Đ đối với bản án
hình sự sơ thẩm số 164/2026/HSST ngày 24/7/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 2 - Thái Nguyên, bằng hình thức trực tuyến; trong đó điểm cầu trung tâm tại
Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và 01 điểm cầu thành phần
tại Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Tiến Đ, T gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 6 năm 2007; Nơi
ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam Dân
tộc: Nùng; Giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Nguyễn Văn T1; con bà Phan Thị T2; Vợ,
con: Chưa có; Tiền án: Không.
Tiền sự: 02
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25/QQĐ-XPHC ngày
14/2/2025 của Công an thành phố P (cũ), tỉnh Thái Nguyên xử phạt số tiền
3.250.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách
nhiệm hình sự”. Đ chưa thi hành.
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 888/QĐ-XPHC, ngày
25/4/2025 của Công an tỉnh T xử phạt số tiền 3.250.000 đồng về hành vi “Cố ý
gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự". Đ chưa thi hành.
2
Nhân thân: Ngày 01/6/2026 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B
khởi tố bị can về tội "Gây rối trật tự công cộng".
Bị cáo hiện đang bị bắt tạm giam trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án này còn có bị cáo Đỗ Anh H, Nguyên đơn dân sự và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không bị kháng nghị, vắng
mặt do Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 30/7/2025, Vũ Bá Kỳ A điều khiển xe mô tô
không rõ biển kiểm soát của đối tượng tên H1, không rõ nhân thân, lai lịch; H1
ngồi phía sau cầm theo 02 vỏ chai bia. Đỗ Anh H điều khiển xe mô tô Honda
Wave A biển kiểm soát 20AH-032.52, bên sườn xe có cài 01 thanh kiếm là dao
có tính sát thương cao, chở Luân Thành T3. T3 mang theo một ba lô màu đen,
bên trong có 04 vỏ chai bia. Các đối tượng cùng nhau đi “lượn đường” tại khu
công nghiệp Đ, tỉnh Thái Nguyên để tìm người đánh nhau.
Khi nhóm của Kỳ A đến khu vực tổ dân phố Y, phường P, tỉnh Thái
Nguyên thì gặp Phan Văn T4 điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát
18F8-1660 chở Nguyễn Tiến Đ. Đ cầm theo 01 con dao có tính sát thương cao.
Nhóm của Đ và nhóm của Kỳ A đều đang đi “lượn đường” để tìm người đánh
nhau.
Thấy nhóm của Đ, Kỳ A điều khiển xe mô tô quay đầu đuổi theo. Kỳ A
điều khiển xe vượt lên chắn phía trước xe của Đ và T4; H điều khiển xe mô tô
chở T3 chặn phía sau. Kỳ A dùng vỏ chai bia đã chuẩn bị từ trước ném về phía
Đ và T4.
Đ và T4 bỏ xe, chạy mỗi người một hướng. Đ dùng con dao đã chuẩn bị
từ trước chém về phía nhóm của Kỳ A. H cầm thanh kiếm mang theo lao đến
chém nhau với Đ. Dao và kiếm va vào nhau nhưng không trúng ai.
Trong lúc H và Đ chém nhau, H1 cầm 01 vỏ chai bia đuổi theo T4 và ném
về phía T4 nhưng không trúng. T4 quay lại nhặt vỏ chai bia do H1 ném để ném
lại về phía H1 nhưng không trúng, sau đó tiếp tục bỏ chạy. T3 lấy vỏ chai bia
trong ba lô ném về phía Đ.
Khoảng 02 phút sau, các đối tượng dừng lại để nói chuyện. Lúc này, T4
nhặt được 01 chiếc điện thoại di động Iphone là tài sản của H. H yêu cầu T4 trả
lại điện thoại. Khi T4 đưa điện thoại cho H, H phát hiện điện thoại của mình bị
vỡ màn hình nên yêu cầu Đ và T4 bồi thường. Đ không đồng ý.
Kỳ A liền dùng tay phải giật thanh kiếm từ tay H, chém 01 nhát vào bắp
tay trái của Đ rồi tiếp tục dùng kiếm đuổi đánh Đ chạy dọc theo trục đường
chính khu công nghiệp Đ. Đ dùng dao đánh trả Kỳ A. Hai bên đánh nhau một
lúc thì dừng lại.
3
Sau đó, Kỳ A, H, T3 và H1 lên xe bỏ đi. T4 lấy xe mô tô chở Đ đi cấp cứu
tại Bệnh viện Đ2. Cùng ngày, bà Phan Thị T2 là mẹ đẻ của Nguyễn Tiến Đ đến
Công an phường P trình báo sự việc.
Cơ quan Công an tiến hành xác minh và thu giữ các vật chứng gồm: 01 ba
lô chất liệu da vải màu đen kẻ trắng, niêm phong ký hiệu A; 01 con dao, niêm
phong ký hiệu B gửi giám định; 01 thanh kiếm, niêm phong ký hiệu C gửi giám
định; các mảnh vỏ chai bia bằng thủy tinh và nhãn vỏ chai bia Hà Nội B, niêm
phong ký hiệu D; 01 xe mô tô Honda Wave A biển kiểm soát 20AH-032.52.
Tại Kết luận giám định số 563/KLTTCT-TTPY ngày 27/8/2025 của
Trung tâm Pháp y tỉnh T xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Tiến Đ tại
thời điểm giám định là 2%; cơ chế hình thành thương tích do tác động của vật có
cạnh sắc.
Tại Kết luận giám định số 293/KL-KTHS ngày 10/9/2025 của Phòng K
Công an tỉnh T kết luận các mẫu vật trong niêm phong ký hiệu B và C gửi giám
định là dao có tính sát thương cao thuộc Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư
số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C. Các mẫu vật sau
giám định được hoàn lại, niêm phong ký hiệu B1, C1.
Ngày 20/9/2025, Cơ quan điều tra làm việc với Ủy ban nhân dân phường
P và xác định địa điểm xảy ra vụ việc tại đường trục chính khu công nghiệp Đ,
thuộc tổ dân phố Y, phường P, tỉnh Thái Nguyên, là nơi công cộng, là tuyến
đường phục vụ việc đi lại, sinh hoạt chung của nhiều người và có nhiều phương
tiện lưu thông.
Việc các đối tượng mang theo hung khí, đuổi đánh nhau, sử dụng hung
khí thực hiện hành vi tại địa điểm công cộng đã ảnh hưởng đến an ninh, trật tự,
an toàn xã hội trên địa bàn, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2026/HSST ngày 24/7/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên đã xét xử Nguyễn Tiến Đ về các tội “Gây rối
trật tự công cộng” và “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 304,
điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt Nguyễn Tiến Đ 34 tháng tù về tội “Gây rối trật
tự công cộng” và 17 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt,
buộc bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 51
tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành
án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 12/10/2025 đến ngày 06/3/2026.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với bị
cáo Đỗ Anh H, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Ngày 30/7/2026, Nguyễn Tiến Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ
thẩm đã xác định và giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Đ, giữ nguyên quyết
định về hình phạt của bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa phúc thẩm, kết quả tranh tụng
và ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Đ
được làm trong thời hạn luật định, đúng chủ thể, đúng hình thức và nội dung
theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị cáo:
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Tiến Đ, Hội
đồng xét xử thấy:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa
phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tiến Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời
khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ
án, có đủ cơ sở xác định: vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 30/7/2025, tại khu
vực đường trục chính khu công nghiệp Đ, bị cáo đã mang theo dao có tính sát
thương cao, tham gia vào việc đuổi đánh nhau giữa các nhóm, gây ảnh hưởng
xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng các quy định pháp luật để xử phạt bị
cáo 34 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 17 tháng tù về tội “Sử dụng
trái phép vũ khí quân dụng”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành
hình phạt chung là 51 tháng tù.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ hoặc
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Những tình tiết giảm nhẹ đã được
cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng cho bị cáo.
Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo là có
căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết của vụ
án. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của
bị cáo.
5
Vì vậy, có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Thái Nguyên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Đ và giữ
nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến
Đ không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo
quy định của pháp luật.
[4] Về các quyết định khác của bản án sơ thẩm: Các quyết định khác
của Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2026/HSST ngày 24/7/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 2 – Thái Nguyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị; Hội đồng xét
xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Đ; giữ nguyên quyết định
về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2026/HSST ngày 24/7/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên.
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 và
khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2025:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 34 (ba mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối
trật tự công cộng” và 17 (mười bảy) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí
quân dụng”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc
bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 51 (năm
mươi mốt) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án,
được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam trong vụ án này từ ngày 12/10/2025 đến
ngày 06/3/2026.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc
bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2026/HSST
ngày 24/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên không có kháng
cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
6
- TAND khu vực 2;
- VKSND khu vực 2;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Công an tỉnh Thái Nguyên;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Minh Tuân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 146/2026/HS-PT Bản án số 146/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 146/2026/HS-PT Bản án số 146/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất