Bản án số 70/2026/HS-PT ngày 15/06/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 70/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 70/2026/HS-PT ngày 15/06/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 70/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bàn Thương D
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 70/2026/HS-PT Bản án số 70/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 70/2026/HS-PT Bản án số 70/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 70/2026/HS-PT
Ngày 15 tháng 6 năm 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Doanh.
Bà Nguyễn Thị Thuỷ.
- Thư phiên tòa: Đặng Quỳnh Chi - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Đức Chiến và bà Phùng Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét x
phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 51/2026/TLPT-HS ngày
17/4/2026 do kháng cáo của bị cáo Bàn Thương D đối với bản án hình s
thẩm số 75/2026/HS-ST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái
Nguyên. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2026/QĐXXPT-HS ngày
01/6/2026.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ tên: Bàn Thương D (tên gọi khác: Không); sinh m 1994, số
CCCD: ************; Nơi ĐKHKTT: Thôn K, K, tỉnh Tuyên Quang; Chỗ
ở: Tổ E, phường P, tỉnh Thái Nguyên; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân
tộc: Dao; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự
do; con ông Triệu Văn ĐBàn Thị X; có vợ là Nguyễn Thị Thùy D1; có 01
con chung, sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam
tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: Ông Văn C - Trợ giúp viên
pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của gia đình và bị cáo:
2
+ Nguyễn Th Ngọc A, Trần Thị Quỳnh T, Luật Công ty L2
Nguyễn Ngọc A cộng sự, thuộc Đoàn Luật tỉnh T; Địa chỉ: Số E, tổ A
phường L, tỉnh Thái Nguyên. Đều có mặt.
+ Ông Nguyễn Xuân S, Luật - Công ty L3 - Đoàn Luật sư thành phố H.
Có mặt.
* Ngoài ra: Trong vụ án còn 04 bị cáo khác không kháng cáo, gồm
Dương Văn T1, Lã Mai L, Nguyễn Thị L1, Bùin T2. Đều có mặt.
277 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị
kháng nghị. Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5/2024, Bàn Thương D trao đổi với Dương Văn T1 vviệc
cùng nhau kinh doanh bán hàng trên sàn thương mại điện tử A để kiếm tiền. Do
thời điểm này hoàn cảnh kinh tế của T1 khó khăn nên D sẽ đầu tư toàn bộ thiết
bị máy tính, T1 sẽ đóng góp công sức trong thời gian đầu đến khi kinh doanh
hiệu quả. Sau đó D T1 thống nhất mỗi người góp vốn 50.000.000đ, khi phát
sinh lợi nhuận thì D được hưởng 55%, T1 hưởng 45%. Địa điểm để làm việc
lắp đặt các thiết bị máy tính tại chỗ của D thuộc tổ B, phường T, TP T (nay
là tổ E, phường P, tỉnh Thái Nguyên).
Tháng 7/2024, D T1 bắt đầu kinh doanh các mặt hàng gồm: Áo, cốc,
giấy gói quà…trên sàn Amazon. Tuy nhiên để bán được các mặt hàng trên sàn
thương mại điện tử A1 thì phải nhiều tài khoản bán hàng. Ban đầu, D T1
sử dụng thông tin nhân của mình để mở tài khoản nhưng do mỗi người chỉ
được đăng 01 tài khoản nên hiệu quả kinh doanh không cao. Các tài khoản
bán hàng Amazon lại thường xuyên bị khóa, hiệu hóa, vi phạm chính sách
của A1 nên không đăng bán được nhiều sản phẩm. Bên cạnh đó, sàn A1
chính sách hỗ trợ phí duy ttài khoản (hoàn tiền) tháng đầu tiên cho các tài
khoản mới đăng với số tiền 39,99 đô la Mỹ (USD) tương đương khoảng
1.030.000VNĐ/tài khoản nên D, T1 xác định cần phải mnhiều tài khoản bằng
cách sử dụng thông tin của nhiều người khác nhau để bán hàng hưởng chính
sách ưu đãi. Việc tìm người mở tài khoản bán hàng trên Amazon được D giao
cho T1 thực hiện. Kinh phí để trả cho người mở tài khoản do D chuyển cho T1
thì tùy thời điểm, D đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản cho T1 để T1 trả tiền cho
người mở tài khoản, cho thuê tài khoản. Sau đó, T1 đã đăng quảng cáo trong các
hội, nhóm trên mạng hội Facebook (chủ yếu là các hội nhóm sinh viên) để
tìm người mtài khoản Amazon với tiền công trả cho mỗi người từ 500.000đ
đến 700.000đ.
Quá trình hoạt động kinh doanh đến khi bị quan Công an phát hiện sự
việc, D và T1 đã thuê 09 nhân viên làm việc tại văn phòng với mức lương
5.000.000đ/người/tháng, gồm: Tùng D2, sinh năm 2003, HKTT: xóm T,
3
P, tỉnh Thái Nguyên Nguyễn Tuấn H, sinh năm 2002, HKTT: Tổ F, phường
P, tỉnh Thái Nguyên là các nhân viên thiết kế hình ảnh sản phẩm, 07 nhân viên
đăng bán sản phẩm, gồm: Mai L, sinh năm 2002, HKTT: Thôn Đ, Y, tỉnh
Lạng Sơn, chỗ hiện tại: Thôn N, L, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Thị L1, sinh
năm 2002, HKTT: xóm T, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên; Bùi Văn T2, sinh năm 2003,
HKTT: Thôn I, D, TP Nội; Nguyễn Mạnh T3, sinh năm 1999, HKTT: Tổ
E, phường P, tỉnh Thái Nguyên; Nông Thị P, sinh năm 2003, HKTT: xóm H,
P, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Thị H1, sinh năm 2003, HKTT: xóm Đ, xã T, tỉnh
Thái Nguyên; Lý Thị Y, sinh năm 2003, HKTT: xóm N, xã Đ, tỉnh Thái
Nguyên. Mỗi nhân viên làm việc tại văn phòng được giao quản lý, sử dụng 01
máy nh kết nối Internet để thực hiện đăng bán sản phẩm từ các tài khoản
bán hàng Amazon. Để tạo được nhiều tài khoản bán hàng A1, D2 T1 giao chỉ
tiêu cho mỗi nhân viên phải duy trì được 03 tài khoản/tháng thì được nhận đủ
lương, nếu tìm được nhiều hơn 03 người mtài khoản bán hàng Amazon thì
nhân viên sẽ được thưởng.
Về quy trình tạo tài khoản bán hàng như sau: T1 trực tiếp thực hiện hoặc
hướng dẫn nhân viên thực hiện thu thập các thông tin, tài liệu của người cho
thuê thông tin tài khoản gồm: Họ tên, năm sinh, số điện thoại, ảnh căn cước
công dân, tài khoản Email, bản sao lịch sử giao dịch tài khoản ngân hàng (cá
nhân phải tự sao với khoảng 30 giao dịch gần nhất), số thẻ VISA, ngày hết
hạn, số CVV/CVC (mã bảo mật) thẻ VISA. Đây là những điều kiện cần phải
để mở được tài khoản Amazon. Đồng thời nhân cũng phải tạo điện tử P1
để nhận tiền bán hàng của A1 sau khi tạo xong D2 người quản lý. Nếu
người nào chưa thẻ VISA sẽ được T1 nhân viên hướng dẫn đăng mở
thẻ Online (trực tuyến) từ ứng dụng Internet Banking. Thực hiện xong các thao
tác, A1 yêu cầu xác thực khuôn mặt hẹn cung cấp số kích hoạt về địa chỉ
trên căn cước công dân sau khoảng 2 đến 3 ngày. Lúc này nhân cho thuê tài
khoản được T1 trả 150.000đ/người là tiền công tạo tài khoản ban đầu phí sao
kê tài khoản ngân hàng. Nhận được mã kích hoạt, cá nhân cho thuê tài khoản gửi
lại cho T1 hoặc các nhân viên để thực hiện kích hoạt tài khoản. Khi tài khoản
bán hàng được xác thực, D2 schuyển tiền cho T1 hoặc nhân viên để chuyển
tiếp số tiền với 39,99 USD (tương ứng khoảng 1.030.000đ) vào thẻ VISA của
người tạo tài khoản để thanh toán phí thuê sàn A1 39,99 USD/tháng. Đối với
tài khoản mới đăng ký lần đầu, sàn A1 có chính sách hoàn lại cho chủ tài khoản
39,99 USD. Để lấy lại số tiền này, T1 hoặc nhân viên viết đnghị bằng tiếng
Anh xin hỗ trợ hoàn phí gửi đến A. Sau khoảng 2 đến 3 ngày thì A1 sẽ chuyển
lại số tiền này vào thẻ VISA của cá nhân người cho thuê tài khoản rồi họ chuyển
lại cho T1, D2 hoặc nhân viên. Khi nhận tiền phí do A1 hoàn lại trong tháng đầu
tiên, D2, T1 hoặc nhân viên sẽ thanh toán tiền công còn lại cho người tạo tài
khoản là 550.000đ.
Đến khoảng tháng 9/2024, khi A1 nâng phí duy trì tài khoản lên 39,99
USD, do lo sợ người mở tài khoản bán hàng sử dụng tiền phí thuê sàn trong thẻ
VISA, D2 T1 thống nhất viết Giấy cam kết” với người mtài khoản. D2
người ký với tư cách người sử dụng tài khoản (Bên A). Nội dung cam kết bên
4
A chỉ sử dụng thông tin nhân của chủ thông tin để bán hàng theo chính sách
của A1, không làm việc vi phạm pháp luật để người tạo tài khoản Amazon tin
tưởng, yên tâm. Trên thực tế, những người được thuê tạo tài khoản Amazon
hoàn toàn không biết việc D2, T1 cùng các nhân viên thu thập, lưu trữ lại thông
tin về tài khoản ngân hàng của mình không biết việc thu thập, tàng trữ đó
nhằm mục đích gì.
Quá trình thuê người khác mở tài khoản Amazon như nêu trên, D2 đã tạo
lập 01 file Excel đặt tên là TỔNG ACC AMAZON EZONlưu trữ trực tuyến
trên tài khoản Google drive của D2 địa chỉ (trên không gian mạng) để cập
nhật, lưu trữ những thông tin nhân, thông tin tài khoản ngân hàng, thông tin
thẻ VISA của những người cho thuê tài khoản. Sau đó D2 chia sẻ liên kết cho
T1 cùng quản lý. D2 giao cho T1, L, L1 thu thập, cập nhật những thông tin này
để lưu vào file nhằm phục vụ cho việc quản lý, điều hành kinh doanh. Ngoài ra,
D2 còn yêu cầu T1 các nhân viên giữ lại bản sao tài khoản ngân hàng của
những người cho thuê mở tài khoản Amazon với nhiều hình thức như: Lưu giữ
bằng file hình ảnh, định dạng pdf trên điện thoại, máy tính, lưu tài liệu giấy tại
nơi làm việc.
Ngày 14/3/2025, Phòng An ninh mạng phòng chống tội phạm sử dụng
công nghệ cao Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra, lập biên bản sự việc tại chỗ
của Bàn Thương D. Tại thời điểm kiểm tra 05 người gồm: Nguyễn Thị L1,
Bùi Văn T2, Nông Thị P, Nguyễn Thị H1, Thị Y. Tại máy tính do Nguyễn
Thị L1 quản lý, sử dụng phát hiện file Excel đặt tên TỔNG ACC AMAZON
EZONlưu trữ 262 thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác. Qua xác
minh 249 tài khoản ngân hàng thông tin chủ tài khoản. Kết quả điều tra
xác định: Dương n T1 đã trực tiếp thu thập 132 thông tin tài khoản/132
người; số còn lại do các nhân viên hoặc người thân của Duy thực hiện việc thu
thập rồi tàng trữ trái phép. T1 trực tiếp thực hiện việc xin hoàn phí từ sàn
Amazon đối với 84 tài khoản với tổng số tiền 82.112.006đ.
Mai L làm việc cho D, T1 từ tháng 7/2024 đến đầu tháng 3/2025. Tổng
số tiền lương được nhận khoảng 31.000.000đ. Ngoài công việc đăng bán các sản
phẩm trên sàn Amazon, L đã trực tiếp thu thập trái phép thông tin về tài khoản
ngân hàng đối với 28 tài khoản để đăng tạo lập 28 tài khoản n hàng
Amazon. Từ tháng 10/2024, L còn được T1 gửi cho địa chỉ liên kết đến tập tin
TỔNG ACC AMZ EZONE.xlsx”, khi đó L biết tập tin này ngoài lưu trữ thông
tin tài khoản bán hàng Amazon còn lưu trữ thông tin tài khoản ngân hàng. Đến
tháng 12/2024, do T1 không thường xuyên đến văn phòng nên L được T1 giao
nhập dữ liệu thông tin tài khoản ngân hàng của những người mà L mọi người
đã thu thập được vào tập tin trên. Đến ngày 03/3/2025, khi L nghỉ làm tại văn
phòng thì D chỉ đạo L chia sẻ địa chỉ liên kết tập tin này cho Nguyễn Thị L1 tiếp
tục quản lý với 262 thông tin tài khoản ngân hàng của người khác gồm: Tên chủ
tài khoản, stài khoản ngân hàng, số thẻ VISA, số CVV (mã bảo mật) trên thẻ
VISA, ngày hết hạn thẻ VISA Cũng trong tháng 12/2024, do hoạt động n
hàng trên sàn Amazon không hiệu quả nên T1 không tham gia cùng D nữa.
T1 giao việc gửi đề nghị xin lại phí duy trì tài khoản tháng đầu tiên của tài
5
khoản bán hàng Amazon mới đăng cho L. L đã trực tiếp xin hoàn phí từ sàn
Amazon đối với 09 tài khoản vơi tổng số tiền 8.805.000đ. Bên cạnh đó, L cũng
thường xuyên hướng dẫn những người cho thuê thông tin tài khoản cách tạo lập
tài khoản khi họ đến văn phòng để mở tài khoản.
Nguyễn Thị L1 làm việc cho D, T1 từ tng 9/2024 đến ngày 14/3/2025.
Tổng số tiền lương được nhận khoảng 27.000.000đ. Ngoài công việc đăng bán
các sản phẩm trên sàn Amazon cho D và T1, L1 đã trực tiếp thu thập thông tin
tài khoản ngân hàng đối với 20 tài khoản để đăng tạo lập 20 tài khoản bán
hàng Amazon. Đến ngày 03/3/2025, sau khi L nghỉ việc thì L1 được chia sđịa
chỉ truy cập vào tập tin TỔNG ACC AMZ EZONE.xlsx”, thực hiện cập nhật
thông tin tài khoản ngân hàng của những người cho thuê theo dõi các tài
khoản Amazon đang hoạt động để gửi tiền phí thuê sàn. Theo sự chỉ đạo của T1,
L1 cũng đã trực tiếp xin hoàn phí từ sàn Amazon được 05 tài khoản với tổng số
tiền 4.959.915đ. Ngoài ra, L1 còn trực tiếp tạo tài khoản Amazon cho nhiều
người khi hđược các nhân viên khác giới thiệu đến văn phòng để mở cho
thuê tài khoản.
Mai L, Nguyễn Thị L1 không được Bàn Thương D ơng Văn T1
thống nhất, bàn bạc thực hiện hành vi tàng trữ, thu thập trái phép tài khoản ngân
hàng của người khác mà chthực hiện theo sự chỉ đạo của D, T1 khi thuê người
mở tài khoản, xin phí hoàn lại từ A, hướng dẫn người khác mở tài khoản cập
nhật, theo dõi dliệu các thông tin của người cho thuê tài khoản vào bảng tổng
hợp để hưởng lương hằng tháng.
Bùi Văn T2 làm việc cho D, T1 từ tháng 7/2024 đến ngày 14/3/2025. Tổng
số tiền lương được trả khoảng 40.000.000đ. Khoảng tháng 8/2024, D đăng bài
lên nhóm Telegram chung yêu cầu tất cả nhân viên phải tìm người tạo tài khoản
Amazon. T2 đã copy nội dung tin nhắn rồi đăng lên facebook nhân để quảng
cáo mời người tạo tài khoản Amazon. Sau đó nhiều người (hầu hết sinh viên)
đã liên hệ với T2 để tạo tài khoản Amazon. T2 hướng dẫn họ hoặc T2 thực hiện
các thao tác trên máy điện thoại nhân của người tạo tài khoản, yêu cầu họ
chụp ảnh căn cước công dân, chụp sao tài khoản ngân hàng các bước theo
yêu cầu của A1. Ai đã thẻ VISA thì cung cấp số thẻ, thông tin thẻ cho T2;
nếu chưa có thì sử dụng App của ngân hàng để mở thẻ online rồi cung cấp thông
tin cho T2. Sau khi thu thập đầy đủ thông tin của người khác để tạo tài khoản
Amazon, T2 gửi vào nhóm zalo theo yêu cầu của T1 đồng thời giữ lại sao kê tài
khoản ngân hàng của người tạo tài khoản để tại văn phòng phục vụ việc xác
minh sau này của A1. T2 đã trực tiếp thu thập trái phép thông tin về tài khoản
ngân hàng đối với 36 tài khoản để đăng tạo lập 36 tài khoản n hàng
Amazon. Để trả chi phí cho người cho thuê thông tin tài khoản ngân hàng, T1
chuyển tiền cho T2 để T2 trả cho người cho thuê và mở tài khoản.
Nguyễn Mạnh T3 làm việc từ tháng 7/2024 đến đầu tháng 10/2024. Tổng
số tiền lương được nhận khoảng 15.000.000đ. T3 trực tiếp thu thập trái phép
thông tin vtài khoản ngân hàng đối với 18 tài khoản để đăng tạo lập 18 tài
khoản bán hàng Amazon.
6
Tùng D2 Nguyễn Tuấn H nhân viên làm thuê cho D2 T1 với
công việc chính thiết kế hình ảnh sản phẩm đăng bán trên sàn thương mại điện
tử Amazon. Do D2 yêu cầu các nhân viên đều phải tìm người đăng mở tài
khoản bán hàng Amazon cho văn phòng nên D2 đã trực tiếp thu thập thông tin
tài khoản ngân hàng đối với 02 tài khoản để đăng tạo lập 02 tài khoản bán
hàng A1; H đã trực tiếp thu thập thông tin tài khoản ngân hàng đối với 01 tài
khoản để đăng ký tạo lập 01 tài khoản bán hàng Amazon.
Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 1995, HKTT: Thôn K, K, tỉnh Tuyên
Quang; chỗ ở: Tổ E, phường P, tỉnh Thái Nguyên (là vợ của Bàn Thương D)
cũng trực tiếp nhờ em họ là Mạnh H2, sinh ngày 18/8/2002, trú tại thôn
B, I, tỉnh Gia Lai giúp D thu thập trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng
đối với 12 tài khoản để tạo lập 12 tài khoản bán hàng Amazon.
Khi tiến hành các hoạt động điều tra, quan An ninh điều tra Công an
tỉnh T đã phát hiện, thu giữ 75 bản sao tài khoản ngân hàng của người khác
Bàn Thương D lưu trữ tại các vị trí khác nhau gồm: 39 bản được lưu trữ theo
định dạng pdf tại 05 máy vi tính tạm giữ khi kiểm tra văn phòng làm việc của D;
01 bản lưu trữ dạng hình ảnh trên điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE Xs
Max; 21 bản lưu trữ theo định dạng pdf tại máy nh xách tay nhãn hiệu HP
Bang Olufsen; 14 bản giấy sao kê do D giao nộp và thu giữ khi khám xét người,
phương tiện của D. Qua kiểm tra 50 sao tài khoản ngân hàng phù hợp với
dữ liệu lưu tại tập tin TỔNG ACC AMZ EZONE.xlsx”; 25 sao thông tin
của 25 người nằm ngoài danh sách lưu tại tập tin này.
Như vậy: Bàn Thương D Dương Văn T1 đã thu thập, tàng trữ trái phép
tổng số 274 tài khoản ngân hàng thông tin chủ tài khoản (249 tài khoản tại
tập tin Exel lưu trữ trên Google driver, 25 tài khoản sao kê ngân hàng) mở tại 10
ngân hàng gồm: A2, B, L4, M, T4, T5, V, V1, V2, V3. Qua xác minh, các chủ
tài khoản đều không ủy quyền cho người khác sử dụng; việc thu thập, tàng trữ
không được s cho phép của các ngân hàng hay quan nhà nước thẩm
quyền (danh sách thông tin nhân của 274 chủ tài khoản ngân hàng tham gia
với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kèm theo bản án).
Tài liệu điều tra xác định: Từ tháng 7/2024 đến tháng 3/2025, D và T1 đã
chuyển 141.218.933đ vào tài khoản A1 để thanh toán tiền phí duy trì tài khoản,
được sàn thương mại điện tử Amazon hoàn lại tổng số 3.919,02 USD tương
đương 95.876.921đ của 98 tài khoản bán hàng. D và T1 sử dụng số tiền này vào
việc trả tiền thuê thông tin tài khoản ngân hàng, trả lương nhân viên một số
chi phí khác cho hoạt động kinh doanh.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Dương Văn T1, Lã Mai L, Nguyễn Thị L1,
Bùi Văn T2 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của
các bị cáo phù hợp với nhau phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu
thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc, dữ liệu điện tử, vật chứng
thu giữ, sao tài khoản ngân hàng, lời khai của người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan, người làm chứng, người chứng kiến ... Riêng Bàn Thương D từ sau
khi khởi tố bị can đã thay đổi lời khai, khai báo quanh co, không thừa nhận hành
7
vi vi phạm của mình cũng như vai trò của mình trong vụ án. Tuy nhiên với
những tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án cho thấy việc thay đổi lời khai của
Bàn Thương D là không có căn cứ mà nhằm mục đích chối tội.
* Vật chứng vụ án hiện đang được gửi bảo quản tại Kho vật chứng của
Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Thái Nguyên, gồm:
- 02 USB nhãn hiệu Kingston màu xám, đã qua sdụng, được niêm phong
ký hiệu “BTD-090625”;
- 01 cây máy tính màu đen đã qua sử dụng, niêm phong ký hiệu “P11”;
- 01 cây máy tính màu đen đã qua sử dụng, niêm phong ký hiệu “T11”;
- 01 cây máy tính màu đen đã qua sử dụng, niêm phong ký hiệu “L11”;
- 01 cây máy tính màu đen đã qua sử dụng, niêm phong ký hiệu “Y11”;
- 01 cây máy tính màu đen đã qua sử dụng, niêm phong ký hiệu “H11”;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, đã qua sử dụng, có số sê-
ri: C39X6780KPHF, không lắp thẻ sim, niêm phong trong phong hiệu
“BTD-011125”;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, đã qua sử dụng,
số -ri: QH47D5WVW3, bên trong lắp 01 thẻ sim Viettel có số - ri:
8984048000945251758, niêm phong trong phong bì ký hiệu “BTD1-011125”;
- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP Bang Olufsen, đã qua sử dụng, số
-ri: CND14404RM, được niêm phong ký hiệu “BTD-071125”.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/2026/HS-ST ngày 13/3/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên đã tuyên bố: Bị cáo Bàn Thương D phạm tội
Thu thập, tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 291, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, 38 Bộ luật
hình sự, xử phạt bị cáo Bàn Thương D 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2025.
Ngoài ra bản án còn quyết định về hình phạt đối với 04 bị cáo khác, xử lý
vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án sơ thẩm.
Ngày 16/3/2026, bị cáo Bàn Thương D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
cho rằng bị oan.
Ngày 11/6/2026, Toà án nhân dân tỉnh nhận được đơn trình bày của bị cáo
Bàn Thương D gửi qua Ban giám thị trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T (viết
ngày 09/6/2026) xin được hưởng sự khoan hồng với nội dung cụ thể: Quá trình
tạm giam đến nay bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình. Các
quan tố tụng khởi tố, truy tố, xét xử đối với bị cáo đúng người đúng tội, đúng
pháp luật. Bị cáo làm đơn kính mong Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xem
xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo là dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật
còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo, con còn nhỏ 1 tuổi, vợ bị cáo lao động tự do,
việc làm không ổn định, bị cáo lao động chính trong gia đình. Bị cáo kính
mong sự khoan hồng của pháp luật xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, cho bị cáo
8
được hưởng án treo để trở về với gia đình và xã hội. Bị cáo rất ăn năn hối cải về
hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay: bị cáo Bàn Thương D thừa nhận Bản
án thẩm xét xbị cáo đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo sau khi
nghe Hội đồng xét xử phân tích giải thích pháp luật, bị cáo đã nhận thức
việc làm của mình vi phạm pháp luật, bị cáo nhận tội, thừa nhận hành vi của
bị cáo như đã truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo đ
nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất của vụ án, hoàn cảnh gia đình khó
khăn để xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo, để
giúp ích cho gia đình và xã hội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo D nhân thân tốt, nơi
trú ràng, phạm tội lần này với vai trò đồng phạm giản đơn. Ngày 09/6/2026,
bị cáo có đơn trình bày gửi đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên với nội dung:
bị cáo xác định việc khởi tố, truy tố, xét xử sơ thẩm đối với bị cáo về hành vi
Thu thập, tàng trữ trái phép thông tin tin tài khoản ngân hàng” đúng người,
đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo nhận thức được hành vi phạm
tội của mình. vậy, bị cáo D được hưởng tình tiết giảm nh“Người phạm
tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51
BLHS. Ngoài ra, bị cáo D người dân tộc thiểu số, hộ khẩu sinh sống tại
vùng kinh tế đặc biệt khó khăn trong quá trình học tập, bị cáo được Nhà
trường tặng thưởng nhiều giấy khen nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ
khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đối chiếu với các quy định tại Văn
bản hợp nhất số 03/VBHN - TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo thì căn cứ để chấp nhận
kháng cáo của bcáo, chuyển biện pháp cải tạo cho bị cáo được hưởng án treo,
thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ điểm b khoản 1 Điều
355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 3 Điều 291
BLHS, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự: chấp
nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình
phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định.
Tại phần tranh luận:
Quan điểm của những người bào chữa cho bị cáo D: Nhất trí về tội danh
điều luật áp dụng mà Kiểm sát viên đã nêu trong Bản luận tội. Do thiếu hiểu
biết về pháp luật nên quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên toà sơ thẩm bị
cáo không nhận tội, kêu oan. Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc
thẩm cũng như tại phiên toà xét xử phúc thẩm m nay sau khi nghe Hội đồng
xét xử giải thích pháp luật, thừa nhận hành vi của bị cáo là phạm tội, thành khẩn
khai báo tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại,
người dân tộc thiểu số, sinh sống xóm và vùng kinh tế đặc biệt khó khăn
của K, tỉnh Tuyên Quang, hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn,
con n nhỏ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xxem xét cho bị cáo được hưởng
thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và đề
9
nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được
hưởng án treo.
Đại diện VKS đối đáp: VKS không nhất trí về việc các vị luật sư đề nghị áp
dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại cho bị cáo theo
điểm h khoản 1 Điều 51 áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, vì: Tòa án cấp
thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án
36 tháng về tội Thu thập, tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân
hàng căn cứ, đúng quy định. Trước khi t xử phúc thẩm (ngày
09/6/2026) và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bị cáo mới nhận thức được hành
vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị giữ nguyên mức hình phạt đã đề nghị.
Bị cáo D đề nghị Hội đồng xét xxem xét, không tranh luận với đại diện
Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án
treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đã thực hiện đúng v
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra, truy tố, xét xử, không người tham gia tố tụng nào ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Bàn Thương D được thực
hiện trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục
xét xử phúc thẩm.
[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Bàn Thương D đã rút toàn bộ
nội dung kháng cáo kêu oan ngày 16/3/2026; đồng thời giữ nguyên nội dung
đơn trình bày ngày 09/6/2026, thay đổi yêu cầu kháng cáo sang xin được hưởng
án treo. Việc thay đổi yêu cầu kháng cáo tự nguyện, phợp với quy định tại
Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận tiến hành
xét xử vụ án theo nội dung kháng cáo sửa đổi, bổ sung của bị cáo.
[3]. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm hôm nay phù
hợp với lời khai của các bị cáo khác, người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan,
người chứng kiến tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc, dữ liệu điện
tử thu giữ từ tệp tin “TỔNG ACC AMAZON EZON”, các bản sao tài khoản
ngân hàng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ vụ án. Hội đồng xét xử
đã đủ cơ sở để kết luận:
Từ tháng 7/2024 đến tháng 3/2025, bị cáo Bàn Thương D cùng Dương Văn
T1 đã hành vi khởi xướng, cùng với các đồng phạm khác thực hiện việc thu
10
thập, tàng trữ trái phép thông tin của 274 tài khoản ngân hàng mở tại 10 ngân
hàng khác nhau của người khác (chủ yếu là sinh viên) mà không được sự đồng ý
của chủ tài khoản hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm đăng ký tài khoản
bán hàng trên sàn Amazon để trục lợi tiền hoàn phí của sàn thương mại điện tử
này. D, T1 đã lợi dụng chính sách hoàn phí thuê sàn trong tháng đầu tiên của A1
thu lợi số tiền 95.876.921đ (chín mươi lăm triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn
chín trăm hai mươi mốt đồng), cụ thể:
D đầu tư kinh phí, máy móc thuê 09 nhân viên. T1 trực tiếp quảng cáo
trên Facebook để thuê người (chủ yếu sinh viên) mở tài khoản với giá từ
500.000đ đến 700.000đ/người. Quy trình thực hiện gồm: thu thập ảnh CCCD, số
thẻ VISA, mã bảo mật CVV/CVC, sao kê ngân hàng yêu cầu xác thực khuôn
mặt. Sau khi tài khoản được kích hoạt A1 hoàn phí, các bị cáo yêu cầu người
thuê chuyển lại tiền phí đó cho mình. Để tạo lòng tin, D còn “Giấy cam kết”
không sử dụng thông tin vào mục đích vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, thực tế D
đã lập file Excel TỔNG ACC AMAZON EZON.xlsx” u trên Google Drive của
D địa chỉ chỉ đạo nhân viên lưu trữ trái phép thông tin của 274 tài khoản
ngân hàng (gồm tên chủ thẻ, số thẻ, mã bảo mật, sao kê...). Khi cơ quan Công an
kiểm tra vào tháng 3/2025, toàn bộ dữ liệu tàng trữ trái phép này đã bị phát hiện
thu giữ. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã vi phạm khoản 5 Điều 8 Nghị
định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ quy định về hoạt động
thanh toán không dùng tiền mặt.
Điều 8. Các hành vi bị cấm
“5. Mở hoặc duy trì tài khoản thanh toán, điện tử nặc danh, mạo danh;
mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán, điện tử;
thuê, cho thuê, mua, bán, mở hộ thẻ ngân hàng (trừ trường hợp thẻ trả trước
danh); lấy cắp, thông đồng để lấy cắp, mua, bán thông tin tài khoản thanh toán,
thông tin thẻ ngân hàng, thông tin ví điện tử”.
[4]. Với hành vi nêu trên, Bản án hình sự thẩm số 75/2026/HS-ST ngày
13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên tuyên bố bị cáo Bàn
Thương D phạm tội “Thu thập, tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân
ng” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 291 Bộ luật Hình sự là đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
[5]. Xét nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Bàn
Thương D, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[5.1]. Về vai trò tính chất hành vi: Trong vụ án này, hai bị cáo Bàn
Thương D, Dương Văn T1 cùng người cùng khởi xướng, chuẩn bị thiết bị
máy tính quản tài chính nên hai bị cáo D T1 tham gia với vai tđồng
phạm giản đơn, giữ vai trò chính trong vụ án; hành vi của các bị cáo mang nh
chất bộc phát, nhất thời, công cụ thủ đoạn thực hiện phạm tội đơn giản,
không mang tính chất chuyên nghiệp hay tinh vi, xảo quyệt.
[5.2]. Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s
nhân thân của bị cáo tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử thấy:
11
- Về thái độ khai báo: Giai đoạn điều tra tại phiên tòa thẩm, bị cáo D
thái độ khai báo quanh co, chối tội, gây khó khăn cho công tác giải quyết vụ
án chưa được cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự. Tuy nhiên, sau khi bị tạm giam và qua quá trình giáo dục pháp
luật, bị cáo đã nhận thức sâu sắc được hành vi sai phạm của mình. Tại phiên tòa
phúc thẩm m nay, bị o đã thay đổi nhận thức, khai báo thành khẩn, tự
nguyện nhận tội tỏ thái độ ăn năn hối cải. Đây tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình smới tại cấp phúc thẩm quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về hoàn cảnh gia đình nhân thân: Bị cáo D người dân tộc thiểu số
(Dân tộc Dao), trình độ hiểu biết pháp luật còn phần hạn chế; gia đình bị cáo
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thuộc diện hộ nghèo sinh sống tại vùng kinh tế
đặc biệt khó khăn; bị cáo con nhỏ sinh năm 2025 (1 tuổi), vợ không việc
làm ổn định và bị cáo lao động chính trong gia đình. Ngoài ra, bcáo có nhân
thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bản thân bcáo từ khi phạm tội đến nay không
có hành vi vi phạm pháp luật nào khác.
[6]. Xét thấy bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nơi
trú ràng, khả năng tự cải tạo. Hơn nữa, bị cáo đã bị tạm giam gần 8
tháng khoảng thời gian đủ để bị cáo tự suy ngẫm về việc làm của mình nên
Hội đồng xét xử xét thấy đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị
cáo Bàn Thương D được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
tại phiên tòa là phù hợp, vẫn đảm bảo việc răn đe, cải tạo, phòng ngừa chung.
[7]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy căn
cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bàn Thương D; sửa bản án
thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt, giữ nguyên mức hình phạt 36 tháng
nhưng cho bị o được hưởng án treo trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa
nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác là phù hợp.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo D hoàn cảnh khó khăn, chưa
thu nhập nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung
là hình phạt tiền.
[9]. Xét thấy ý kiến của các vị luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng
thêm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều
51 và áp dụng Điều 54 BLHS giảm nhẹ hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt không căn cứ, nên không được chấp nhận; đề nghị xem xét cho
bị cáo được hưởng án treo được HĐXX xem xét căn cứ được chấp nhận;
mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị tại phiên toà
là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên được chấp nhận.
[10]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Bàn Thương D được chấp
nhận một phần nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[11]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không
bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
12
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng
Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bàn Thương D. Sửa bản án hình sự sơ
thẩm s75/2026/HSST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái
Nguyên.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bàn Thương D phạm tội: Thu thập, ng
trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 291; điểm s khoản 1, khoản
2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Bàn
Thương D 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách
60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay cho bị
cáo Bàn Thương D tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm nào
khác. Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh T trách nhiệm trả tự do cho bị cáo
theo quy định.
Giao bị cáo Bàn Thương D cho Ủy ban nhân dân K, tỉnh Tuyên Quang
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giáo dục người được hưởng án treo, Công an
K, tỉnh Tuyên Quang trực tiếp thực hiện việc giám sát người được hưởng án treo
trong thời gian thử thách.
Trường hợp thay đổi nơi trú thì được thực hiện theo khoản 3 Điều 92
Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án: Bị cáo Bàn Thương D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án thẩm số 75/2026/HSST ngày
13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên hiệu lực pháp luật
kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Công an tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND Khu vực 1- Thái Nguyên;
- TAND Khu vực 1- Thái Nguyên;
- Các bị cáo;
- Hồ sơ THAHS;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Toàn
13
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 70/2026/HS-PT Bản án số 70/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 70/2026/HS-PT Bản án số 70/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất