Bản án số 677/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 677/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 677/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 677/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 677/2026/DS-PT LIÊU PHƯỚC Đ-NGUYỄN TRUNG T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 677/2026/DS-PT Bản án số 677/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 677/2026/DS-PT Bản án số 677/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN T Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 677/2026/DS-PT
Ngày: 30-6-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
Ông Nguyễn Văn Toàn
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Thúy Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Nguyễn Thị
Thủy- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ số 639/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2026
về việc “tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 309/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 742/2026/QĐ-PT ngày
13 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Liêu Phước Đ, sinh năm: 1954. Địa chỉ: Số E, Phạm
Thái B, P. P, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Duy N, ông Trịnh Hữu B1, ông Nguyễn
Sỹ B2. Địa chỉ liên lạc: A T, P. T, thành phố Cần Thơ (ông N mặt, còn lại
vắng)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Số C, M, P. C,
thành phố Cần Thơ (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp: Ông Phạm Ngọc T1, Nguyễn Thị Y. Cùng địa chỉ
liên hệ: Số C, N, phường T, thành phố Cần Thơ (ông T1 có mặt, bà Y vắng)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Huỳnh Thu N1 Luật
Công ty L S, Đoàn Luật sư thành phố C.
2
Địa chỉ: 2, đường số D, KDC Cái Sơn H, khu vực I, phường A, thành phố
Cần Thơ.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Thị G. Địa chỉ: số A G,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: MG2-03, V, phường N,
thành phố Cần Thơ (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Minh Đ1. Địa chỉ liên hệ: 146, Đ, khu V,
phường Ô, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Người kháng cáo:
1. Ông Nguyễn Trung T là bị đơn.
2. Bà Võ Thị G là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Liêu Phước Đ trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện
như sau: Ngày 02/8/2019, ông với ông Nguyễn Trung T bản Hợp đồng
thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (không công chứng) bao
gồm thửa đất diện tích 2.200m
2
, thuộc thửa đất số CB 231256 (số vào sổ cấp
giấy chứng nhận CS10757), t bản đồ số 14, do Sở T3 cấp cho ông ngày
15/6/2016. Trên đất hiện có 5 căn nhà cấp 4 và các tài sản khác gắn liền với đất.
Đất tọa lạc tại đường V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Theo hợp đồng
thuê 03 năm kể từ ngày 02/8/2019 đến hết ngày 01/8/2022 với giá thuê hàng
tháng 15.000.000 đồng/tháng ông T đặt cọc số tiền 45.000.000 đồng để
đảm bảo việc thực hiện Hợp đồng (việc giao nhận tiền cọc này hai bên lập vi
bằng tại Văn phòng T4, số 439/2019/VB-TPL ngày 02/8/2019) với mục đích
thuê tài sản nêu trên của ông T là để ở và kinh doanh. Sau khi ký Hợp đồng thuê
ông đã bàn giao toàn bthửa đất tài sản trên đất cho ông T. Do một số
mâu thuẫn nên bắt đầu từ ngày 01/11/2020 phía ông T không trả tiền thuê tiếp
tục cho ông. Đến thời điểm ngày 01/08/2022 thời điểm kết thúc Hợp đồng
thuê thì ông đến gặp ông T để yêu cầu trả lại tài sản nhà đất yêu cầu
thanh toán cho ông toàn bộ số tiền thuê còn nợ nhưng ông T cố tình tránh
viện cớ đất đang tranh chấp với bà Võ Thị G nên không thanh toán tiền thuê cho
ông.
Đến ngày 01/6/2024 ông T mới chịu giao trả lại toàn bộ phần nđất cho
ông. Nay ông khởi kiện yêu cầu giải quyết vấn đề cụ thể sau: Buộc ông T phải
thanh toán cho ông toàn bộ số tiền thuê kể từ ngày 01/11/2020 cho đến ngày
thực tế bàn giao lại toàn b05 căn nhà trên phần đất của nguyên đơn (ngày
01/6/2024). Số tiền thuê còn thiếu lại tính đến ngày 01/6/2024 42 tháng tiền
thuê nhà x 15.000.000/tháng = 630.000.000 đồng, trừ tiền đặt cọc là:
3
630.000.000 45.000.000đ = 585.000.000 đồng. Buộc ông T phải thanh toán
cho ông là 585.000.000 đồng.
* Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đ, bị đơn ông Nguyễn
Trung T có ý kiến như sau: Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Ông đề nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ do hết thời hiệu
khởi kiện do quyền tài sản đã được chuyển giao, quyền sử dụng đất đã bán,
tài sản nhà cấp 4 hết giá trị sử dụng đã tặng cho G toàn bộ tài sản trên đất
từ ngày 29/10/2020 hợp đồng ông thuê đất đã thanh lý. Ông Đ không còn
chủ sở hữu tài sản đã bán cho G mặc phát sinh tranh chấp nhưng đã
được Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ giải quyết bằng Quyết định hiệu lực
số 14/2024/QĐST-DS ngày 25/3/2024 về việc công nhận sự thoả thuận đương
sự. Ông Đ cũng đã đồng ý để G chuyển giao quyền cho thuê cho G. T
án đã công nhận quyền cho bà G, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính
do bà G giữ và hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ nộp cho
Toà án bản photo không giá trị pháp lý, hợp đồng thuê nhà cũng bản
photo không giá trị pháp lý. Ông cũng không bàn giao nđất cho ông Đ,
ông Đ bị con gái Liêu Cát Phương T2 xúi giục, thực tế đất đang do G
quản sử dụng quyền tài sản của G vụ việc đã Quyết định hiệu lực
pháp luật của Toà án phải được thi hành.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị G trình bày: Từ
ngày 01/11/2020 đến ngày 01/6/2024 tranh chấp giữa ông Đ chưa giải
quyết xong nên chưa thể hiện việc bà nhận tiền thuê của ông T. Trong hợp đồng
chuyển nhượng giữa ông Đ chỉ đất, chỉ bàn giao đất không tài sản
trên đất. nhận bàn giao đất tthời điểm hợp đồng chuyển nhượng nhưng
không chứng cứ không nắm bàn giao đất như thế nào. đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa hiệu lực pháp luật do Quyết
định công nhận sự thỏa thuận của Tòa án nhân dân quận Bình thủy về việc công
nhận tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Đ đã bị hủy
bằng Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ
Chí Minh. Vấn đề tranh chấp giữa ông Đ ông T không liên quan đến nên
đại diện bà không có ý kiến.
* Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử thẩm công
khai. Tại bản án dân sự thẩm số 309/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Liêu Phước Đ. Buộc
ông Nguyễn Trung T trả cho ông Liêu Phước Đ số tiền thuê từ ngày 01/11/2020
đến ngày 14/3/2024 là: 555.000.000 đồng (đã trừ số tiền cọc: 45.000.000 đồng).
Kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền nợ theo mức lãi suất (10%/năm) quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4
2. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự và quyền kháng cáo của các
đương sự.
* Ngày 13 tháng 10 năm 2025, bị đơn ông Nguyễn Trung T kháng cáo
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử hủy bản án thẩm do đưa thiếu người
tham gia tố tụng.
* Ngày 11 tháng 10 năm 2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Thị G kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử hủy bản án thẩm
do đưa thiếu người tham gia tố tụng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý kháng
cáo của bị đơn.
- Bị đơn đồng ý trả tiền thuê cho nguyên đơn từ tháng 01/11/2020 đến hết
hợp đồng 01/8/2022 là 270.000.000 đồng, đã trừ tiền cọc 45.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà G vắng mặt.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T tranh luận: tại phiên
tòa bị đơn ông T đồng ý trả tiền thuê cho ông Đ đến hết hợp đồng, đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xem xét các
chứng cứ trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng
cáo của bị đơn, bị đơn chỉ trả cho nguyên đơn tiền thuê đất tính từ ngày
01/11/2020 đến hết hợp đồng phù hợp. Đề nghị đình chỉ đối với yêu cầu
kháng cáo của bà G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Phía Thị G đơn kháng cáo nhưng đã được triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng măt không sự kiện bất khả kháng,
trở ngại khách quan xem như từ bỏ yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử đình
chỉ xét xử yêu cầu kháng cáo của G theo quy định khoản 3 Điều 296 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trung T.
[2.1] Qua diễn biến tranh tụng tại phiên tòa hôm nay xem xét các
chứng cứ có trong hồ sơ, thấy rằng, các bên cùng thừa nhận ngày 02/8/2019 giữa
ông Liêu Phước Đ ông Nguyễn Trung T có ký hợp đồng thuê quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất. Theo đó, ông T thuê của ông Đ quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất là toàn bộ căn nhà cấp 4 tại thửa đất s1067, diện
tích 2.200m
2
, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại đường V, phường L, quận B, thành phố
5
Cần Thơ. Thời hạn thuê: 03 năm, kể từ ngày 02/8/2019 đến hết ngày 01/8/2022.
Giá thuê: 15.000.000 đồng/tháng. Phương thức thanh toán: ông T thanh toán vào
ngày 01 đến ngày 10 dương lịch mỗi tháng. Việc giao nhận tiền hai bên tự thoả
thuận thực hiện. Đồng thời, ông T đặt cọc số tiền 45.000.000 đồng để đảm bảo
việc thực hiện Hợp đồng, sau khi Hợp đồng thuê phía nguyên đơn đã bàn
giao toàn bộ thửa đất và tài sản trên đất là toàn bộ căn nhà cấp 4 cho bị đơn để
và kinh doanh.
[2.2] Thời gian từ ngày 01/11/2020 cho đến ngày 14/3/2024 (ngày có
Quyết định công nhận sự thoả thuận đương sự số 14/2024/QĐST-DS ngày
25/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy (cũ)) cho đến nay quyền sử
dụng đất và căn nhà cấp 4 trên đất vẫn thuộc quyền sử dụng của ông Liêu Phước
Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đ Quyết định công
nhận sự thoả thuận đương sự số 14/2024/QĐST-DS ngày 25/3/2024 của Tòa án
nhân dân quận Bình Thủy bị hủy bởi Quyết định giám đốc thẩm số 97/2025/DS-
GĐT ngày 16/5/2025 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Do đó, đến nay ông Đ vẫn là người chủ sử dụng phần đất và tài sản trên đất này.
Mặt khác, ông T cho rằng đã thanh lý hợp đồng thuê với ông Đ nhưng không
chứng cứ chứng minh khi ông Đ chuyển nhượng cho G cũng không thỏa
thuận giữa ba bên rằng: ông Đ sẽ chuyển giao quyền cho thuê đất cho G đối
với ông T nên ông T vẫn phải có nghĩa vụ trả tiền thuê cho ông Đ theo hợp đồng
đã kết. Đối với Văn bản cam kết ngày 24/8/2020 (bản sao) giữa ông Đ, ông
T, N1 không liên quan đến G, đồng thời, qua xem xét nội dung cũng
không thấy thể hiện chuyển giao việc cho thuê, mà chỉ thông báo quyền sử dụng
đất đã chuyển nhượng, do đó, cần xác định hợp đồng thuê giữa ông Đ ông T
vẫn đang thực hiện và có hiệu lực đối với các bên. Thực tế ông T có sử dụng đất
và tài sản trên đất thuê nên phải có nghĩa vụ trả tiền thuê theo thỏa thuận.
[2.3] Tuy nhiên, đối với thời gian sau khi hết hợp đồng (từ ngày
01/8/2022) thì các bên không thỏa thuận việc cho thuê tiếp tục, trong hợp đồng
có thỏa thuận ông T được ưu tiên thuê lại khi hết hạn nhưng các bên cũng không
làm hợp đồng mới, ông Đ cho rằng yêu cầu ông T giao mặt bằng nhưng
không chứng cứ, bên cạnh đó, thời điểm sau khi hết hạn thì ông Đ G
vẫn đang trong quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phát sinh tranh
chấp không giải quyết được nên đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Bình
Thủy (cũ), ông Đ cũng không khởi kiện ông T giao lại mặt bằng, do đó, thời
gian sau khi hết hạn hợp đồng không được tính vào hợp đồng để buộc ông T trả
cho ông Đ, cụ thể: từ 01/11/2020 đến 01/8/2022 21 tháng x
15.000.000đ/tháng = 315.000.000đ, trừ cọc 45.000.000đ n lại: 270.000.000đ.
Điều này cũng phù hợp với ý chí nguyện vọng của bị đơn ông T. Do đó, yêu cầu
của ông T được chấp nhận.
[3] Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, đúng quy định pháp luật. Cấp
thẩm đánh giá chứng cứ và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa
6
đúng một phần về thời gian tính tiền thuê đất nên sửa lại theo hướng nhận định
trên.
[4] Về phần án phí:
[4.1] Sơ thẩm: bị đơn ông T phải chịu trên số tiền trả cho nguyên đơn.
[4.2] Phúc thẩm: bị đơn ông T không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: - Khoản 2 Điều 308, Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án;
* Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị G.
- Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trung T.
- Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 309/2025/DS-ST ngày 28 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ về tiền thuê.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Liêu
Phước Đ. Buộc ông Nguyễn Trung T nghĩa vụ trả cho ông Liêu Phước Đ số
tiền thuê 270.000.000 đồng (đã trừ số tiền cọc: 45.000.000 đồng).
Kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền nợ theo mức lãi suất (10%/năm) quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
2.1. Sơ thẩm: Bị đơn ông T phải chịu 13.500.000 đồng.
2.2. Phúc thẩm: Bị đơn ông T được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005824 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân
sự thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND khu vực 1 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 1 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hà Thị Phương Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 677/2026/DS-PT Bản án số 677/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 677/2026/DS-PT Bản án số 677/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất