Bản án số 66/2026/DS-PT ngày 18/05/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 66/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 66/2026/DS-PT ngày 18/05/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 66/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hoàng thị N- Nguyễn Thị M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 66/2026/DS-PT Bản án số 66/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 66/2026/DS-PT Bản án số 66/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 66/2026/DS - PT
Ngày: 18/5/2026
V/v:Tranh chấp quyền sử dụng
đất, yêu cầu hủy GCN QSD đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Nguyễn Thị Thủy
Các thẩm phán:
Bà Lý Thị Thúy
Bà Vũ Thị An
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái
Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên
tòa: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
tiến hành mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ
số: 10/2026/TLPT-DS ngày 02 tháng 02 năm 2026 về “Tranh chấp quyền sử
dụng đất, yêu cầu hủy GCN QSD đất”. Do bản án thẩm số 10/2025/DS-ST
ngày 15 tháng 12 năm 2025 của a án nhân dân khu vực 6 - Thái Nguyên bị
kháng cáo.
Theo quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số: 50/2026/QĐ-PT ngày
26 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Hoàng Thị N, sinh năm 1951. Địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh
Thái Nguyên; có mặt;
Bị đơn: Nguyễn Thị M, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn N, T, tỉnh
Thái Nguyên; có mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Thị S, sinh năm 1991; Địa
chỉ: P sảnh B, tòa HH2 B, đường T, phường T, thành phố Hà Nội; có mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Phạm Thị T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn N, T, tỉnh Thái
Nguyên; có mặt;
+ Ông Lường Khánh H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số nhà D, tổ A, phường
Đ, tỉnh Thái Nguyên; có mặt;
+ Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thái Nguyên;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Nguyên Q Chức vụ: Phó chủ tịch
UBND xã T; vắng mặt;
2
+ Ông Nông Văn T1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Thái
Nguyên; có mặt;
+ Nông Thị T2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn B, T, tỉnh Thái
Nguyên; Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã C, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt;
Những người làm chứng:
+ Ông Triệu Văn N1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn B, T, tỉnh Thái
Nguyên; vắng mặt;
+ Thị T3, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn H, T, tỉnh Thái Nguyên;
có mặt;
+ Ông Minh T4, sinh năm 1954; Địa chỉ: Thôn C, T, tỉnh Thái
Nguyên; vắng mặt;
+ Ông Ngô Tuấn Q1, sinh năm 1966;
+ Bà Hà Thị N2, sinh năm 1950;
+ Ông Lê Văn M1, sinh năm 1964;
+ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1956;
+ Ông Nguyễn Giang K, sinh năm 1951;
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Thái Nguyên, đều vắng mặt;
+ Âu Thị T5, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn N, T, tỉnh Thái Nguyên,
có mặt;
+ Tạ Thị L, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn N, T, tỉnh Thái Nguyên,
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn Hoàng Thị N trình bày: Năm 2001 (âm lịch) mua
một khu đất của gia đình ông L1 khánh H tại thôn N, C, huyện C, tỉnh Bắc
Kạn bao gồm: Nhà ở, ao cá, vườn đồi đằng trước, đằng sau nhà cùng 02 mảnh
vườn nhỏ sát đường Q. Vị trí 02 mảnh vườn nằm dọc theo mép đường nhựa theo
hướng Thái Nguyên Bắc Kạn, p vườn trên bậc cao ngang với mặt đường
ông H có trồng các loại cây N3, B, C, X và trồng rau lang. Phần bên dưới đường
ông H làm ao nhỏ để thả giống, sau đó trồng rau muống, cây mon. Do
chưa trả đủ tiền nên chưa viết giấy chuyển nhượng, đến năm 2004 thì đã trả
đủ tiền cho ông H và ông H có giấy chuyển nhượng cho bà có trưởng thôn Công
Tum là ông Nguyễn Văn Q2 và cán bộ địa chính xã ông Triệu Văn N1 ký xác
nhận, sau khi mua từ năm 2001 đã canh tác trồng rau lang, còn các cây ăn
quả như chuối, bưởi,na, xoan... của ông H trồng trước đó vẫn giữ nguyên. Về
nguồn gốc đất do ông Lường Kim T6 bố của ông H khai phá để lại cho
ông H.
3
Đến năm 2010 thì ông Nông Văn T7 (chồng của bà Nguyễn Thị M) đến
chặt chuối, xoan mang đi bán, ra can ngăn thì ông T7 chửi bới, bắt nạt bà.
Đến năm 2021 thì M san lấp cái ao con của trồng keo lên phần đất đó,
sự việc tranh chấp kéo dài suốt từ đó đến nay. Qua xem xét thẩm định tại ch
ngày 03/4/2025 thì diện tích đất tranh chấp là 98 m
2
.
Nay bàkhởi kiện yêu cầu buộc Nguyễn Thị M phải trả cho số diện
tích đất là 97,7m
2
đất, trong đó 46,9 m
2
đất BHK (đất trồng cây hàng năm
khác) đất GT (đất hành lang giao thông),rút 1 phần yêu cầu khởi kiện đòi
0,3m
2
đất LUC là đất trồng lúa nằm trong thửa 26, tờ bản đồ số 08 do ông Nông
Văn T1 đang quản lý, sử dụng theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
03/4/2025. u cầu huỷ một phần giấy CNQSDĐ số Y363310 cấp ngày
13/11/2003 mang tên ông Nông Văn T7 thôn H, C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn
(nay xã T, tỉnh Thái Nguyên) đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ 16, diện tích
61m
2
.
Bị đơn Nguyễn Thị M trình bày:Việc ông H mua bán chuyển nhượng
đất cho N như thế nào thì không được biết, không ai nói cho biết. Đối
với diện tích thuộc thửa 23, tờ bản đồ 16, diện tích 61 m
2
: Do canh tác
quản liên tục từ khi hợp tác xã T10 (khoảng năm 1990) đến nay. Lúc đầu do
bố chồng ông Nông Văn T8 (chết năm 1992) chỉ cho vợ chồng (bà
ông T7) để canh tác sau đó tiếp tục sử dụng đến nay.Đối với diện tích đất
thuộc hành lang trước đây là bờ ruộng củado bà quản lý sử dụng. Lúc đầu bà
trồng mía (sau năm 1990), sau đó trồng cỏ voi, (khoảng năm 2006) trồng
ngô.Đối với toàn bộ diện tích đất trên chỉ người duy nhất sử dụng đất.
Bà N chưa lần nào canh tác vào diện tích đất đang tranh chấp.
ông H quan hệ họ hàng xa, không mối quan hcụ thể,
không thấy ông H thửa đất nào gần đó. vậy, việc ông H bán đất cho N
là không có cơ sở.
Nay N yêu cầu trả lại toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp
không nhất trí. xác định đất tranh chấp thuộc hành lang giao thông của
Nhà nước. Còn diện tích đất thuộc thửa 23, tờ bản đồ 16, diện tích 61 m
2
của
quản sử dụng ổn định. không nhất trí cho N sử dụng diện tích đất
thuộc thửa số 23 trên diện tích đất thuộc đất hành lang. Việc sử dụng đất
hành lang sẽ cản trở bà sử dụng thửa đất 23, tờ bản đồ 16 của gia đình bà.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Lường Khánh H: Ông có quen biết với bà N và bà M. Ông không có
mâu thuẫn, thù oán với Hoàng Thị N Nguyễn Thị M.Trước đây ông
người thôn Công Tum, C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, năm 2000 do công việc
nên ông chuyển về thành phố B sinh sống cho đến nay.
4
Trước đây ông là chủ thửa đất mà bà Hoàng Thị N đang sinh sống và canh
tác hiện nay nên ông biết rõ nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp giữa bà N và bà
M cùng với q trình N sử dụng sau khi nhận chuyển nhượng của ông.
Nguồn gốc thửa đất của bà Hoàng Thị N đang sử dụng hiện nay do ông
chuyển nhượng cho Hoàng Thị N từ năm 2002 với giá 10.000.000 (Mười
triệu đồng), gồm: ao 03 cái khoảng 1000m
2
, đồi cây dứa, quế, xoan, chè, hai
vườn trước sau nhà khoảng 5.000m
2
đào giao thông hào ngăn cách dải
đất bên phải ao nhỏ trong cùng khoảng 1000m
2
02 vườn rau sát cạnh đường
quốc lộ 3 phía đối diện nhà (chính thửa đất vườn hiện nay N đang trang
chấp với M). Thửa đất này từ trước năm 1990 gia đình ông tự khai phá và s
dụng trồng rau, cây ăn quả cây bưởi, chuối, na đến năm 2000 ông chuyển
lên Bắc Kạn sinh sống thì nhờ N trông coi giúp (do N người Thái
Nguyên thỉnh thoảng lên C thu mua củi thường hay nhờ nhà ông) nên gia
đình ông nhờ N đi lại trông nom nhà cửa, đất vườn, ao giúp. Năm 2003
nhà nước mở rộng đường quốc lộ 3 lấy vào 1 t của cả hai mảnh
vườn, tổng diện ch 30 m
2
đối diện nhà ông (ông nhận tiền đền khoảng
hơn 1 triệu đồng) có hồ sơ đền bù đất năm 2003. Đến năm 2002 N có đặt vấn
đề mua lại đất với ông, do không xác định C nên ông đã chuyển nhượng lại
quyền sử dụng đất cho Hoàng Thị N, nhưng N chưa trả đủ tiền, đến năm
2004 ông mới chuyển nhượng chính thức cho N, ông viết tay giấy chuyển
nhượng đất. Sau khi ông chuyển nhượng đất cho N thì N sử dụng liên tục
từ đó cho đến nay, có thời gian bà N về Thái Nguyên giải quyết việc gia đình thì
ông T7 đã chặt cây trên đất vườn trồng cây lấn sang nhưng do N
người nơi khác đến một thân một mình nên không tranh chấp lại được với bà M,
ông T7, quá trình tranh chấp đã được hòa giải từ thôn, xã nhiều lần nhưng không
thành.
Từ trước đến khi chuyển nhượng cho N, ông gia đình sử dụng liên
tục không tranh chấp với ai, cũng không ai tranh chấp với gia đình ông.
Khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Hoàng Thị N ông làm giấy tờ
thủ tục pháp làm giấy chuyển nhượng đất viết tay vào năm 2004, hiện nay
ông không phần đất này đã giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa
do đã bán cho N rồi nên ông cũng không quan tâm đến nữa, ông khẳng định
phần đất đang tranh chấp thuộc phần đất ông đã chuyển nhượng cho
Hoàng Thị N không phải là đất hành lang giao thông cũng không thuộc phần đất
của Nguyễn Thị M, phần đất của Nguyễn Thị M là đất giáp danh phía sau
đất của bà Hoàng Thị N (đất của bà N giáp mặt đường quốc lộ 3).
Về vị trí thửa đất: Phía trước mặt giáp mặt đường quốc lộ 3, phía bên cạnh
giáp cống nước đất vườn đang tranh chấp với nhà ông C1 phía sau giáp
ruộng của gia đình bà Nguyễn Thị M, trước đây có mương ngăn cách giữa vườn
5
ruộng nhưng hiện nay M đã đào bỏ mương nước lấn sang vườn của
N, phần đất N đang tranh chấp với M trước đây còn 01 ao nhỏ thả
giống giữa ao với đất ruộng 01 cây cột điện thoại của đoàn 392 thuộc
Quân khu A hiện nay vẫn còn, đấy là cột mốc ranh giới giữa ruộng và ao cá đều
thuộc phần đất ông đã chuyển nhượng cho N. Còn diện tích bao nhiêu thì
ông không nắm được, ông chỉ nhớ được các mốc ranh giới.
Phạm Thị T: con gái của Hoàng Thị N, khu đất đang tranh
chấp hiện nay của gia đình mua lại của ông Lường Khánh H. Nay nhất
trí với yêu cầu khởi kiện của N, yêu cầu bà M phải trả lại đất yêu cầu huỷ
một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nông Văn T7.
Đại diện Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thái Nguyên:
Qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ tại thì giấy CNQSDĐ thửa đất số 23 tờ
bản đồ 16, diện tích 61m
2
chưa làm thủ tục cấp đổi, chưa làm thủ tục thu hồi
giấy CNQSDĐ số Y363310 mang tên ông Nông Văn T7 thôn H, C, huyện
C, tỉnh Bắc Kạn. Hồ sơ lưu trữ của xã cũng không tìm thấy giấy CNQSDĐ trên.
Đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ 16, diện tích 61m
2
chỉ nằm 1 phần trong
thửa số 27, tờ bản đồ số 8 (Theo bản đồ địa chính C năm 2014) 53,9
m
2
.Khi đo đạc bản đồ địa chính 2013 đơn vđo đạc chưa lồng ghép với bản đồ
cấp giấy năm 2002; Quá trình thẩm định nghiệm thu bản đồ tại thời điểm đó
(2014) chưa phát hiện sai sót dẫn đến sai về diện tích chủ sử dụng đất, hình thể
thửa đất.
Do thửa đất trên tranh chấp kéo dài qua nhiều giai đoạn, mặt khác do vấn
đề lịch sử để lại, tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số ri
Y363310 cho ông Nông Văn T7 do khai chưa đúng người s dụng, chưa
đúng đối tượng, quá trình kiểm tra thực tế của cán bộ địa chính thời điểm đó
không được kỹ nên dẫn đến việc kê khai sai về hình thể, diện tích…Nên đề nghị
huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sê ri Y363310 đối với thửa
đất số 23, tờ bản đồ 16, diện tích 61m
2
, địa chỉ tại thôn N, C, huyện C, tỉnh
Bắc Kạn mà ông Nông Văn T7 đã được cấp GCNQSDĐ ngày 13/11/2003. Đồng
thời giải thích để 2 hộ thống nhất lại ranh giới để đo đạc, chỉnh đồ sau đó
UBND xã hướng dẫn 2 hộ gia đình làm hồ sơ cấp giấy theo hiện trạng.
Anh Nông Văn T1 chị Nông Thị T2:A, chị là các con ruột của ông
Nông Văn T7 và Nguyễn Thị M. Khu đất đang tranh chấp với Hoàng Thị
N của gia đình anh, chị sử dụng liên tục từ năm 1991 để trồng lúa, sau đó do
cạn nước, gia đình anh, chị sử dụng để trồng hoa màu cụ thể là trồng mía, cỏ voi
trồng cây keo. Năm 2003 gia đình ông T7 được cấp GCNQSDĐ, đến năm
2014 theo chủ trương cấp đổi lại GCNQSDĐ, bố của anh chị đã nộp lại
GCNQSDĐ này để cấp đổi, tuy nhiên sau đó không được cấp đổi do
tranh chấp với bà Nông Thị D. Anh T1 không cung cấp được cho Toà án
6
GCNQSDĐ sri Y363310 cấp ngày 13/11/2003 mang tên ông Nông Văn T7
đối với thửa số 23, tờ bản đồ 16, diện tích 61m
2
.
Anh T1, chị T2 không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Hoàng Thị N
về việc đòi lại đất và đề nghị huỷ GCNQSDĐ của gia đình anh, chị. Bởi vì N
chưa canh tác trên phần đất mà bố mẹ anh chị đã được cấp GCNQSDĐ bao giờ.
Những người làm chứng trình bày:
Ông Triệu Văn N1 trình bày: Ông làm địa chính C từ tháng 4/2001 đến
31/10/2016 thì chuyển công tác.Giai đoạn ông công tác tại C khoảng năm
2004 ông có biết sự việc ông Lường Khánh H chuyển nhượng đất cho Hoàng
Thị N và ông được xác nhận vào giấy chuyển nhượng đất giữa hai bên,
xác nhận nội dung chuyển nhượng đúng sự thật. Nhưng khi làm giấy tờ
chuyển nhượng đất giữa các bên không tiến hành đo đạc cụ thể không
các hộ giáp ranh ký. Các bên thống nhất chuyển nhượng đất nền nhà phía
đồi (vtrí: nN đang ở) 01 mảnh vườn tiếp giáp đường quốc lộ 3, 01 ao
nhỏ tiếp giáp miệng cống. Tại thời điểm mua bán gia đình ông Lường Khánh H
vẫn đang canh tác sử dụng, không tranh chấp với ai.Giữa N với ông H đã
chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ trước năm 2004, nhưng đến năm 2004 mới
làm giấy tờ mua bán.Sau khi các bên chuyển nhượng đất xong cho đến khi ông
chuyển công tác (năm 2016) ông đều không được tiếp nhận hyêu cầu cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Hoàng Thị N cũng không tiếp
nhận hồ sơ tranh chấp giữa bà N với bà M. Ông xác nhận nội dung mua bán cho
các bên là đúng sự thật, không kiểm tra bản đồ địa chính vì khi nào người dân có
yêu cầu, làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ mới tiến hành kiểm tra đo đạc đối
chiếu. Thời điểm đó chưa yêu cầu kiểm tra chặt chẽ như hiện nay giấy tờ
chuyển nhượng đất giữa hai bên là giấy viết tay, không có tranh chấp với ai.
Năm 2002 dán cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp đại trà),
các hộ tiến hành tự khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó
tiến hành đo đạc (Đoàn đo đạc của dự án, không có các hộ giáp ranh đi
cùng), sau khi đo đại trà xong, không tiến hành kiểm tra thực địa từng thửa đất
chỉ họp xét công khai, không tranh chấp, khiếu kiện xảy ra thì UBND
huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên M, ông T7 đã được cấp
năm 2003.
Vi Thị B1 trình bày: người chuyển nhượng đất ruộng thôn N,
C, huyện C cho ông T7 M với diện tích khoảng 1000m
2
giáp về phía bờ
sông nhưng bị sạt lở nhiều, phía Bắc giáp vườn của anh H. Trước đây gia đình
vẫn thường trồng lúa nước, thấy anh Lường Khánh H thửa đất vườn
ngay sát đất ruộng của gia đình bà. Đất vườn của anh H vị trí tiếp giáp với
mặt đường quốc lộ 3, kéo dài từ phía trên cống thoát nước xuống phía dưới tiếp
giáp với ruộng của gia đình bà. Trước đây anh H trồng chuối, na, rau…ở trên
7
đất. Sau này anh H chuyển nhượng cho N từ khi nào bà không biết, sau khi
ông H chuyển đi, trâu bò phá vườn nên M mới trồng keo và sử dụng đất.
Thị T3 trình bày: là người cùng C với N M, không
có anh em họ hàng gì vớiN, bà M, không có mâu thuẫn, thù oán gì với hai bà
trên.
không đất giáp ranh với khu đất tranh chấp nhưng một bãi soi
phía bên dưới gần khu đất tranh chấp gia đình đã sdụng suốt từ xưa
cho đến nay nên biết rõ khu đất đang tranh chấp giữa bà N với bà M. Nguồn gốc
đất đang tranh chấp giữa bà N với bà M trước đây là của ông Lường Kim X1 (bố
của ông Lương Kim T9) cho ông T9, sau đó ông T9 cho ông Lường Khánh H
ông H đã sử dụng thuê người đào ao thả nuôi giống ngay phía dưới
miệng cống. Sau đó ông H chuyển đi nơi khác sinh sống bán lại đất cho
Hoàng Thị N. Bán năm nào diện tích cụ thể bao nhiêu m
2
bà không biết cụ
thể.Khu đất của M, ông T7 đất ruộng nhận chuyển nhượng lại t ông
Hoàng Văn B2, trước đó ông B2 sử dụng nhưng không lấy được nước vào
bán lại cho ông T7, M. Đất ruộng của ông T7, M thấp hơn đất vườn của
ông Lường Khánh H, sau đó ông T7 đổ đất bồi vào khu đất ruộng của ông T7
làm cho khu đất bằng phẳng mất bờ giáp ranh giữa hai thửa đất. Nhưng thực
tế đất của M, ông T7 phía bên trong không giáp mặt đường quốc lộ 3
phần đất tiếp giáp với đất của ông H, còn phía bên dưới cột mốc thì đất của bà
M, ông T7 vẫn giáp với mặt đường quốc lộ. Theo bà được chứng kiến thì khi đất
đang tranh chấp là của ông Lường Khánh H và bán lại cho bà Hoàng Thị N.
Ông Hà Minh T4 trình bày:Ông là người cùng C với N, bà M, không
có anh em họ hàng và không có mâu thuẫn gì với bà N, bà M.
Về nguồn gốc đất đang tranh chấp là đất của ông Lường Kim T6 (bố đẻ của
ông Lường Khánh H) canh tác sử dụng trồng rau, khoai lang, dọc theo rìa đường
quốc lộ 3. Năm 1993, năm 1994 ông T6 có thuê ông đào đất ở dưới mép cống để
đào thành cái ao, thả con giống, cái ao rộng khoảng 60 70 m
2
, lúc đó
thuê cả Văn B3 (hiện nay Y, P, Thái Nguyên) cùng đào đất. Sau đó anh
Lường Khánh H bán cho Hoàng Thị N. Nhưng khu đất tranh chấp đất của
gia đình ông T6 tiếp giáp với mặt đường quốc lộ 3 n đất của M, ông T7
đất ruộng phía dưới mua lại của ông B2. Còn cách đất của gia đình ông T6
khoảng 100m về phía dưới mới tiếp giáp mặt đường quốc lộ 3. Ông khẳng định
khu đất đang tranh chấp đất vườn của ông T6, ông H để trồng rau, thả cá…
không phải đất của bà M, ông T7.
Ông Ngô Tuấn Q1 nguyên là trưởng thôn Công Tum trình bày:
Ông không có quan hệ anh em họ hàng với bà N và bà M, cũng không phải
hàng xóm láng giềng, ông chngười cùng với N, M, không
8
thù oán gì. Nhưng trước đây ông thôn trưởng thôn C, C khu đất n
N thuộc thôn C (nay đã chuyển về sinh hoạt tại thôn N).
Ông làm trưởng thôn Công Tum giai đoạn năm 2001 đến năm 2004. Giai
đoạn ông làm trưởng thôn ông được biết chứng kiến xác thực sự việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lường Khánh H với Hoàng Thị
N vào năm 2004. Lúc đó ông H đã chuyển nhượng cho bà N phần đất nền nhà ở,
02 ao ngay đằng sau nhà dọc theo khe núi (hiện nay 02 ao nhà N đã
san lấp làm nhà trên đất). Ngoài ra, còn 01 cái ao nhỏ vườn đối diện
nền nhà bên đường Q. Trước khi bán cho N ông Lường Kim T6 (bố đẻ ông
Lường Khánh H) dùng để làm vườn, trồng màu, trồng rau một vài cây ăn
quả nhưng hiện nay đã bị lấp bằng phẳng. Về diện tích khi hai bên chuyển
nhượng thì ông không biết cụ thể, ông ch biết sự việc mua, bán chuyển
nhượng đất giấy chuyển nhượng đất ngày 22/8/2004 đúng sự thật. Ông
được biết nguồn gốc khu đất đang tranh chấp của ông Lường Kim T6 khai
phá để trồng rau, làm vườn, sau khi ông T6 chết để lại cho ông Lường Khánh H.
Sau đó ông H lên thành phố B sinh sống nên bán, chuyển nhượng cho N. Từ
sau khi chuyển nhượng đất bà N về Thái Nguyên sinh sống vài năm và khi quay
lại Cao K1 sinh sống thì M và ông C1 đã lấn sang làm khu đất vườn nên xảy
ra tranh chấp giữa hai bên suốt thời gian qua. Ông biết M, ông T7 đất
ruộng giáp về phía bờ sông, không tiếp giáp mặt đường. Thời điểm khi hai bên
chuyển nhượng đất cho nhau không tranh chấp, ông T6, ông H vẫn đang sử
dụng trồng rau, làm màu, thả con giống cho đến sau khi bán cho bà N thì
N chưa sử dụng ngay, rồi dần dần thấy bị san đất bằng phẳng như hiện nay.
- Những người làm chứng Thị N2, Nguyễn Thị Đ, bà Âu Thị T5,
Tạ Thị L trình bày:Các ông người cùng C với N bà M, không
có anh em họ hàng gì vớiN, bà M, không có mâu thuẫn, thù oán gì với hai bà
trên.Các ông chỉ biết tại khu vực đất tranh chấp bên dưới miệng cống lùi về
phía nhà M đang ở có 01 vũng nước, trước đây gia đình ông Lường Khánh H
canh tác, sử dụng.
- Lời khai của ông Văn M1 ngày 25/11/2025: Ông người cùng C
với N M, không anh em họ hàng gì với N, M, không mâu
thuẫn, thù oán với hai trên. Ông biết hiện nay giữa N M đang
tranh chấp đất với nhau. Nguồn gốc đất ông không nắm được, ông chỉ biết bên
dưới miệng cống lùi về phía nhà M đang 01 vũng nước trâu đầm, sau
này của ai ông không nắm được.
Ông Nguyễn Giang K trình bày: Ông người cùng C với N
M, không có anh em họ hàng gì với bà N, bà M, không có mâu thuẫn, thù oán gì
với hai trên. Cách đây không lâu ông mới biết giữa bà N M đang
tranh chấp đất với nhau, cụ thể như thế nào ông cũng không nắm được. Nguồn
9
gốc đất ông không nắm được, ông chỉ biết bên dưới miệng cống lùi về phía nhà
M đang 01 vũng nước trâu đầm, trước đây Hợp tác làm, sau đó
hợp tác xã tan rã thì không có ai làm. Sau có gia đình bà M bảo là ruộng của nhà
M nên bà M sang canh tác và làm đó, bà M nói lại là làm vườn, trồng màu,
trồng cây ăn quả. Đất tranh chấp là của ai ông không nắm được.
Bản án dân sự thẩm s 10/2025/DS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thái Nguyên đã căn cứ các Điều 26, khoản 1
Điều 34, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 244, Điều
271, Điều 273/Bộ luật ttụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản
1 Điều 31/Luật tố tụng hành chính; Điều 36, 38 /Luật đất đai năm 1993 (sửa đổi
bổ sung năm 1998 và năm 2001); Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày
30/11/2001 của T11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Thị N
về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị M phải trả lại đất và yêu cầu huỷ một phần Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nông Văn T7.
2. Buộc Nguyễn Thị M phải trả cho Hoàng Thị N 97,7m
2
đất, trong
đó 46,9 m
2
đất BHK (đất trồng cây hàng năm khác) 50,8m
2
đất DGT (đất
hành lang giao thông). Cụ thể như sau: Thửa số 1 (DGT) 50,8m
2
được giới hạn
bởi các mốc từ 1,2,3,4,5,15,16,17,1 thuộc thửa 19 tờ bản đồ số 8 loại đất (DGT)
đo đạc chỉnh năm 2014; thửa đất số 4 (BHK) 46,9m
2
được giới hạn bởi các
mốc t5,6,7,8,9,10,12,13,14,15,5 thuộc thửa 27 tờ bản đồ số 8 loại đất (BHK)
đo đạc chỉnh lý năm 2014 như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
03/4/2025 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (nay Toà án
nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên), có sơ đồ và phụ lục kèm theo.
3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của Hoàng Thị N đối với 0,3m
2
đất LUK
(đất trồng lúa) nằm trong thửa 26, tờ bản đồ số 08 do ông Nông Văn T1 đang
quản lý, sử dụng.
4. Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số ri Y363310
cấp ngày 13/11/2003 mang tên ông Nông Văn T7 thôn H, C, huyện C, tỉnh
Bắc Kạn (nay T, tỉnh Thái Nguyên) đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ 16,
diện tích 61m
2
.
Các bên đương sự quyền nghĩa vụ liên hệ với các quan thẩm
quyền để tiến hành làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
10
5. Về chi phí tố tụng: Hoàng Thị N tự nguyện chịu chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ 4.700.000
đ
(Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng). Xác nhận
Hoàng Thị N đã nộp đủ số tiền trên.
6. Về án phí: Buộc Nguyễn Thị M phải chịu 300.000
đ
(Ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sthẩm. Hoàn trả lại cho Hoàng Thị N 300.000
đ
(Ba
trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000080 ngày
23/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (nay
là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Thái Nguyên).
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo quyền yêu cầu thi
hành án cho các đương sự theo quy định ca pháp lut.
Ngày29/12/2025,bị đơn Nguyễn Thị M2 người quyền lợi, nghĩa v
liên quan anh Nông Văn T1 đơn kháng cáotoàn bbản án thẩm, đnghị
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ti phiên tòa phúc thm:
Bị đơn giữ nguyên nội dụng kháng cáo các nội dung đã trình bày tại
cấp sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận
một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, với các căn cứ:
+ Bản án thẩm xét x không công bằng, không khách quan, không
đánh giá đầy đủ chứng cứ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của bị đơn;
+ Đất tranh chấp nguồn gốc từ cha ông của bị đơn đlại, sau đó thực
hiện theo chính sách của Nhà nước đưa vào hợp tác xã, từ năm 1990 đến năm
1992 gia đình lại tiếp tục quản sử dụng và không tranh chấp. Năm 2002-
2003 ông Nông Văn T7 được cấp giấy CNQSD đất thửa 23 TBĐ số 6 là phù hợp
với các chứng cứ và lời khai của người làm chứng;
+ Mặt khác, văn bản số 894 năm 2025 của UBND T đã xác định giấy
CNQSD đất cấp năm 2003 cho ông T7 đúng pháp luật. Gia đình đã sử dụng
đất trồng lúa, cỏ voi, lạc…liên tục không gián đoạn, không có tranh chấp;
+ Một số lời khai của người làm chứng cho N smâu thuẫn nhau;
Đất là do ông cha để lại cho con cháu cả 100 năm nay, do vậy không nhất trí với
ý kiến trình bày của ông H về nguồn gốc đất là của bố ông H khai hoang.
Nguyên đơn không nhất trí với kháng cáo các căn cứ kháng cáo của bị
đơn về việc xác định nguồn gốc đất của ông cha để lại. Đất tranh chấp do
ông Lường Kim T6 (bố ông Lương Khánh H1) khai phá, ông T6 còn đào 01 ao
nhỏ bên cạnh để nuôi cá từ năm 1987-1988, sau đó ông T6 chuyển lên thành ph
B nên để lại cho ông H1. Năm 2001 ông H1 viết giấy giao kèo cho quản ,
đến năm 2004 mới viết giấy chuyển nhượng, giá chuyển nhượng 10 triệu
đồng, diện tích đất được nêu trong giấy. Gia đình đã được cấp giấy chứng
nhận QSD đất năm 2014. Riêng đối với 02 mảnh vườn giáp mặt đường QL3
11
chưa làm thủ tục cấp bìa do vướng mắc nằm trong hành lang đường giao thông.
Trước đó năm 2013 hai bên gia đình đã phát sinh tranh chấp do gia đình bà M đã
chất một số cây ăn quả của gia đình trồng trên đất. Sau tranh chấp cũng
không trồng gì trên đất. Năm 2021, gia đình bà M trồng toàn bộ cây keo trên đất,
do không hòa giải được nên bà khởi kiện ra Tòa.
Ông Lường Khánh H nhất trí với lời trình bày của N, không nhất trí
với ý kiến trình bày của phía M. Đất đang tranh chấp nằm trong phần diện
tích đất gia đình ông đã bán cho N năm 2004. Nguồn gốc toàn bộ diện tích
đất bán cho N do bđẻ ông tự khai hoang tnăm 1987. Phần đất vườn
nằm giáp đường QL3 và bằng với mặt đường, gia đình ông sử dụng trồng cây ăn
quả, đào 1 ao nhỏ nuôi cá, phía sau mảnh vườn một mương nhỏ rộng
khoảng 40cm dùng để tưới nước cho các ruộng lúa bên dưới. Phần đất ruộng của
nhà M nằm thấp hẳn xuống dước và ở phía sau cống. Năm 2003 khi mở rộng
làm đường, gia đình ông người được nhận tiền đền tại 02 mảnh vườn bán
cho N. Đất bán cho N mặt phía Nam giáp cột điện thoại của đoàn
392, phía Bắc giáp miệng cống; phía Đông giáp ruộng ông B2, mặt còn lại giáp
đường, không có mặt nào giáp đất ruộng nhà bà M.
Người làm chứng Đỗ Thị C2 do bị đơn mời chỉ xác định thấy gia đình
M người trực tiếp sử dụng đất đất ruộng của M từ sau cống trở vào,
không giáp đường QL.
Người làm chứng Thị T3: xác định lời trình bày của ông H đúng sự
thật về nguồn gốc đất, vị trí đất. Đất đang tranh chấp mãi sau này khi gia đình bà
M phá cây ăn quả do ông T6 trồng mới sử dụng.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Thái Nguyên phát biu:
- V s tuân theo pháp lut: Thm phán - Ch ta phiên tòa Hội đồng
xét xử, các đương sự t khi th lý vụán cho đến trưc khi nghịáã thc
hiúng các quy định ca B lut t tng dân s;
- Về quan điểm gii quyết vụán: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308
của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà M và anh T1, giữ
nguyên bản án dân sự thẩm số 10/2025/DS-STngày 15 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thái Nguyên;Đương sự phải chịu án phí phúc
thẩm theo quy định của pháp luật.
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa căn cứ vào kết qutranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
(HĐXX) nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bị đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo trong hạn
luật định, đã nộp tạm ứng án phí được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
12
[1.2] Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan những người làm
chứng đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần th2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa,
tuy nhiên đã lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, căn cứ Điều 296 của
Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người trên.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị M.
[2.1]. Xác định vị trí, diện tích đất tranh chấp: Tại biên bản xem xét, thẩm
định tại chỗ ngày 03/4/2025phần diện tích đang tranh chấp 98m
2
, trong đó
phần đất vườn (thửa số 1 - DGT) diện tích 50,8m
2
, phần đất ao (thửa số 4 -BHK)
diện tích 46,9m
2
, phần đất ao (thửa số 4 -LUK) có diện tích là 0,3m
2
.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc Nguyễn Thị M phải trả cho số
diện tích đất 97,7m
2
đất, trong đó 46,9 m
2
đất BHK (đất trồng cây hàng
năm khác) 50,8m
2
đất DGT (đất hành lang giao thông),rút 1 phần yêu cầu
khởi kiện đòi 0,3m
2
đất LUK (đất trồng lúa) nằm trong thửa 26, tờ bản đồ số 08
do ông Nông Văn T1 đang quản lý, sử dụng.
Tòa án cấp thẩm xác định diện tích đất tranh chấp 97,7m
2
như trên
giải quyết đối với diện tích đất này đúng thẩm quyền, phạm vi, yêu cầu khởi
kiện.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
[2.2]. Căn cứ theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ thì diện tích đất
tranh chấp có tứ cận: phía Bắc tiếp giáp đường quốc lộ 3; phía Tây tiếp giáp đất
của Nguyễn Thị M, hướng đi Nội; phía Nam tiếp giáp với ruộng
Nguyễn Thị M, hướng ra sông C; phía Đông tiếp giáp đường giao thông. Lời
khai của những người làm chứng trong vụ án gồm Thị T3, Vy Thị B4
(người bán đất cho gia đình bị đơn) ông Minh T4, ông Ngô Tuấn Q1, bà Hà
Thị N2, Nguyễn Thị Đ, Thị T5, Tạ Thị L đều khai nguồn gốc diện tích
đất tranh chấp là của gia đình ông Lường Khánh H canh tác sử dụng từ những
năm 1990. Người làm chứng ông Nguyễn Giang K, ông Văn M1 mặc
không nắm được đất tranh chấp của ai nhưng đều khai hiện trạng vị trí đất tranh
chấp phù hợp với vị trí, hiện trạng đất như lời khai của những người làm chứng
khác phù hợp với hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông Lường Khánh H
khai hoang sử dụng từ những năm 1990.
Theo hồ thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước mở
rộng đường Quốc lộ 3 thể hiện thu hồi của ông H 36m
2
đất màu số 731 ngày
07 tháng 5 năm 2003 của UBND tỉnh B.
Ông Triệu Văn N1 cán bộ địa chính C giai đoạn 2001 đến
31/10/2016 khai: khoảng năm 2004 ông biết sự việc ông Lường Khánh H
chuyển nhượng đất cho Hoàng Thị N ông được xác nhận vào giấy
chuyển nhượng đất giữa hai bên, xác nhận nội dung chuyển nhượng đúng sự
thật. Trong diện tích đất chuyển nhượng có 01 ao nhỏ tiếp giáp miệng cống. Tại
13
thời điểm mua bán gia đình ông Lường Khánh H vẫn đang canh tác sử dụng,
không tranh chấp với ai. Còn ông Ngô Tuấn Q1 trưởng thôn Công Tum giai
đoạn giai đoạn năm 2001 đến năm 2004 khai: giai đoạn ông làm trưởng thôn
ông được biết chứng kiến xác thực sự việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông Lường Khánh H với Hoàng Thị N vào năm 2004. Lúc đó ông H
đã chuyển nhượng cho bà N phần đất nền nở, 02 ao ngay đằng sau nhà
dọc theo khe núi (hiện nay 02 ao nhà N đã san lấp làm nhà trên đất).
Ngoài ra, còn 01 cái ao nhỏ vườn ở đối diện nền nhà bên đường Q, trước
khi bán cho N ông Lường Kim T6 (bố đẻ ông Lường Khánh H) dùng để làm
vườn, trồng màu, trồng rau và có một vài cây ăn quả. Lời khai của những người
này phù hợp với lời khai của ông Lường Khánh H tại biên bản lấy lời khai trong
hồ tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay về nguồn gốc đất, vị trí đất chuyển
nhượng, thời gian chuyển nhượng đất với bà Hoàng Thị N; phù hợp với lời khai
của những người làm chứng khác các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án,
đủ căn của xác định diện tích đất tranh chấp nguồn gốc của gia đình ông
Lường Khánh H sử dụng tnhững năm 1990, đến năm 2004 thì chuyển nhượng
cho nguyên đơn bà Hoàng Thị N. Bị đơn khai đất tranh chấp do ông cha để lại từ
100 năm nay và được gia đình canh tác và quản lý liên tục từ khi hợp tác xã T10
(khoảng năm 1990) đến nay là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3]. Xem xét tính hợp pháp của Giấy CNQSDĐ của ông Nông Văn T7:
Nguyễn Thị M cho rằng khu đất đang tranh chấp gia đình đã được
cấp GCNQSDĐ, tuy nhiên bà không cung cấp cho Toà án GCNQSDĐ trên. Toà
án đã yêu cầu UBND huyện C cung cấp hồ cấp đất cho hộ ông Nông Văn T7
(chồng M). UBND huyện chỉ cung cấp được Tờ trình v/v phê duyệt cấp
GCNQSDĐ của Phòng Kinh tế hạ tầng nông thôn Quyết định của U phê
duyệt cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình nhân tại xã C, trong danh sách chủ sử
dụng đất được cấp GCNQSDĐ tên ông Nông Văn T7 gồm các thửa: 18, 19,
20, 21, 23, 264, 73.
Quá trình giải quyết vụ án, UBND xã C (nay là xã T) có ý kiến: Đất đang
tranh chấp thuộc thửa số 23, tờ bản đồ số 16, diện tích 61m
2
, mục đích sử dụng
đất 1 lúa (LUK), thời hạn sdụng đến năm 2014, ông Nông Văn T7 đã được
cấp GCNQSDĐ theo Quyết định số 2035/11/2003 của UBND huyện C số ri
Y363310 chưa làm thủ tục cấp đổi, chưa làm thủ tục thu hồi giấy CNQSDĐ số
Y363310 mang tên ông Nông Văn T7 thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Hồ
lưu trữ của cũng không tìm thấy giấy CNQSDĐ trên.Đối với thửa đất số
23, tờ bản đồ 16, diện tích 61m
2
chỉ nằm 1 phần trong thửa số 27, tờ bản đồ số 8
(Theo bản đồ địa chính C năm 2014) là 53,9 m
2
.Khi đo đạc bản đồ địa chính
2013 đơn vđo đạc chưa lồng ghép với bản đồ cấp giấy năm 2002; Quá trình
thẩm định nghiệm thu bản đồ tại thời điểm đó (2014) chưa phát hiện sai sót dẫn
14
đến sai về diện tích chủ sử dụng đất, hình thể thửa đất.Do thửa đất trên tranh
chấp kéo dài qua nhiều giai đoạn, mặt khác do vấn đề lịch sử để lại, tại thời
điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số ri Y363310 cho ông Nông
Văn T7 do khai chưa đúng người sử dụng, chưa đúng đối tượng, quá trình
kiểm tra thực tế của cán bộ địa chính thời điểm đó không được kỹ nên dẫn đến
việc khai sai về hình thể, diện tích…Nên đề nghị huỷ một phần Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất sri Y363310 đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ 16,
diện tích 61m
2
, địa chỉ tại thôn N, C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn ông ng
Văn T7 đã được cấp GCNQSDĐ ngày 13/11/2003. Đồng thời giải thích để 2 hộ
thống nhất lại ranh giới để đo đạc, chỉnh lý sơ đồ sau đó UBND xã hướng dẫn 2
hộ gia đình làm hồ sơ cấp giấy theo hiện trạng.
Căn cứ Thông 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục
Địa chính V/v hướng dẫn đăng đất đai lập hồ địa chính và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất để cấp GCNQSDĐ thì hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất
phải có: Đơn xin đăng quyền sdụng đất; biên bản xác nhận ranh giới, mốc
giới thửa đất sử dụng; UBND cấp xã có trách nhiệm thẩm tra hiện trạng sử dụng
đất: Tên người sdụng đất, vị trí, diện tích, loại đất ranh giới sử dụng đất,
nguồn gốc sử dụng đất…Đối chiếu với quy định trên thì khi ông Nông Văn T7
kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì UBND xã C phải có trách nhiệm thẩm tra
tên người sử dụng đất, vị trí, diện tích, loại đất ranh giới sử dụng đất, nguồn
gốc sử dụng đất. Tuy nhiên theo ông Triệu Văn N1 là cán bộ địa chính thời điểm
đó thì năm 2002 dự án cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp đại trà),
các hộ tiến hành tự khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó
tiến hành đo đạc (Đoàn đo đạc của dự án, không có các hộ giáp ranh đi
cùng), sau khi đo đại trà xong không tiến hành kiểm tra thực địa từng thửa đất
chỉ họp xét công khai. Như vậy chính quyền chưa thực hiện đúng theo
quy định. Mặt khác khi cấp GCNQSDĐ cho ông Nông Văn T7 thửa số 23, tờ
bản đồ số 16, diện tích 61m
2
, mục đích sử dụng đất 1 lúa (LUK), nhưng đối
chiếu với bản đồ địa chính năm 2014 thì thửa đất trên là đất trồng cây hàng năm
(BHK) và quy chủ là UBND xã quản lý.
Căn Thông số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 hướng dẫn thủ tục
đăng đất đai, lập hồ địa chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Thông liên tịch số 1442/1999/TTLT-TCĐC-BTC ngày 21/9/1999 hướng
dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo chỉ thị số 18/1999/CT-TTG
ngày 01/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ, quy định như sau:" ...Hội đồng xét
đơn kê khai của từng chủ sử dụng đất đến từng thửa đất để xác nhận về các mặt:
Xác định spháp về quyền sử dụng trên từng thửa đất đã đăng ký; đánh
giá hiện trạng sử dụng đất về các mặt diện tích, mục đích sử dụng, thời điểm sử
dụng, thời hạn sử dụng…".
15
Như đã phân tích trên, phần đất tranh chấp nguồn gốc gia đình ông
Lường Khánh H khai phá sdụng từ trước những năm 1990, đến năm 2004 thì
chuyển nhượng lại cho nguyên đơn Hoàng Thị N. Do vậy, có đủ sở khẳng
định việc cấp GCNQSDĐ cho ông Nông Văn T7 đối với thửa đất số 23, tờ bản
đồ 16, diện tích 61m
2
là không đúng đối tượng và mục đích sử dụng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:
Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp
luật của quan, tổ chức, người thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết…"
Đối chiếu với quy định của pháp luật nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị N huỷ một phần Giấy CNQSDĐ số
Y363310 cấp ngày 13/11/2003 mang tên ông Nông Văn T7 thôn H, C,
huyện C, tỉnh Bắc Kạn đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ 16, diện tích 61m
2
là có
căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2.4]. Xét việc t 1 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu
bị đơn trả lại diện tích 0,3m
2
đất LUK ất trồng lúa) nằm trong thửa 26, tờ bản
đồ số 08 do ông Nông Văn T1 đang quản lý, sử dụng. HĐXX xét thấy việc rút
một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoàn toàn tự nguyện, Tòa án cấp
thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là căn
cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên căn cứ Điều 218 của Bộ luật tố tụng
dân sự, hậu quả của việc đình chỉnh giải quyết vụ án trong trường hợp này
đương sự quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án. Tòa án cấp sơ
thẩm tuyên đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn nhưng không tuyên hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án thiếu sót,
cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[3] Từ những căn cứ nhận định nêu trên HĐXX xét thấy Tòa án cấp
thẩm đã xem xét đánh giá đầy đủ các tài liệu chứng cứ trong hồ ván
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đúng quy định của
pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, những người kháng cáo không nộp được tài
liệu chứng cứ mới làm căn cứ kháng cáo. Các đơn xác nhận của những người
làm chứng do bị đơn thu thập và nộp tại phiên tòa hôm nay chỉ xác định được về
việc họ thấy gia đình bị đơn (bà M) sử dụng đất, không lời chứng nào về
đất đang tranh chấp nguồn gốc của bị đơn. Do vậy, kháng cáo của M, anh
T1 là không có căn cứ để chấp nhận, cần bác toàn bộ kháng cáo, giữ nguyên bản
án sơ thẩm. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên là có
căn cứ, được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận,
HĐXX giữ nguyên bản án thẩm nên b đơn phải chịu 300.000đ (Ba trăm
16
nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYT ĐNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án p
và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị M người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn T1, giữ nguyên bản án thẩm số
10/2025/DS-ST ngày 15/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thái Nguyên
2.Về án phí:
2.1. Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)tiềnán
phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000061 ngày 07/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Anh Nông Văn T1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000062 ngày 07/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7a, 7b Điều 9 Luật thi hành án
dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi
hành án dân sự.
3.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 6 - Thái Nguyên;
- Phòng THADS khu vực 6- Thái
Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thủy
17
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 66/2026/DS-PT Bản án số 66/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 66/2026/DS-PT Bản án số 66/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất