Bản án số 63/2026/HS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 63/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 63/2026/HS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên
Tội danh: 172.Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 63/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo T khai thác cát sông trái phép
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 63/2026/HS-PT Bản án số 63/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 63/2026/HS-PT Bản án số 63/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 63/2026/HS-PT
Ngày: 26 - 5 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Dung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Nguyễn Văn Dũng
- Thư phiên tòa: Dương Thị Thu Nguyệt Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 64/2026/TLPT-HS
ngày 20 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo Cao Hoàng T do kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự thẩm số: 14/2026/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Cao Hoàng T, sinh ngày 15/02/1990, tại tỉnh Vĩnh Long.
Nơi trú: ấp T, T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ
học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Cao Văn T1 và bà Nguyễn Thị K; vợ Nguyễn Thị Hồng N (đã ly
hôn), có 01 người con sinh năm 2014. Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự (ngày 01/11/2024 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện M, tỉnh Bến Tre (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng
hình thức phạt tiền với số tiền 50.000.000 đồng về hành vi khai thác cát sông
không giấy phép khai thác khoáng sản của quan nhà nước thẩm
quyền theo Quyết định số 4821/QĐ-XPHC, đã nộp phạt xong.
Nhân thân:
- Ngày 30/12/2019 bị Công an tỉnh B (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm
hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 3.000.000 đồng về hành vi khai
2
thác cát sông không giấy phép khai thác khoáng sản của quan nhà
nước có thẩm quyền theo Quyết định số 02/QĐ-XPHC, đã nộp phạt xong.
- Ngày 29/3/2021 bị Công an huyện M, tỉnh Bến Tre (cũ) ra quyết định x
phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 20.331.150 đồng
về hành vi khai thác cát sông không giấy phép khai thác khoáng sản của
quan nhà nước thẩm quyền theo Quyết định số 62/QĐ-XPHC, chưa nộp
phạt, tuy nhiên đã hết thời hiệu thi hành mà không bị cưỡng chế thi hành.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú, mặt tại
phiên tòa.
Ngoài ra, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không
kháng cáo, không bị kháng nghị hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng
nghị, tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 28 tháng 6 năm 2025, Trần Văn Tấn N1 (sinh
năm 1987, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, nay là khu phố T, phường
B, tỉnh Vĩnh Long) điện thoại cho Cao Hoàng T để thuê T bơm hút cát trái phép
với giá 600.000 đồng/01chuyến/01đêm. Đến khoảng 22 giờ ngày 29/6/2025, T
đi đến khu vực ghe gỗ đậu ở bến gần cầu H (cách cầu H khoảng 0,5km về hướng
hạ nguồn) cùng với N1 đi khai thác cát trái phép. Nhạn điều khiển ghe gỗ v
hướng hạ nguồn trên sông H từ vàm Cái Cấm đến vàm Nước Trong thuộc thủy
phận T, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay T, tỉnh Vĩnh Long) thì T thđầu
hút (còn gọi đầu rùa) xuống lòng sông, mồi nước khởi động hệ thống máy
bơm t cát rồi cả hai vừa chạy vừa hút cát lên khoang ghe gỗ. Đến khoảng 01
giờ ngày 30/6/2025, sau khi đã bơm hút cát đầy ghe, N1 điều khiển ghe gỗ vào
khu vực vàm Cái Cấm một đoạn thì bị Công an tỉnh B (nay Công an tỉnh V)
yêu cầu dừng phương tiện, kiểm tra lập biên bản với khối lượng cát đã khai
thác trái phép 54,656m
3
. Sau đó, Công an tỉnh B yêu cầu T và N1 điều khiển
phương tiện quay trở lại để xác định vị trí đã khai thác cát trái phép.
Theo Công văn số: 2972/SNN-&MT-TNKS ngày 10/10/2025 của Sở
Nông nghiệp Môi trường tỉnh V xác định vị trí tọa độ X: 1127147, Y:
566200 (theo hệ tọa độ V - 2000, kinh tuyến trục 105
0
45’ múi chiếu 3 độ) thuộc
tuyến sông H, T, tỉnh Vĩnh Long. Hiện tại vị trí tọa độ trên, Ủy ban nhân dân
tỉnh B (cũ) Ủy ban nhân dân tỉnh V (mới) không cấp phép khai thác khoáng
sản cho tổ chức, cá nhân.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 449/KL-HĐĐGTS ngày 20/11/2025 của
3
Hội đồng định giá tài sản tỉnh Vĩnh Long kết luận: Khối lượng 54,656m
3
cát
sông (vật liệu xây dựng thông thường để sang lấp), trị giá là 3.607.296 đồng.
Kết luận giám định pháp của C thuộc Sở Nông nghiệp Môi trường
tỉnh V ngày 11/12/2025 kết luận: Mẫu cát sông hiệu KS1-30/06/2025 được
quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V gửi giám định được xác định
khoáng sản.
Quá trình điều tra, Cao Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập
được.
Tại Bản án hình sự thẩm số: 14/2026/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Vĩnh Long đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Cao Hoàng T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài
nguyên”.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Hoàng T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tính từ ngày bị cáo tnguyện chấp hành hình phạt hoặc từ ngày bắt bị
cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về xử vật chứng, án phí
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19 tháng 3 năm 2026, bị cáo Cao Hoàng T đơn kháng cáo với nội
dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo T giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt bị cáo lao động chính trong gia đình, bị cáo phải nuôi cha mẹ già
con nhỏ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Cao Hoàng T. Giữ nguyên
Bản án thẩm số: 14/2026/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 6-Vĩnh Long.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Cao Hoàng T 09 (chín) tháng tù, vtội “Vi phạm quy định
về khai thác tài nguyên”. Thời hạn của bcáo tính từ ngày bcáo bị bắt đi
chấp hành án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
4
Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý
kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Cao Hoàng T nộp trong hạn luật định hợp
lệ, phù hợp quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp
nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Lời khai của bị cáo T tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp lời khai của bị
cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại quan điều tra phù hợp với lời khai của người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; cùng các tài liệu, chứng cứ khác
trong hồ ván thể hiện: Bị cáo Cao Hoàng T người đã bị xử phạt vi phạm
hành chính v hành vi khai thác cát sông mà không giấy phép khai thác
khoáng sản của quan nhà nước thẩm quyền với stiền 50.000.000 đồng
theo Quyết định số 4821/QĐ-XPHC ngày 01/11/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân huyện M, tỉnh Bến Tre (cũ), chưa hết thời hạn được coi chưa bị xử vi
phạm hành chính nhưng vào đêm 29/6/2025 rạng sáng ngày 30/6/2025 tại tuyến
sông H thuộc thủy phận T, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay T, tỉnh Vĩnh
Long), bị cáo T Trần Văn T2 Nhạn tiếp tục thực hiện hành vi bơm hút cát từ
lòng sông lên khoang chứa của phương tiện thủy (ghe gỗ) trang bị hệ thống
bơm hút cát, khối lượng cát đã khai thác 54,656m³, qua giám định khoáng
sản có giá trị 3.607.296 đồng.
Do đó, Toà án cấp thẩm xét xử bị cáo Cao Hoàng T phạm tội “Vi phạm
quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227
của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp
xâm phạm đến quyền quản nhà nước về tài nguyên khoáng sản, gây ảnh
hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương. Bị cáo đã nhiều lần bị
xử phạt hành chính về hành vi khai thác cát sông trái phép nhưng bị cáo vẫn tiếp
tục thực hiện hành vi, thể hiện bị cáo xem thường sự trừng phạt của pháp luật.
vậy, đối với bị cáo cần phải xử nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ
nguy hiểm về hành vi của bị cáo, nhằm giáo dục riêng bị cáo trở thành công dân
hữu ích và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận
thấy: Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét
đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã áp dụng đầy đủ
các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần
5
đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều
51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm cũng đã
xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo, do bị cáo lao động chính, hoàn cảnh gia
đình khó khăn để áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự cho bị cáo. Xét thấy mức án 09 tháng tương xứng với hành vi
phạm tội của bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm
bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Xét kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt của bị cáo không căn cứ để chấp nhận. vậy giữ nguyên
hình phạt của bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quy định
pháp luật và nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Bị cáo Cao Hoàng T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định
của pháp luật.
[7] Các Quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Hoàng Trung
Giữ nguyên Bản án hình sự thẩm số 14/2026/HS-ST ngày 10 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long.
2. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 của Bộ luật Hình snăm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, năm
2025.
Xử phạt bị cáo Cao Hoàng T 09 (chín) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định
về khai thác tài nguyên”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình skhoản
2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định vmức
thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Cao Hoàng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án
phí hình sự phúc thẩm.
4. Các Quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
6
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT I -TANDTC: 01;
- VKSNDTC (Vụ 7): 01;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long: 01;
- TAND khu vực 6-Vĩnh Long: 02;
- VKSND khu vực 6-Vĩnh Long: 01;
- Phòng THADS khu vực 6-Vĩnh Long: 01;
- Bị cáo: 01;
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long: 01;
- Công an xã Tân Thành Bình: 01;
- Lưu Văn phòng: 01;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA tỉnh Vĩnh Long: 01;
- Lưu hồ sơ vụ án: 02.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Võ Thị Mỹ Dung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 63/2026/HS-PT Bản án số 63/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 63/2026/HS-PT Bản án số 63/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất