Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 30/12/2024 của TAND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 66/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 30/12/2024 của TAND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Gia Lộc (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 66/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/12/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ng - nguyễn Văn Th
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/12/2024
V/v: Ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Khánh Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân: Lê Thị Thanh Vân, bà Nguyễn Thị Tươi.
- Thư ký phiên toà: Đoàn Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên
toà: Bà Trần Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 30/12/2024, tại phòng xét xử, Toà án nhân dân thành phố Hải Dương,
tỉnh Hải Dương xét xử thẩm, công khai v án dân sự thụ số
649/2024/TLST-HNGĐ ngày 31/10/2024 về Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử s 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/12/2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1982; Nơi ĐKHKTT
trú tại: Thôn An Khoái, Tứ Cường, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
(Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1977; Nơi ĐKHKTT: Khu 4,
phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Hiện đang chấp
hành án tại Phân trại 1 - Trại giam Hoàng Tiến Cục C10 - Bộ Công an. (Vắng
mặt, đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Ng thể
hiện: Chị anh Nguyễn Văn Th tự do tìm hiểu, anh chị cùng tự nguyện đăng
ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 06/01/2003.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống vui vẻ với nhau đến năm 2012 thì phát sinh mâu
thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng làm ăn kinh tế khó khăn dẫn đến
nợ nần, thu nhập không ổn định, cuộc sống sinh hoạt hàng ngày không đảm bảo.
Đến năm 2013, anh Th phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bị Tòa
án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt hơn 20 năm , hiện anh Th đang chấp
hành án tại Trại giam Hoàng Tiến Cục C10 Bộ công an. Sau khi anh Th đi
chấp hành án, tình cảm vợ chồng phai nhạt, chị Ng cùng con đã về nhà bố mẹ đẻ
2
tại Tứ Cường, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương sinh sống. Xác định tình
cảm vợ chồng không còn, vì vậy, chị đề nghị được ly hôn anh Thành.
Lời khai của bị đơn - anh Nguyễn Văn Th thể hiện: Anh xác định việc đăng
kết hôn như chị Ng trình bày đúng. Sau khi kết hôn, anh chị Ngoan
sống hạnh phúc khoảng 10 năm, đến năm 2013, anh vi phạm pháp luật và bị Tòa
án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 30 năm . Trong khoảng thời gian anh
chấp hành án tại Trại giam Hoàng Tiến Cục C10 Bộ công an, chị Ngoan
thỉnh thoảng có đến thăm anh. Tuy nhiên, khoảng 05 năm nay, chị Ngoan không
còn tới trại giam thăm anh nữa. Nay, chị Ngoan làm đơn đề nghị Tòa án thành
phố Hải Dương giải quyết cho chị Ng ly hôn với anh, anh nhận thấy chị Ng vẫn
còn tình cảm với anh nên không đồng ý ly hôn. Nếu chị Ngoan kiên quyết ly
hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật không biện
pháp nào để níu kéo chị Ngoan do anh đang chấp hành án tại Trại giam Hoàng
Tiến – Bộ Công an.
Về con chung: Chị Ng anh Th một con chung Nguyễn Văn Hoàng
A, sinh ngày 29/5/2006, hiện cháu Hoàng Ađã trên 18 tuổi, chị Ngoan và anh Th
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Ng anh Th không
yêu cầu giải quyết.
Qua lời khai của bà Nguyễn Thị Ng là mẹ đẻ của chị Ng thể hiện: mẹ
đẻ của chị Ng, anh Th con rể của , anh Th chị Ng đăng kết hôn
năm 2003 tại Ủy ban nhân dân P, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn,
chị Ng và anh Th sống ở nhà riêng tại khu 4, phường Thanh Bình, thành phố Hải
Dương, tỉnh Hải Dương. Thời điểm trước khi anh Th bị bắt giam, chị Ng vài
lần chia sẻ với bà rằng có xảy ra va chạm với anh Th, không thể sống chung với
anh Th được nữa. Khoảng tháng 8, tháng 9 năm 2013, sau khi anh Th bị bắt
giam và đi chấp hành án, chị Ng đưa cháu Hoàng A về nhà tại Tứ Cường,
huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương sinh sống. Kể từ thời điểm đi chấp hành án,
thỉnh thoảng anh Th liên lạc vcho chị Ng gia đình để hỏi thăm sức
khỏe tình hình gia đình. Khoảng 05 - 06 năm nay, anh Th không còn liên lạc
về nữa. Nay, chị Ng làm đơn xin ly hôn với anh Th, do anh chị không còn quan
tâm đến nhau nữa, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Ng ly hôn với anh Th.
Qua xác minh, đại diện Trại giam Hoàng Tiến Bộ Công an cung cấp:
Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1977, nơi đăng thường trú: Phường Thanh
Bình, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương phạm tội Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản, ngày bắt 25/3/2013, án phạt 30 năm, hiện đang chấp hành án
tại Trại giam Hoàng Tiến – Cục C10 – Bộ Công an.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham
gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình
3
giải quyết vụ án, quan điểm về việc giải quyết vụ án. Xác định Tòa án nhân dân
thành phố Hải Dương thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng thời hạn tố
tụng, trong quá trình giải quyết xét xử tại phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự tố
tụng. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về đường lối
giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 8, 9, 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm
2014, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật T tụng dân sự; Luật phí
lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ng.
Xử cho chị Nguyễn Thị Ng ly hôn anh Nguyễn Văn Th. Về án phí: Chị Nguyễn
Thị Ng phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm ly n, được đối trừ số tiền tạm
ứng án p đã nộp 300.000đồng theo Biên lai thu số 0000831 ngày
31/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải
Dương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét
tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, quan
điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về ttụng: Chị Nguyễn Thị Ng khởi kiện về việc ly hôn với bị đơn
anh Nguyễn Văn Th, đăng ký thường t tại: khu 4, phường Thanh Bình,
thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Do đó vụ án được Tòa án nhân dân
thành phố Hải Dương thụ giải quyết đúng thẩm quyền, xác định quan hệ
tranh chấp là “Ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Ng, anh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Chị Ng anh Th vắng
mặt, chị Ng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Thành ý kiến đề nghị xét xử
vắng mặt tại biên bản giao nhận của Trại giam Hoàng Tiến. Căn cứ khoản 1
Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử ván
theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ng và anh
Nguyễn Văn Th tự nguyện, đăng kết hôn tại quan nhà nước có thẩm
quyền (Ủy ban nhân dân P, huyện T, tỉnh Hải Dương), đăng kết hôn theo
đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của chị Ng anh Th là hợp
pháp kể từ ngày đăng ký kết hôn (ngày 06/01/2003). Qua lời khai của đương s,
thấy: Thời điểm sống chung, chị Ng và anh Th đã có mâu thuẫn, xảy ra va chạm
với nhau. Năm 2013, anh Th phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản,
bị Tòa án xử phạt 30 năm giam. Ktừ năm 2019 đến nay, chị Ng anh Th
4
không còn liên lạc, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị Ng xin ly
hôn, anh Th không nhất tly hôn, anh không biện pháp nào để níu kéo ch
Ng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Quá trình giải quyết,
Tòa án đã tổ chức hòa giải, phân tích động viên cả hai bên nhưng không kết
quả. Tại phiên tòa xét xử thẩm, chị Ng đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đ
nghị được giữ nguyên quan điểm đã trình bày trong quá trình m việc với Tòa
án, anh Th ý kiến xin xét xử vắng mặt tại biên bản giao nhận của Trại giam
Hoàng Tiến. Qua đó cho thấy hôn nhân giữa chị Ng và anh Th không còn hạnh
phúc, không còn sự quan tâm, chia sẻ, không còn tình cảm vợ chồng với nhau,
cuộc sống chung của anh chị không thể hàn gắn, đoàn tụ, mục đích hôn nhân
không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị Ng, xử cho chị Ng
được ly hôn anh Th là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về nuôi con chung: Chị Ng anh Th một con chung là Nguyễn
Văn Hoàng A, sinh ngày 29/5/2006, cháu Hoàng Anh đã trên 18 tuổi, các đương
sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Ng anh Th
không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án p dân sự sơ thẩm (ly hôn).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 1 Điều 28;
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1
Điều 228, Điều 271 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Th
Ng.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị Ng ly hôn anh Nguyễn Văn
Th.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000đồng án phí dân sự
thẩm (ly hôn), được đối trừ vào số tiền 300.000đồng chị đã nộp theo Biên lai thu
số 0000831 ngày 31/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải
Dương, tỉnh Hải Dương. Chị Ng đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Ng anh Nguyễn Văn Th
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc
ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Tp. Hải Dương;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
5
- Chi cục THADS Tp. Hải Dương;
- UBND Phạm Kha, huyện Thanh Miện,
tỉnh Hải Dương để ghi vào s hộ tịch;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Phạm Thị Khánh Thiện
Tải về
Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất